Biến động sản lượng cá phân bố theo độ
mặn
Đánh giá biến động nguồn lợi cá úc họ
Ariidae ở vùng cửa sông Hậu thông qua xác
định sản lượng CPUE (Hình 6). Kết quả
nghiên cứu cho thấy, độ mặn có sự ảnh hưởng
đáng kể đến CPUEw, khi độ mặn càng cao
thì nguồn lợi cá úc phân bố càng phong phú.
Cụ thể, cá úc phân bố phong phú nhất ở khu
vực Trần Đề (CPUEw = 934,45 g/ha), kế đến
là hai vùng cửa sông Định An (CPUEw =
931,68 g/ha), cửa sông Trần Đề (CPUEw =
904,71 g/ha) tương ứng độ mặn là 5,8o=oo,
8,7o=oo và 8,3o=oo. Mật độ cá úc ở Đại Ngãi
phân bố tương đối phong phú với CPUEw =
687,97 g/ha và độ mặn 0,9o=oo, ở Định An
có CPUEw = 518,71 g/ha và độ mặn 2,1o=oo.
Hai khu vực còn lại là An Lạc Tây và Cái
Cui với độ mặn bằng 0 và CPUE là 333,97
g/ha và 36,48 g/ha. Điều này cho thấy rằng,
CPUE giảm dần theo độ mặn từ ngoài cửa
sông vào trong cửa sông. Như vậy, năm loài
cá úc này thuộc họ Ariidae phân bố ở độ
mặn từ 0-8,7o=oo và thích hợp sống ở nơi có
môi trường biến động như vùng cửa sông.
Qua đó, chúng ta nhận thấy, các loài cá úc
này phân bố ở độ mặn tương đối thấp (2,3 –
8,7o=oo) so với loài Arius felis (>20o=oo) [11].
Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy
biến động độ mặn đã ảnh hưởng đến sự di
cư của các loài cá úc họ Ariidae phân bố ở
vùng cửa sông Caeté ở phía Đông Amazon
của miền Bắc Brazil [21]. Harvey [22] đã
tìm thấy ấu trùng cá úc còn noãn hoàng trong
miệng cá đực ở vùng nước có độ mặn từ 8o=oo
đến 13o=oo, cá con xuất hiện ở vùng nước có
độ mặn từ 16 đến 29o=oo. Có thể nói, vùng
cửa sông là môi trường quan trọng để quyết
định sản lượng cá của vùng [23].
KẾT LUẬN
Tại cửa sông Hậu, nguồn lợi cá úc họ
Ariidae gồm năm loài: cá úc chấm (Arius
maculatus), cá úc thép (Osteogeneiosus militaris), cá úc nghệ (Arius venosus), cá úc nghệ
(Nemapteryx nenga) và cá úc mím (Cephalocassis borneensis). Tuy nhiên, cá úc phân bố
nhiều nhất là ở Trần Đề với sản lượng tương
đối phong phú (CPUEw = 934,45 g/ha). Tiếp
đến là hai vùng cửa sông Định An và cửa
sông Trần Đề, sản lượng cá ở hai vùng này
cũng tương đối cao với CPUEw = 931,68
g/ha và CPUEw = 904,71 g/ha. Ngoài ra, mật
độ cá úc ở khu vực An Lạc Tây và Cái Cui rất
thấp với CPUE là 333,97 g/ha và 36,48 g/ha.
