Đánh giá ảnh hưởng của dịch trích của nấm
Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. đối với tuyến
trùng Meloidogyne sp.
Hiệu quả gây chết tuyến trùng (Bảng 3) của
dịch trích Trichoderma sp., Paecilomyces sp. hay
nghiệm thức phối trộn 50% Trichoderma sp. + 50%
Paecilomyces sp. rất nhanh và không có khác biệt có
ý nghĩa thống kê giữa 3 nghiệm thức. Sau 72 giờ xử
lý, tuyến trùng ở 3 nghiệm thức chết 100%, điều này
chứng tỏ 2 chủng nấm tiết ra độc tố hoặc hệ enzyme
có khả năng giết chết tuyến trùng nhanh chóng.
Kết quả thí nghiệm hoàn toàn phù hợp với kết
quả của Trần Thị Kiều Lâm (2010) ghi nhận dịch
trích của bốn dòng nấm P. lilacinus, Paecilomyces sp.
(1), Paecilomyces sp. (2), Paecilomyces sp. (TH) có
hiệu quả làm chết 99% ấu trùng sau 48 giờ thí
nghiệm, đối với nấm Trichoderma sp. là 99% ấu
trùng sau 72 giờ.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
- Nấm Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. có
khả năng ký sinh trứng và tuyến trùng cái cao với
tỉ lệ trứng tuyến trùng và tuyến trùng cái bị ký sinh
ở nghiệm thức Trichoderma sp. lần lượt là 89,6% ở
7NSC và 100% ở 2NSC; nghiệm thức Paecilomyces sp.
lần lượt là 95,7% ở 7NSC và 96,7% ở 5NSC.
- Hiệu quả gây chết tuyến trùng của dịch trích
nấm ở nghiệm thức Trichoderma sp., Paecilomyces sp.
và nghiệm thức phối trộn 50% Trichoderma sp.
+ 50% Paecilomyces sp. lần lượt là 95,2%, 95,0% và
96,5% ở 48GSXL và tuyến trùng ở 3 nghiệm thức
chết 100% sau 72 giờ xử lý.
- Tiếp tục nghiên cứu hiệu quả phòng trừ tuyến
trùng của nấm Trichoderma sp. và Paecilomyces sp.
ở quy mô ngoài đồng ruộng.
- Thực hiện định danh các chủng nấm
Trichoderma sp. và Paecilomyces sp.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sự ký sinh của nấm trichoderma, paecilomyces trên tuyến trùng gây bướu rễ cây tiêu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
73
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(110)/2020
S. L, Shu, S.Y, Lai, Yi-Lu Jiang and Jyh-Nong Tsai,
2015. Pathogen identification and management of
pitaya canker and soft rot in Taiwan. In International
workshop proceedings “Improving pitaya production
and marketing”, 7-9 September 2015, Fengshan,
Kaohsiung, Taiwan.
Hieu, Nguyen Thanh and Hoa, Nguyen Van, 2015.
Management strategies of major pitaya diseases in
Vietnam. Workshop on Improving pitaya production
and marketing”, Kaohsiung, Taiwan, 7-9 Sep 2015.
Mizrahi, Y., Nerd, A. and Nobel, P. S., 1997. Cacti as
crops. Hort. Rev. 18: 291-319.
Schaffer, B., Gaye, G.O., 1989. Gas exchange,
chlorophyll and nitrogen content of mango leaves
as influenced by light environment. HortScience 24,
507-509.
Yunus, N., 1992. Effect of intensity of training and
pruning on growth, yield, and quality of guava var.
JP 1. ISHS Acta Horticulturae 322: I International
Symposium on Training and Pruning of Fruit Trees.
Effect of various degree of pruning on plant growth,
yield and controlling of canker disease of dragon fruit crop
Ngo Thi Kim Thanh, Nguyen Ngoc Anh Thu, Nguyen Thanh Hieu
Abstract
Dragon fruit (Hylocerus undatus) is one of most importance tropical crop in southern part of Vietnam. Mop top
(concrete post) is known as traditional production system which associates to many inherent issues to industry
such as old unproductive cladodes and support instability, management constraints, providing a haven for pests
and diseases, poor quality fruit, etc. The Mop Top plant structure itself presents challenges for orchard hygiene and
poorly management is leading to significant pest and disease problems, particularly canker disease (Neoscytalidium
dimidiatum). This newly emerge disease could quickly spread in wet season and heavily infection orchard could
reduce plant growth, marketable production and highly level of fungicide residue is lead to food safety due to
intensive chemicals and in-appropriate applications of chemicals. The result showed that canopy pruning on Mop
top system ranging from 30 to 60% could support to form new vegetative shoots (3.8 - 11.5 shoots/concrete post)
and to reduce disease incidence and disease severity on cladode and fruit as compared to control (un-pruned).
Moreover, treatments of pruning were significantly increased the number of flowers by 11.5 to 12.6% per concrete
post; the number of fruit per concrete post by 4.4 - 7.8 fruits and the yield per treatment by 9.14 - 31.56 kg, respectively.
Keyworks: Pruning, dragon fruit, canker disease, Neoscytalidium dimidiatum
Ngày nhận bài: 9/10/2019
Ngày phản biện: 27/10/2019
Người phản biện: TS. Nguyễn Thị Nhung
Ngày duyệt đăng: 8/11/2019
1 Khoa Nông Nghiệp và Tài nguyên Thiên nhiên, Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
2 Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất Sản phẩm Sinh học, Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời
SỰ KÝ SINH CỦA NẤM Trichoderma, Paecilomyces
TRÊN TUYẾN TRÙNG GÂY BƯỚU RỄ CÂY TIÊU
Trương Thị Ngọc Hân1,2, Văng Thị Tuyết Loan1,
Lý Lan Phương1, Nguyễn Thị Thanh Xuân1
TÓM TẮT
Nghiên cứu sự ký sinh của nấm Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. (mật số 1 ˟ 108 bào tử/ml) trên tuyến
trùng gây bướu rễ cây tiêu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng ký sinh (1) trứng tuyến trùng Meloidogyne sp.;
(2) tuyến trùng cái Meloidogyne sp; (3) ảnh hưởng của dịch trích nấm Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. đối với
tuyến trùng. Kết quả cho thấy Trichoderma sp. ký sinh trứng 89,6% ở 7 ngày sau chủng (NSC) và tuyến trùng cái
bị ký sinh 100% ở 2NSC. Paecilomyces sp. ký sinh trứng tuyến trùng 95,7% ở 7NSC và tuyến trùng cái bị ký sinh
96,7% ở 5NSC. Hiệu quả gây chết tuyến trùng của dịch trích nấm Trichoderma sp., Paecilomyces sp. và phối trộn 50%
Trichoderma sp. + 50% Paecilomyces sp. cao lần lượt là 95,2%, 95,0% và 96,5% ở 48 giờ sau xử lý (GSXL), tuyến trùng
chết 100% sau 72 GSXL. Nghiên cứu cho thấy Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. có tiềm năng như tác nhân sinh
học phòng trừ tuyến trùng.
Từ khóa: Tuyến trùng, cây tiêu, Meloidogyne sp., Trichoderma sp., Paecilomyces sp.
74
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(110)/2020
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hồ tiêu (Piper nigrum L.) là cây công nghiệp dài
ngày có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là xuất khẩu.
Theo Niên giám Thống kê (2018), cả nước có
khoảng 149,9 nghìn ha trồng hồ tiêu, sản lượng đạt
255,4 nghìn tấn, giá trị xuất khẩu đạt trên 758,8
nghìn USD. Những năm gần đây, hồ tiêu bị nhiễm
bệnh vàng lá chết chậm, nguyên nhân chính gây
bệnh do tuyến trùng Meloidogyne incognita kết hợp
nấm Fusarium solani gây thiệt hại rất nghiêm trọng
(Nguyễn Văn Nam, 2017).