Trong đó, mật độ phân bố cá úc chấm (Arius
maculatus) chiếm tỉ lệ cao nhất 63,35%, tiếp
đến là cá úc thép (Osteogeneiosus militaris)
với 32,94% và các loài còn lại chiếm tỉ lệ
thấp. Tuy nhiên, môi trường cũng biến động
nhiều, đặc biệt độ mặn là yếu tố ảnh hưởng
nhiều đến sự phân bố các loài cá úc, độ mặn
dao động từ 0 đến 8,7o=oo thích hợp cho sự
phân bố của cá úc.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 20 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sự phân bố các loài cá thuộc họ cá Úc (ariidae) ở vùng cửa sông Hậu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TẠP CHÍ KHOAHỌC TRƯỜNGĐẠI HỌC TRÀVINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 DOI: 10.35382/18594816.1.38.2020.557
SỰ PHÂN BỐ CÁC LOÀI CÁ THUỘC HỌ CÁ ÚC (ARIIDAE)
Ở VÙNG CỬA SÔNG HẬU
Tô Thị Mỹ Hoàng1, Dương Trí Dũng2, Trần Đắc Định3
THE DISTRIBUTION OF ARIID CATFISH (ARIIDAE)
IN THE HAU RIVER ESTUARY
To Thi My Hoang1, Duong Tri Dung2, Tran Dac Dinh3
Tóm tắt – Nghiên cứu được thực hiện
từ tháng 7 năm 2017 đến tháng 6 năm
2019 tại vùng cửa sông Hậu, Đồng bằng
sông Cửu Long. Nguồn lợi cá úc họ Ariidae
được khảo sát từ vùng cửa sông Trần Đề và
Định An đến vùng Cái Cui – nơi có nguồn
nước ngọt quanh năm. Sản lượng khai thác
được xác định bằng thông số CPUE (Catch
per unit effort: sản lượng khai thác). Kết
quả nghiên cứu đã xác định được một số
loài thuộc họ cá úc là: cá úc chấm (Ar-
ius maculatus), cá úc thép (Osteogeneiosus
militaris), cá úc nghệ (Arius venosus), cá
úc nghệ (Nemapteryx nenga) và cá úc mím
(Cephalocassis borneensis). Sản lượng cá úc
tương đối phong phú và đạt cao nhất là ở
Trần Đề (CPUEw = 934,45 g/ha), kế đến là
vùng cửa sông Định An (CPUE = 931,68
g/ha) và cửa sông Trần Đề (CPUE = 904,71
g/ha); thấp nhất ở Cái Cui (CPUE = 36,48
g/ha). Trong đó, mật độ phân bố cá úc chấm
cao nhất (63,35%) và tiếp đến là cá úc thép
(32,94%). Tuy nhiên, mức độ đa dạng sinh
1,3Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ
2Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, Trường Đại
học Cần Thơ
Ngày nhận bài: 3/3/2020; Ngày nhận kết quả bình duyệt:
14/4/2020; Ngày chấp nhận đăng: 30/7/2020
Email: ttmhoang@ctu.edu.vn
1,3College of Aquaculture and Fisheries, Can Tho
University
2College of Environment and Natuaral Resources, Can
Tho University
Received date: 3rd March 2020; Revised date: 14th April
2020; Accepted date: 30th July 2020
học các loài cá úc ở khu vực cửa sông Trần
Đề là cao nhất (H’ = 0,83), kế đến là ở Trần
Đề (H’ = 0,76) và thấp nhất là ở Đại Ngãi
(H’ = 0,10). Kết quả cũng cho thấy độ mặn
là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sự phân bố
của cá úc ở vùng cửa sông Hậu.
Từ khóa: Ariidae, cá úc, cửa sông Hậu,
CPUE.
Abstract – From July 2017 to June 2019
at Hau estuary in the Mekong Delta, Viet-
nam, Ariid catfish were surveyed from the
Hau River estuary (Tran De and Dinh An) to
Cai Cui area. Fishing yield was calculated
based on CPUE (catch per unit effort). Five
species of Ariid catfish were recorded (Arius
maculatus, Osteogeneiosus militaris, Arius
venosus, Nemapteryx nenga and Cephalocas-
sis borneensis). The relative abundance of
Ariid catfish was substantial and reached
the highest in Tran De (CPUEw = 934.45
g/ha) followed by Dinh An estuary (CPUE =
931.68 g/ha) and Tran De estuary (CPUE
= 904.71 g/ha); Fishing yield in Cai Cui
was the lowest with a CPUE of 36.48 g/ha.
In addition, the highest distribution found
was Arius maculatus (63.35%) and was fol-
lowed by Osteogeneiosus militaris (32.94%).
However, the biodiversity of Arridae was not
a reflection of relative abundance with the
Tran De estuary having the highest result H’
= 0.83, followed by Tran De (H’ = 0.76)
and lowest was in Dai Ngai (H’ = 0,10).
67
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
These results indicate that salinity can be
considered a primary factor influencing the
distribution of Ariid catfish in Hau River
estuary.
Keywords: Ariidae, catfish, CPUE, Hau
River estuary.