Có nhiều loài tuyến trùng gây hại cây tiêu như
Meloidogyne sp., Helicotylenchus sp., Tylenchus sp.,
Trong đó, tuyến trùng Meloidogyne incognita là dịch
hại nguy hiểm cho ngành hồ tiêu ở vùng nhiệt đới
và á nhiệt đới (trong đó có Việt Nam) (Whitehead,
1998) do nó gây hại đến sự sinh trưởng của cây và
liên quan đến nhiều loài nấm gây bệnh khác như
Phytopthora, Pythium, Fusarium, Rhizoctonia,
gây bệnh chết nhanh, chết chậm trên cây hồ tiêu
(Eng, 2002). Hiện tại, trên thế giới và Việt Nam có
nhiều sản phẩm cả hóa học và sinh học để phòng
trừ tuyến trùng. Sản phẩm hóa học cho hiệu quả cao
nhưng độc hại và tích lũy lâu dài trong đất. Nghiên
cứu này làm cơ sở cho việc sản xuất và sử dụng sản
phẩm sinh học mới trong phòng trừ tuyến trùng gây
hại hồ tiêu.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Tuyến trùng phân lập từ mẫu đất và rễ thu tại
tỉnh Đăk Lăk theo QCVN 01-180: 2014/BNNPTNT.
Nấm Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. do Công
ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời cung cấp. Cây tiêu
giống: giống tiêu sẻ, khoảng 2 tháng tuổi mua tại
thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Môi trường nuôi cấy PDA (Khoai tây 200 g,
D-glucose 20 g, Agar 20 g, H2O 1000 ml, pH = 6,5),
WA (Agar 20 g, H2O 1000 ml, pH = 6,5).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Bố trí thí nghiệm
a) Đánh giá khả năng ký sinh của nấm Trichoderma sp.
và Paecilomyces sp. trên trứng tuyến trùng Meloidogyne sp.
gây hại tiêu ở điều kiện phòng thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên
với 3 công thức gồm (1) Nấm Trichoderma sp.,
(2) Nấm Paecilomyces sp. và (3) Đối chứng (khoanh
agar không chứa nấm), với lặp lại 4 lần, mỗi lặp lại là
1 đĩa petri. Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 6
đến tháng 10 năm 2018.
Các dòng nấm Trichoderma sp. và Paecilomyces sp.
được cấy lên môi trường PDA trong đĩa petri
(hút 10µl dịch bào tử nấm mật số 1 ˟ 108 bào tử/ml
nhỏ vào giữa đĩa). Sau 7 ngày nuôi cấy dùng dụng
cụ đục khoanh nấm đường kính 5 mm đặt úp ngược
vào đĩa petri có chứa môi trường 1,5% WA để đánh
giá khả năng sinh. Mỗi đĩa petri đặt 9 khoanh nấm
chia thành 3 nhóm cách đều nhau ở giữa đĩa, mỗi
nhóm 3 khoanh. Nhỏ 30 µl dịch trứng tuyến trùng
(chứa khoảng 80 - 100 trứng) lên bề mặt mỗi khoanh
nấm trên đĩa môi trường WA. Sau đó đem ủ các đĩa
petri ở nhiệt độ phòng.
Đếm số trứng tuyến trùng bị ký sinh trong tổng
số trứng trên khoanh nấm, quan sát dưới kính hiển
vi 1, 2 và 3 ngày sau khi chủng.
Tỉ lệ trứng bị ký sinh = [(số trứng bị nấm ký
sinh)/ (tổng số trứng)] ˟ 100
b) Đánh giá khả năng ký sinh của nấm Trichoderma sp.
và Paecilomyces sp. trên tuyến trùng cái Meloidogyne sp.
gây hại tiêu ở điều kiện phòng thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên
với 3 nghiệm thức gồm: (1) Nấm Trichoderma sp.,
(2) Nấm Paecilomyces sp. và (3) Đối chứng (khoanh
agar không chứa nấm), mỗi nghiệm thức lặp lại
3 lần, mỗi lặp lại là 1 đĩa petri. Thí nghiệm được tiến
hành từ tháng 11/2018 đến tháng 02/2019.
Nấm Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. được
cấy lên môi trường PDA trong đĩa petri (hút 10µl
dịch bào tử nấm mật số 1 ˟ 108 bào tử/ml nhỏ vào
giữa đĩa). Sau 7 ngày nuôi cấy dùng dụng cụ đục
khoanh nấm đường kính 5 mm đặt úp ngược vào
đĩa petri có chứa môi trường WA. Sau 1 ngày nuôi
cấy nấm tiến hành cấy tuyến trùng (8 con/dĩa) phân
bố đều theo vòng tròn xung quanh mép tản nấm;
đĩa đối chứng chỉ đặt khoanh agar không chứa nấm
và cũng đặt tuyến trùng xung quanh khoanh agar.