I. GIỚI THIỆU
Thế giới hiện nay đã xác định được 14
giống với 120 loài họ cá úc (Ariidae), thuộc
bộ cá trơn (Siluriformes). Các loài này chủ
yếu sinh sống ngoài biển, một số ít loài sinh
sống trong môi trường nước lợ hoặc nước
ngọt ở các khu vực ôn đới ấm và nhiệt đới
[1]. Ở cửa sông vùng nhiệt đới, nhiều loài
cá úc thuộc họ Ariidae có thể được xem là
nhóm cá quan trọng nhất về số loài, mật độ
và sinh khối [2]. Tại Oman và biển Ả rập,
năm loài cá úc được tìm thấy, trong đó, Arius
tenuispinis là một trong những loài phổ biến
ở biển Ả rập được tìm thấy ở độ sâu 20-50
m. Các loài này tập trung chủ yếu ở khu vực
giữa đảo Masirah và Ras Madrakah, có đóng
góp đáng kể vào tổng sản lượng khai thác
của khu vực [3]. Ở Việt Nam, cá úc được
xếp vào nhóm cá có giá trị kinh tế, chúng
chiếm 1,59% sản lượng cá khai thác bằng
lưới kéo đáy tại miền Trung năm 1987, cá úc
thường (Arius thalassinus) chiếm 0,87% và
3,8% trong tổng sản lượng cá kinh tế khai
thác tại vùng biển Đông Nam Bộ và vùng
biển Tây Nam Bộ [4]. Ở vịnh Bắc Bộ, cá úc
chiếm 1,45% tổng sản lượng.
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, họ cá úc
được tìm thấy bảy loài thuộc sáu giống [5].
Đây là những loài sống ở cửa sông hoặc đầm
phá ven biển với tầng đáy là bùn hoặc cát [6].
Các loài ăn sinh vật đáy ở cửa sông thích nghi
tốt trong các môi trường sống khác nhau của
các cửa sông ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt
đới [2]. Điểm đặc biệt quan trọng khác của
các loài cá úc họ Ariidae là tập tính sinh sản,
con đực chăm sóc trứng và ấu trùng, giữ con
trong miệng [6].
Hiện nay, ở Việt Nam, các nghiên cứu về
cá úc còn rất hạn chế, chỉ có một vài nghiên
cứu về hình thái và phân loại [5], các công
trình nghiên cứu về sự phân bố hay đánh giá
trữ lượng cá úc họ Ariidae rất hiếm. Chính
vì thế, nghiên cứu đánh giá mức độ phong
phú và đa dạng thành phần loài cá úc thuộc
họ Ariidae là rất cần thiết để làm cơ sở khoa
học cho việc bảo vệ, khai thác và phát triển
nguồn lợi cá úc ở vùng cửa sông ven biển
theo hướng bền vững.
II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Họ cá úc (Ariidae) được tìm thấy chủ yếu
tại các vùng biển nông ven bờ ở Bắc và Nam
Mỹ, châu Phi, châu Á và châu Úc. Chúng
không có mặt tại các vùng biển thuộc châu
Âu và châu Nam Cực. Một số loài sinh sống
tại khu vực nước ngọt. Bắc và Nam Mỹ có
khoảng 43 loài sinh sống trong vùng nước
lợ hoặc chỉ ở nước ngọt. Cá thiều Arius
thalassinus được tìm thấy ở vùng Biển Đỏ
và Tây Bắc Ấn Độ Dương. Cá thiều còn xuất
hiện ở các vùng biển liên quan Philippine và
vịnh Thái Lan. Ở vùng biển Mexico và biển
Caribe, Bagre marinus là loài cá biển kinh tế
quan trọng với sản lượng rất cao (6.242 tấn
vào năm 2001). Bang Tabasco có tỉ lệ tiêu thụ
cao nhất (3.811 tấn), chiếm 61% tổng lượng
khai thác. Hai loài cá úc Arius thalassinus và
A. venosus được tìm thấy trên phía Tây của
đảo Mafia (Ấn Độ), chiếm 86% sản lượng
khai thác. Trong đó, loài A. thalassinus là
phong phú nhất nhưng ở độ sâu từ 10 m đến
195 m, cá xuất hiện rất ít và loài A. venosus
phân bố rất thấp trong vùng nước ven biển ở
độ sâu 10 m [7]. Ở Việt Nam, cá úc phân bố
ở hầu hết các vùng biển Vịnh Bắc Bộ, Trung
Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Trong
đó, chúng tập trung nhiều nhất ở vùng biển
Tây Nam Bộ [8].