Sau đó đặt các đĩa ở nhiệt độ phòng. Tiến hành quan
sát sự ký sinh của nấm với tuyến trùng ở thời điểm
1, 2, 3, 4 và 5 ngày sau khi đặt tuyến trùng vào đĩa
(Nguyễn Thị Hai và Phan Ánh Ngân, 2017).
Tỉ lệ xâm nhiễm nấm trên tuyến trùng ở các thời
điểm 1, 2, 3, 4 và 5 ngày sau khi đặt tuyến trùng vào
đĩa. Tuyến trùng được cho là ký sinh khi bị nấm làm
thay đổi hình dạng, bị sợi nấm đâm xuyên vào cơ
thể hoặc bị đông tụ (khi cắt tuyến trùng ra không có
dịch chảy ra).
c) Đánh giá ảnh hưởng đối với tuyến trùng Meloidogyne sp.
của dịch trích các dòng nấm Trichoderma sp. và
Paecilomyces sp. ở điều kiện phòng thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức: (1) dịch trích nấm
Trichoderma sp., (2) dịch trích nấm Paecilomyces sp.,
(3) 50% dịch trích nấm Trichoderma sp. + 50% dịch
trích nấm Paecilomyces sp., (4) Đối chứng: môi
trường nuôi cấy nấm (môi trường PDB lỏng: 15 g
75
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(110)/2020
khoai tây/l, 20 g sucrose/l, pH = 6,5), mỗi nghiệm
thức lặp lại 4 lần.
Thời gian tiến hành thí nghiệm: tháng 3 đến
tháng 6 năm 2019.
Các chủng nấm Trichoderma sp. và Paecilomyces sp.
được nuôi tăng sinh trong môi trường lỏng
5 ngày, lọc qua giấy lọc Newstar 102 đường kính
110 mm để loại bỏ sinh khối, ly tâm dung dịch sau
lọc ở 5000 vòng/phút trong 5 phút để loại bỏ hoàn
toàn sinh khối trong dịch trích.
Ở nghiệm thức dịch trích nấm đối kháng: Cho
vào mỗi bình tam giác 50 ml dịch trích nấm đối
kháng và 50ml dịch tuyến trùng mật số trung bình
57,67 con/ml; Nghiệm thức đối chứng: cho vào mỗi
bình tam giác 50 ml nước và 50 ml dịch tuyến trùng
mật số trung bình 57,67 con/ml.
Đếm mật số tuyến trùng còn sống ở 1, 2, 3, 4, 5,
6, 7 ngày sau khi xử lý (hút 2 ml dung dịch ở mỗi
nghiệm thức cho vào đĩa petri đường kính 6 cm và
đếm số lượng tuyến trùng còn sống trên kính soi nổi
Olympus 4.5X, mỗi lặp lại đếm 3 lần.
2.2.2. Chỉ tiêu theo dõi
Tính độ hữu hiệu của vi sinh vật đã xử lý theo
công thức Abbott.
ĐHH (%) = [(C - T) / C] ˟ 100
Trong đó: C: số lượng cá thể tuyến trùng sống ở
nghiệm thức đối chứng; T: số lượng cá thể tuyến trùng
sống ở nghiệm thức có xử lý nấm.
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được phân tích lý phân tích phương sai
và kiểm định khác biệt bằng trắc nghiệm Ducan với
phần mềm SPSS 22.0.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6 năm 2018
đến tháng 02 năm 2019 tại Khoa Nông nghiệp,
Trường Đại học An Giang.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khả năng ký sinh của các dòng nấm
Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. trên trứng
tuyến trùng Meloidogyne sp. gây hại tiêu ở điều
kiện phòng thí nghiệm
Hai ngày sau chủng nấm, sợi nấm bắt đầu phát
triển và tiếp cận vỏ trứng tuyến trùng, tỉ lệ ký sinh
chưa cao và không có sự khác biệt về tỉ lệ ký sinh của
02 chủng nấm này. Từ ngày 3 đến ngày 7, tỉ lệ trứng
tuyến trùng bị ký sinh tăng dần và có sự khác biệt ý
nghĩa thống kê (Bảng 1). Chủng nấm Trichoderma sp.
có khả năng ký sinh trứng tuyến trùng 89,6% và
chủng Paecilomyces sp. đạt 95,7% ở ngày thứ 7.