Cá úc phân bố ở cửa sông rất phong phú,
cụ thể ở các vùng chính cửa sông Goiana,
Brasil, mật độ cá úc chiếm 53% với 1.600 cá
thể/ha [9]. Trong đó, loài Cathorops spixii là
phong phú nhất với mật độ 1.340 cá thể/ha.
Mật độ (7.394 cá thể/ha) cao nhất được xác
định ở vùng giữa cửa sông vào đầu mùa mưa.
68
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
Tuy nhiên, sự phân bố của cá còn tùy thuộc
vào các yếu tố như độ sâu, nhiệt độ, độ mặn
hay thành phần chất đáy. Tùy vào mỗi giai
đoạn, các loài cá úc phân bố khác nhau.
Vùng ven bờ biển Guinea, Tây châu Phi có
ba loài cá úc (Arius heudeloiti, A. parkii, A.
latiscutatus), chúng phân bố ở vùng có đáy
bùn và độ sâu 20 m. Nhiệt độ cao quanh
năm từ 25oC đến 29oC. Ấu trùng và cá con
xuất hiện nhiều ở vùng ven bờ, còn cá lớn
xuất hiện ở vùng nước sâu [10]. Ngoài ra,
trong giai đoạn sinh sản, cá cũng cần có
điều kiện thuận lợi như nhiệt độ > 20oC và
độ mặn > 20o/oo (Arius felis) [11]. Nhiệt độ
thích hợp cho cá úc trưởng thành trên 25oC
[12] và phân bố thấp ở các vùng nước có
nhiệt độ trên 37oC [13]. Tuy nhiên, ở Việt
Nam, nghiên cứu các loài cá úc phân bố ở
cửa sông hầu như chưa có. Chính vì vậy, kết
quả nghiên cứu này góp phần làm cơ sở khoa
học cho các nghiên cứu tiếp theo trong họ cá
úc Ariidae.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
A. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Hình 1: Sơ đồ địa điểm thu mẫu vùng cửa
sông Hậu
(Nguồn: Kuenzer et al. [14] và tác giả đề
xuất)
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 7 năm
2017 đến tháng 6 năm 2019, chu kì thu mẫu
là 2 tháng/lần với 12 điểm thu mẫu trên hệ
thống sông Hậu từ Cái Cui đến cửa sông
(Hình 1), các tọa độ thu mẫu như sau:
- Cửa sông Định An:
9o26′20.8”N,106o32′17.3”E;9o31′40.1”N,
106o19′51.5”E;9o26′06.4”N,106o22′29.9”E
- Cửa sông Trần Đề:
9o22′30.9”N,106o20′28.8”E;9o26′54.4”N,
106o14′05.9”E;9o21′19.3”N,106o12′58.5”E
- Định An:
9o35′18,03”N,106o17′57,65”E;9o35′19.47”N,
106o18′37.28”E;9o34′43.25”N,106o17′52.22”E
- Trần Đề:
9o29′58.23”N,106o13′25.00”E;9o29′38.16”N,
106o13′51.28”E;9o29′35.34”N,106o13′1.56”E
- Đại Ngãi:
9o43′37.55”N,106o5′19.32”E;9o45′3.21”N,
106o6′46.31”E
- An Lạc Tây:
9o51′55.5”N,105o58′4.26”E
- Cái Cui:
9o57′7.12”N,105o52′36.59”E
B. Phương pháp thu mẫu và phân tích số liệu
- Phương pháp thu mẫu
Mẫu cá úc được thu trực tiếp cùng với ngư
dân bằng lưới cào với kích cỡ mắt lưới 2 cm.
Mẫu sau khi thu được bảo quản lạnh và đưa
về Phòng Thí nghiệm Nguồn lợi thủy sản,
Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ để
tiến hành phân tích.
Trong quá trình thu mẫu cá, chỉ tiêu độ
mặn của môi trường nước được đo bằng khúc
xạ kế tương ứng với các vị trí và thời gian
thu mẫu.