Ngoài kiểu áp sát và quấn xung quanh tạo búi
giống chủng Paecilomyces sp. thì nấm Trichoderma sp.
có kiểu ký sinh làm tan một phần hoặc toàn bộ vỏ
trứng (Hình 1). Sợi nấm Paecilomyces sp. ban đầu áp
sát bề mặt vỏ trứng, quấn xung quanh, ăn sâu vào
bên trong phá hủy phôi trứng tạo thành búi nấm
(Hình 1). Khả năng tiêu diệt trứng tuyến trùng của
nấm Paecilomyces sp. trong thí nghiệm này tương tự
kết quả của Silva và cộng tác viên (2017) khi xử lý trên
cây cà chua với chủng nấm Paecilomyces lilacinum
CG179 thì mật độ của trứng Meloidogyne enterolobii
trên rễ giảm đáng kể so với đối chứng. Tương tự,
chủng Paecilomyces lilacinum HBYPPL-04 gây chết
80% trứng, kìm hãm khả năng trứng nở 90% và có
khả năng ký sinh lên 75% số lượng trứng tuyến trùng
trong điều kiện in vitro (Aminuzzaman et al., 2013).
Bảng 1. Tỉ lệ trứng tuyến trùng bị nấm ký sinh (%) ở các nghiệm thức theo thời gian
Công thức 1 NSC 2 NSC 3 NSC 4 NSC 5 NSC 6 NSC 7 NSC
Trichoderma sp. 11,5 a 20,6 a 26,7 b 47,9 b 72,9 b 88,3 b 89,6 b
Paecilomyces sp. 12,9 a 25,1 a 35,0 a 72,8 a 84,7 a 94,2 a 95,7 a
Đối chứng 0,0 b 0,0 b 0,0 c 0,0 c 0,0 c 0,0 c 0,0 c
Mức ý nghĩa * * * * * * *
CV (%) 4,3 3,8 3,2 0,3 0,2 0,4 0,2
Ghi chú: Số liệu phân tích phương sai được biến đổi theo arcsin (x)1/2. Các số liệu trong cùng cột có chữ cái theo sau
giống nhau thì không khác biệt nhau ở mức ý nghĩa 5% (*) qua phép thử Duncan. NSC: ngày sau cấy.
3.2. Khả năng ký sinh của các dòng nấm
Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. trên tuyến
trùng cái Meloidogyne sp. gây hại tiêu ở điều kiện
phòng thí nghiệm
Đối với chủng nấm Trichoderma sp., chỉ sau
2 ngày sau xử lý đã gây chết 100% tuyến trùng cái
(Bảng 2). Sợi nấm phủ kín bề mặt và ăn sâu vào tuyến
trùng (Hình 2). Tuyến trùng chết bị biến dạng và bị
vỡ, tuôn dịch ra ngoài. Nấm tiết sắc tố có màu vàng
nhạt vào môi trường, đồng thời sắc tố làm biến đổi
màu sắc trên tuyến trùng, tuyến trùng chết có màu
vàng nhạt so với màu trắng đục ở thời điểm ban đầu.
76
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(110)/2020
Chủng nấm Paecilomyces sp. quấn kín bề mặt
tuyến trùng cái và ăn sâu vào bên trong (Hình 2).
Tuy nhiên, Paecilomyces sp. thường làm cho tuyến
trùng cái bị đông tụ khi bị ký sinh. Về mặt cơ chế,
nấm Paecilomyces sp. có thể xâm nhập qua lớp biểu
bì hoặc lỗ mở của vật chủ bằng cách phá hủy lớp
lipid và chitin bằng hệ enzyme phân giải protease,
lipase và chitinase (Zaki and Irshad, 1996).