- Phương pháp phân tích
Phân tích định danh loài: Nhóm tác giả
dựa vào các nghiên cứu [5], [15], [16] để
định loại.
Đánh giá mức độ phong phú tương đối
(CPUE):
CPUE được tính theo công thức sau:
CPUE=W/a (g.ha-1); trong đó, CPUE là sản
lượng trên một đơn vị khai thác, W (g) là sản
lượng của một mẻ khai thác bằng lưới kéo, a
là diện tích quét của lưới kéo (m2) và được
xác định theo công thức: a = W*S; trong đó,
W là chiều rộng của lưới (m) và S là quãng
đường kéo lưới (m).
69
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
Chỉ số đa dạng Shannon (Shannon-Weaver,
1948) được tính theo công thức sau:
H ′ =−
n
∑
i=1
PilogPi
Trong đó, Pi = ni/N; ni là số lượng cá thể
của loài cá i; N là tổng số cá thể của tất cả
các loài trong một mẫu nghiên cứu.
IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
A. Đa dạng thành phần loài cá úc họ Ariidae
phân bố vùng cửa sông Hậu
Kết quả nghiên cứu từ Bảng 1 cho thấy
có năm loài cá úc họ Ariidae được tìm thấy
ở khu vực nghiên cứu gồm: cá úc chấm
(Arius maculatus), cá úc thép (Osteogeneio-
sus militaris), cá úc nghệ (Arius venosus),
cá úc nghệ (Nemapteryx nenga) và cá úc
mím (Cephalocassis borneensis). Tuy nhiên,
sự phân bố giữa các loài cá không đều, có
thể là do môi trường sống ở cửa sông khá đa
dạng: nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Trong
vùng cửa sông Hậu, cá úc chấm phân bố hầu
hết các thủy vực từ cửa sông đến vùng nước
ngọt quanh năm như Cái Cui. Hai loài gồm
cá úc thép và cá úc nghệ (Arius venosus) chỉ
xuất hiện trong vùng nước lợ, từ cửa sông
đến Đại Ngãi. Tuy nhiên, số cá thể loài cá
úc nghệ phân bố rất thấp. Ngoài ra, cá úc
mím chỉ phân bố vùng nước ngọt như Đại
Ngãi, An Lạc Tây và Cái Cui. Riêng loài cá
úc nghệ (Nemapteryx nenga) thu được ở cả
môi trường nước lợ và nước ngọt, tuy nhiên,
số lượng cá thể rất ít. Như vậy, có thể thấy,
sự phân bố các loài cá úc, đặc biệt là cá úc
chấm và cá úc thép ở cửa sông Hậu, đã góp
phần quan trọng cho sinh kế ngư dân vùng
cửa sông ven biển.
Độ mặn là một trong những yếu tố môi
trường ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của
cá, đặc biệt là sự tăng trưởng. Mỗi loài sẽ
có ngưỡng chịu mặn nhất định, điểm đẳng
áp và khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu
khác nhau. Có thể nói, nếu môi trường sống
thay đổi lớn về độ mặn thì khả năng sống
sót của các loài sẽ bị ảnh hưởng lớn. Cụ thể,
tuy loài Galeichthys feliceps phân bố ở biển,
cửa sông và sông nhưng mật độ sống ở độ
mặn < 8o/oo là rất thấp [17]. Perret et al. [18]
phát hiện cá úc phân bố chủ yếu ở vùng có
độ mặn 10o/oo hoặc cao hơn. Gunter [19] đã
bắt gặp cá úc ở vùng có độ mặn từ 2 đến
36,7o/oo nhưng chủ yếu là vùng có độ mặn
trên 30o/oo.
Hình 2: Các loài cá úc phân bố vùng cửa
sông Hậu (thanh tỉ lệ 2 cm)
(Nguồn: Tác giả đề xuất)
Kết quả nghiên cứu thu được năm loài
cá úc với 12.030 mẫu thuộc họ Ariidae từ
khu vực Cái Cui đến vùng cửa sông Trần
Đề và Định An (Hình 2). Hình 3 cho thấy,
cá úc chấm (Arius maculatus) là phong phú
nhất, chiếm 63,35% (7.621 mẫu), tiếp đến là
cá úc thép (Osteogeneiosus militaris), chiếm
32,94% (3.963 mẫu), còn lại ba loài là cá úc
nghệ (Arius venosus) (248 mẫu), cá úc nghệ
(Nemapteryx nenga) (139 mẫu) và cá úc mím
(Cephalocassis borneensis) (59 mẫu), ba loài
này có mật độ phân bố rất thấp. Kết quả đó
cho thấy, cá úc chấm và cá úc thép là hai loài
đặc trưng cho vùng cửa sông Hậu. Ở Đồng
bằng sông Cửu Long, hai loài này có kích cỡ
tương đối lớn, với kích thước tối đa từ 31 cm
(cá úc thép) đến 40 cm (cá úc chấm) [5].
B. Mức độ đa dạng sinh học các loài cá úc
họ Ariidae (H’)
Sự đa dạng của các loài cá hiện diện trong
một hệ sinh thái có thể được sử dụng như
một thước đo hiện trạng của hệ sinh thái.
Sự phong phú về loài là thước đo số lượng
70
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
Bảng 1: Thành phần loài cá úc phân bố vùng cửa sông Hậu
Đơn vị tính: số mẫu
STT
Thành phần
loài cá
Địa điểm phân bố
Cửa sông
Trần Đề (8,3o/oo)
Cửa sông
Định An (8,7o/oo)
Trần Đề
(5,8o/oo)
Định An
(2,1o/oo)
Đại Ngãi
(0,9o/oo)
An Lạc Tây
(0o/oo)
Cái Cui
(0o/oo)
1
Cá úc chấm
A. maculatus
6 2 1188 1789 1794 207 116
2
Cá úc thép
O. militaris
119 167 2613 172 10 - -
3
Cá úc nghệ
A. venosus
- 3 93 23 4 - -
4
Cá úc nghệ
N. nenga
1 - 10 57 - 1 -
5
Cá úc mím
C. borneensis
- - - - 14 36 11
(Nguồn: Tác giả đề xuất)
Hình 3: Tỉ lệ thành phần loài cá úc phân bố
cửa sông Hậu )
(Nguồn: Số liệu phân tích)
các loài khác nhau có trong một hệ sinh thái.
Theo quan điểm đo đếm định lượng chỉ số đa
dạng sinh học Shannon, tính đa dạng là một
phép thống kê có sự tổ hợp của cả hai yếu tố
là thành phần số lượng loài và tính đồng đều
phân bố hay khả năng xuất hiện các cá thể
trong mỗi loài. Việc so sánh chỉ số đa dạng
giữa các khu vực khác nhau sẽ cung cấp cho
ta cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng loài và hiện
trạng của hệ sinh thái đó.
Hình 4: Chỉ số đa dạng sinh học các loài cá
úc họ Ariidae theo khu vực)
(Nguồn: Số liệu phân tích)
Kết quả phân tích cho thấy, cửa sông Trần
Đề, Định An và Trần Đề là những khu vực
mà các chỉ số đa dạng sinh học tương đối cao
(Hình 4). Trong đó, cao nhất là ở cửa sông
Định An (H’ = 0,93) và Đại Ngãi có chỉ số
đa dạng thấp nhất (H’ = 0,10), nguyên nhân
có thể do tập tính sinh sản của các loài cá
này.
71
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
C. Đánh giá sản lượng cá úc (Ariidae) phân
bố cửa sông Hậu
Tại cửa sông Hậu, phần trên (cửa sông
Trần Đề và Định An) và phần giữa (Đại Ngãi)
là nơi đại diện cho một vùng chuyển tiếp giữa
nước ngọt và hệ sinh thái ven biển. Ở khu
vực này, các loài cá cửa sông có khả năng
chịu biến động cao, đặc biệt là các loài cá
da trơn. Ngoài ra, vùng cửa sông Hậu cũng
là nơi sinh sản và ươm dưỡng cho nhiều loài
cá, đặc biệt là nhóm loài cá úc họ Ariidae.
Cụ thể ở Hình 5, các loài cá úc họ Ariidae
phân bố nhiều nhất tại khu vực cửa sông
và thấp nhất là ở An Lạc Tây và Cái Cui.
Với sản lượng CPUEw, cá úc tại cửa sông
Định An là 931,68 g/ha, cửa sông Trần Đề
là 904,71g/ha, Định An là 518,71 g/ha, Trần
Đề là 934,45 g/ha, Đại Ngãi là 687,97 g/ha,
An Lạc Tây là 333,97 g/ha và thấp nhất là
Cái Cui với CPUEw trung bình là 36,48 g/ha.