Bảng 2. Tỉ lệ xâm nhiễm (%)
của các chủng nấm lên tuyến trùng cái
Nghiệm thức 1 NSC
2
NSC
3
NSC
4
NSC
5
NSC
Trichoderma sp. 70,0 a 100 a 100 a 100 a 100 a
Paecilomyces sp. 60,0 a 73,3 a 80,0 a 86,7 a 96,7 a
Đối chứng 20,0 b 26,7 b 33,3 b 43,3 b 50,0 b
Mức ý nghĩa * * * * *
CV (%) 6,5 4,5 2,1 3,2 2,1
Ghi chú: Các số liệu trong cùng cột mang cùng chữ cái
theo sau thì không khác biệt nhau ở độ ý nghĩa 5% (*) qua
phép thử Duncan. NSC: ngày sau cấy.
3.3. Đánh giá ảnh hưởng của dịch trích của nấm
Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. đối với tuyến
trùng Meloidogyne sp.
Hiệu quả gây chết tuyến trùng (Bảng 3) của
dịch trích Trichoderma sp., Paecilomyces sp. hay
nghiệm thức phối trộn 50% Trichoderma sp. + 50%
Paecilomyces sp. rất nhanh và không có khác biệt có
ý nghĩa thống kê giữa 3 nghiệm thức. Sau 72 giờ xử
lý, tuyến trùng ở 3 nghiệm thức chết 100%, điều này
chứng tỏ 2 chủng nấm tiết ra độc tố hoặc hệ enzyme
có khả năng giết chết tuyến trùng nhanh chóng.
Bảng 3. Độ hữu hiệu (%) của dịch trích nấm
ở các nghiệm thức
Nghiệm thức 24GSXL 48GSXL 72GSXL
Trichoderma sp. 68,2 95,2 100,0
Paecilomyces sp. 59,6 95,0 100,0
50% Trichoderma sp.
+ 50% Paecilomyces sp. 63,3 96,5 100,0
Mức ý nghĩa ns ns ns
CV (%) 11,7 1,3 0,0
Ghi chú: Các số liệu trong cùng cột mang cùng chữ cái
theo sau thì không khác biệt nhau ở độ ý nghĩa 5% (*) qua
phép thử Duncan, GSXL: giờ sau xử lý.
Kết quả thí nghiệm hoàn toàn phù hợp với kết
quả của Trần Thị Kiều Lâm (2010) ghi nhận dịch
trích của bốn dòng nấm P. lilacinus, Paecilomyces sp.
(1), Paecilomyces sp. (2), Paecilomyces sp. (TH) có
hiệu quả làm chết 99% ấu trùng sau 48 giờ thí
nghiệm, đối với nấm Trichoderma sp. là 99% ấu
trùng sau 72 giờ.
Hình 1. Nấm Trichoderma sp. và nấm Paecilomyces sp.
ký sinh lên trứng tuyến trùng - Nấm Trichoderma sp.
Ghi chú: A. nấm Trichoderma sp. quấn xung quanh và ăn sâu vào bên trong; B. trứng bị vỡ (7NSC); Nấm
Paecilomyces sp. C. quấn xung quanh, ăn sâu vào bên trong 4NSC; D. vỏ trứng bị vỡ (7NSC); → vị trí vỏ trứng bị vỡ.
A
C
B
D
77
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(110)/2020
Hình 2. Nấm ký sinh lên tuyến trùng cái
Ghi chú: A. nấm Trichoderma sp. quấn xung quanh và ăn sâu vào bên trong tuyến trùng cái, 2NSC; B. nấm
Paecilomyces sp. ký sinh lên tuyến trùng cái 5NSC. Độ phóng đại 100X, mỗi khoảng trên thước trắc vi 10 µm.
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
- Nấm Trichoderma sp. và Paecilomyces sp. có
khả năng ký sinh trứng và tuyến trùng cái cao với
tỉ lệ trứng tuyến trùng và tuyến trùng cái bị ký sinh
ở nghiệm thức Trichoderma sp. lần lượt là 89,6% ở
7NSC và 100% ở 2NSC; nghiệm thức Paecilomyces sp.
lần lượt là 95,7% ở 7NSC và 96,7% ở 5NSC.
- Hiệu quả gây chết tuyến trùng của dịch trích
nấm ở nghiệm thức Trichoderma sp., Paecilomyces sp.
và nghiệm thức phối trộn 50% Trichoderma sp.
+ 50% Paecilomyces sp. lần lượt là 95,2%, 95,0% và
96,5% ở 48GSXL và tuyến trùng ở 3 nghiệm thức
chết 100% sau 72 giờ xử lý.