Tuy nhiên, số cá thể phân bố ở từng khu vực
thì ngược lại, trong đó, cao nhất là ở Đại
Ngãi với CPUEn là 125 cá thể/ha, kế đến là
Trần Đề với 108 cá thể/ha và cửa sông Định
An là 86 cá thể/ha.
Hình 5: Mật độ phân bố cá úc họ Ariidae
vùng cửa sông Hậu)
(Nguồn: Số liệu phân tích)
Đặc biệt, cửa sông Trần Đề có sản lượng
cao (904,71 g/ha) nhưng số cá thể phân bố
lại thấp (42 cá thể/ha) và khu vực Trần Đề
thì ngược lại, số lượng cá thể phân bố rất
nhiều nhưng sản lượng không nhiều. Điều
này cho thấy kích cỡ cá úc phân bố ở khu
vực này tương đối lớn hơn so với những khu
vực khác. Như vậy, điều này chứng tỏ vòng
đời cá úc sinh sản và sinh trưởng chủ yếu tại
nơi tiếp giáp giữa và cuối cửa sông. Tương
tự, ở Brazil, các loài cá này tìm đến những
vùng nước có độ mặn thấp để sinh sản và bổ
sung quần đàn [20]. Tại cửa sông Goiana, C.
spixii và C. agassizii (Ariidae) sử dụng phần
trên và giữa vùng cửa sông để sinh sản và
sinh trưởng [9].
D. Biến động sản lượng cá phân bố theo độ
mặn
Đánh giá biến động nguồn lợi cá úc họ
Ariidae ở vùng cửa sông Hậu thông qua xác
định sản lượng CPUE (Hình 6). Kết quả
nghiên cứu cho thấy, độ mặn có sự ảnh hưởng
đáng kể đến CPUEw, khi độ mặn càng cao
thì nguồn lợi cá úc phân bố càng phong phú.
Cụ thể, cá úc phân bố phong phú nhất ở khu
vực Trần Đề (CPUEw = 934,45 g/ha), kế đến
là hai vùng cửa sông Định An (CPUEw =
931,68 g/ha), cửa sông Trần Đề (CPUEw =
904,71 g/ha) tương ứng độ mặn là 5,8o/oo,
8,7o/oo và 8,3o/oo. Mật độ cá úc ở Đại Ngãi
phân bố tương đối phong phú với CPUEw =
687,97 g/ha và độ mặn 0,9o/oo, ở Định An
có CPUEw = 518,71 g/ha và độ mặn 2,1o/oo.
Hai khu vực còn lại là An Lạc Tây và Cái
Cui với độ mặn bằng 0 và CPUE là 333,97
g/ha và 36,48 g/ha. Điều này cho thấy rằng,
CPUE giảm dần theo độ mặn từ ngoài cửa
sông vào trong cửa sông. Như vậy, năm loài
cá úc này thuộc họ Ariidae phân bố ở độ
mặn từ 0-8,7o/oo và thích hợp sống ở nơi có
môi trường biến động như vùng cửa sông.
Qua đó, chúng ta nhận thấy, các loài cá úc
này phân bố ở độ mặn tương đối thấp (2,3 –
8,7o/oo) so với loài Arius felis (>20o/oo) [11].
Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy
biến động độ mặn đã ảnh hưởng đến sự di
cư của các loài cá úc họ Ariidae phân bố ở
vùng cửa sông Caeté ở phía Đông Amazon
của miền Bắc Brazil [21]. Harvey [22] đã
tìm thấy ấu trùng cá úc còn noãn hoàng trong
miệng cá đực ở vùng nước có độ mặn từ 8o/oo
72
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
Hình 6: Sản lượng cá biến động theo độ mặn
nước)
(Nguồn: Số liệu phân tích)
đến 13o/oo, cá con xuất hiện ở vùng nước có
độ mặn từ 16 đến 29o/oo. Có thể nói, vùng
cửa sông là môi trường quan trọng để quyết
định sản lượng cá của vùng [23].