- Tiếp tục nghiên cứu hiệu quả phòng trừ tuyến
trùng của nấm Trichoderma sp. và Paecilomyces sp.
ở quy mô ngoài đồng ruộng.
- Thực hiện định danh các chủng nấm
Trichoderma sp. và Paecilomyces sp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2014. QCVN 01-180:2014/
BNNPTNT. Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về Quy
trình giám định tuyến trùng thối thân rễ cọ dầu dừa
Rhadinaphelenchus cocophilus (cobb) Goodey là
dịch hại kiểm dịch thực vật của Việt Nam.
Nguyễn Thị Hai và Phan Ánh Ngân, 2017. Đánh giá khả
năng một số đặc điểm sinh học và khả năng phòng
trừ tuyến trùng của nấm Paecilomyces lilacinus
HT1. Trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Quản lý dịch
hại tổng hợp cây trồng theo hướng hữu cơ sinh học
trong phát triển nông nghiệp xanh. Nhà xuất bản
Nông nghiệp.
Trần Thị Kiều Lâm, 2010. Khảo sát khả năng đối kháng của
một số dòng nấm Paecilomyces spp. và Tricoderma spp.
với tuyến trùng bướu rễ (Meloidogyne spp.) trong
điều kiện in vitro và nhà lưới. Khóa luận tốt
nghiệp, ngành Bảo vệ thực vật, Đại học Nông Lâm
TP Hồ Chí Minh.
Nguyễn Văn Nam, 2017. Hiệu quả sử dụng chế phẩm
sinh học trong phòng trừ tuyến trùng gây hại cây hồ
tiêu tại Đăk Lăk. Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học
Quản lý dịch hại tổng hợp cây trồng theo hướng
hữu cơ sinh học trong phát triển nông nghiệp xanh.
Nhà xuất bản Nông nghiệp.
Tổng cục Thống kê, 2018. Niên giám Thống kê. Nhà xuất
bản Thống kê.
Aminuzzaman. F. M., Xie. H. Y., Duan. W. J., Sun.
B. D., Liu. X. Z., 2013. Isolation of nematophagous
fungi from eggs and females of Meloidogyne spp.
and evaluation of their biological control potential.
Biocontrol Sci. Technol., 23: 170-182.
Eng. L., 2002. Viral disease and root-knot nematode
problems of black pepper (Piper nigrum L.) in Sarawak.
Malaysia. Paper presented at the Symposium on Pests
and Diseases on Pepper (24 Sept. 2002). Sarawak.
Malaysia.
Silva. S. D., Carneiro. R., Faria. M.. Souza. D. A.,
Monnerat. R. G., Lopes. R. B., 2017. Evaluation
of Pochonia chlamydosporia and P. lilacinum for
suppression of Meloidogyne enterolobii on tomato
and banana. J. Nematol., 49: 77-85.
Whitehead. A. G., 1998. Sedentary Endoparasites of
Roots and Tubers (II. Meloidogyne and Nacobbus).
Plant nematode control. CAB International.
209-260.
Zaki A. Siddiqui and Irshad Mahmood, 1996.
Biological control of plant parasitic nematodes by
fungi: A review. Bioresour Technol., 58: 229-239.
A B
78
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 1(110)/2020
Parasitism of Trichoderma and Paecilomyces
on Meloidogyne causing root-knot in pepper plants
Truong Thi Ngoc Han, Vang Thi Tuyet Loan,
Ly Lan Phuong, Nguyen Thi Thanh Xuan
Abstract
The study of parasitism of Trichoderma and Paecilomyces on Meloidogyne causing root-knot in pepper plant was
carried out to evaluate the effectiveness of Trichoderma sp. and Paecilomyces sp. on: (1) Meloidogyne sp.’s eggs;
(2) female Meloidogyne sp.; (3) effects of extracts of them on Meloidogyne sp. The results showed that Trichoderma
sp. infected nematode eggs 89.6 % at 7 days after exposure (DAE) and infected female nematode 100% 2 DAE for
the treatment with Paecilomyces sp. infected nematode eggs 95.7% at 7 DAE and infected female nematode 96.7%
5 DAE. The fungal extracts of Trichoderma sp., Paecilomyces sp. and mixed 50% Trichoderma sp. + 50% Paecilomyces
sp. showed excellent effectiveness after 48 hours which morality rate was 95.2%, 95.0% and 96.5% respectively.
And after 72 hours, all treatments delivered 100% mortality. The results showed Trichoderma sp. and Paecilomyces sp.
have potential for use as biocontrol agents.
Keywords: Nematode, pepper plants, Meloidogyne sp., Trichoderma sp., Paecilomyces sp.
Ngày nhận bài: 10/12/2019
Ngày phản biện: 15/12/2019
Người phản biện: TS. Trương Hồng
Ngày duyệt đăng: 13/01/2020
PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VÀ ĐỊNH DANH VI KHUẨN
CÓ KHẢ NĂNG PHÂN HỦY CELLULOSE ĐỂ XỬ LÝ BÃ BÙN MÍA
Đỗ Năng Vịnh1, Lê Như Kiểu2, Lê Thị Thanh Thủy2,
Hà Thị Thúy1, Mai Đức Chung1, Nguyễn Văn Toàn1,
Mai Thị Vân Khánh1, Lê Trung Hiếu1, Nguyễn Thành Đức1
TÓM TẮT
Ở Việt Nam, có nhiều biện pháp xử lý bã mía, rỉ mật và bã bùn mía do sản xuất mía đường hàng năm tạo ra, trong
đó ứng dụng vi sinh vật là biện pháp hiệu quả và khả thi nhất. Bài báo trình bày kết quả phân lập các chủng vi sinh
vật có khả năng phân hủy bùn bã mía thành phân hữu cơ vi sinh. Từ 20 mẫu đất, phân ủ từ gốc rạ, lá mía thu thập
tại Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, đã phân lập được 15 chủng vi sinh vật khác nhau, trong đó có 5 chủng vi khuẩn
và 10 chủng xạ khuẩn. Hai chủng X-VDT3 và X-VDT6 có khả năng phân hủy cellulose mạnh nhất trong tổng số
15 chủng, đường kính vòng phân giải đạt từ 29 - 30 mm, phân hủy bã bùn mía trong 25 ngày đạt yêu cầu của phân
hữu cơ vi sinh và được xác định là Streptomyces phaeoluteigriseus và Streptomyces matensis. Đây là 2 chủng tiềm năng
trong xử lý bã bùn mía để sản xuất phân hữu cơ vi sinh.
Từ khóa: Bã bùn mía, cellulose, phân hữu cơ vi sinh, vi sinh vật, xạ khuẩn
1 Viện Di truyền Nông nghiệp; 2 Viện Thổ nhưỡng Nông hóa
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Quyết định phê duyệt đề án phát triển mía
đường đến năm 2020, định hướng đến năm 2030,
ngày 18 tháng 4 năm 2018 của Bộ NN&PTNT cho
thấy, sản xuất mía đường Việt Nam hàng năm tạo ra
khoảng 7,7 triệu tấn bã mía, 1.137 triệu tấn rỉ mật và
1.149 triệu tấn bã bùn mía. Trước đây, khoảng 80%
lượng bã mía này được dùng để làm nhiên liệu cho
các lò đốt hơi trong các nhà máy sản xuất đường và
sinh ra 50.000 tấn tro, trong khi 20% lượng bã mía
còn lại (khoảng 500.000 tấn) được dùng làm ván ép.
Mật rỉ đường dùng để sản xuất cồn sinh học, mì
chính hoặc ứng dụng các công nghệ vi sinh để chế
biến thành thức ăn phục vụ cho ngành chăn nuôi.
Riêng tro sau khi đốt bã mía và bã bùn mía còn
lại không được sử dụng cho bất cứ mục đích nào
khác phải đổ bỏ như rác thải và điều này dẫn đến
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, vì trong bã bùn
mía có chứa một lượng dinh dưỡng cao như đạm,
lân, lưu huỳnh và canxi. Nếu nguồn bã bùn mía này
được sử dụng làm nguồn phân hữu cơ bón cho đất
và cây trồng, đặc biệt là cây mía sẽ giúp cải thiện
Các file đính kèm theo tài liệu này:
su_ky_sinh_cua_nam_trichoderma_paecilomyces_tren_tuyen_trung.pdf