V. KẾT LUẬN
Tại cửa sông Hậu, nguồn lợi cá úc họ
Ariidae gồm năm loài: cá úc chấm (Arius
maculatus), cá úc thép (Osteogeneiosus mili-
taris), cá úc nghệ (Arius venosus), cá úc nghệ
(Nemapteryx nenga) và cá úc mím (Cephalo-
cassis borneensis). Tuy nhiên, cá úc phân bố
nhiều nhất là ở Trần Đề với sản lượng tương
đối phong phú (CPUEw = 934,45 g/ha). Tiếp
đến là hai vùng cửa sông Định An và cửa
sông Trần Đề, sản lượng cá ở hai vùng này
cũng tương đối cao với CPUEw = 931,68
g/ha và CPUEw = 904,71 g/ha. Ngoài ra, mật
độ cá úc ở khu vực An Lạc Tây và Cái Cui rất
thấp với CPUE là 333,97 g/ha và 36,48 g/ha.
Trong đó, mật độ phân bố cá úc chấm (Arius
maculatus) chiếm tỉ lệ cao nhất 63,35%, tiếp
đến là cá úc thép (Osteogeneiosus militaris)
với 32,94% và các loài còn lại chiếm tỉ lệ
thấp. Tuy nhiên, môi trường cũng biến động
nhiều, đặc biệt độ mặn là yếu tố ảnh hưởng
nhiều đến sự phân bố các loài cá úc, độ mặn
dao động từ 0 đến 8,7o/oo thích hợp cho sự
phân bố của cá úc.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Dự án
nâng cấp Trường Đại học Cần Thơ VN14-
P6 bằng nguồn vốn vay ODA từ Chính phủ
Nhật Bản; và đề tài “Đánh giá và đề xuất
giải pháp quản lí và bảo vệ nguồn lợi thủy
sản vùng ven bờ dọc cửa sông Cửu Long”
(KHCN-TNB.ĐT/14-19/C17) thuộc Chương
trình Khoa học và Công nghệ phục vụ phát
triển bền vững vùng Tây Nam Bộ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Berg L. S. Clasification of Fishes and fish - like
animals, both recent and fossil. Trudy Zool A Nauk
SSSR. 1940;5(2):87-345.
[2] Barletta M., Blaber S. J. M. Comparision of fish as-
semblage and guilds in tropical habitats of the Embley
(Indo-West Pacific) and Caet’e (Western Atlantic) es-
tuaries. Bulletin of Marine Science. 2007;80:647–680.
[3] Mehanna S. F., Al-Kharusi I. S., Al-Kharusi L.
H. Stock assessment of the thinspine sea catfish
Tachysurus tenuispinis (Day, 1877) in the Arabian
sea, Oman. INOC-CNRS, International Conference on
“Land-Sea Interactions in the Coastal Zone” Jounieh
- LEBANON, 06-08 November. 2012:430-439.
[4] Bộ Thủy sản. Nguồn lợi thủy sản Việt Nam. Hà Nội:
Nhà Xuất bản Nông nghiệp; 1996.
[5] Tran D.D., K. Shibukawa, P.T. Nguyen, H.P. Ha,
L.X. Tran, H.V. Mai, K. Utsugi. Mô tả định loại
cá Đồng bằng sông Cửu long, Việt Nam. Fishes
of the Mekong Detal, Vietnam. Can Tho University
Publishing House, Can Tho. 2013;174.
[6] Burgess W. E. An atlas of freshwater and ma-
rine catfishes. A preliminary survey of the Siluri-
formes. T.F.H. Publications, Neptune City, New Jer-
sey. 1989;784.
[7] Fischer W, Bianchi G. FAO species identification
sheets for fishery purposes. Western Indian Ocean
(Fishing Area 51). Danish International Development
Agency (DANIDA)/ Food and Agricultural Organisa-
tion of the United Nations. Rome FAO. 1984:1-6.
[8] Trần Văn Phước. Tình hình nghiên cứu họ cá úc
(Ariidae L. S. BERG, 1958). Tạp chí Khoa học –
Công nghệ Thủy sản. 2011;3:110–119.
[9] Dantas D. V., Barletta M., Costa M. F., Barbosa-
Cintra, S. C. T., Possatto F. E., Ramos J. A. A.,
Lima A. R. A., Saint-Paul U. Movement patterns
of catfishes (Ariidae) in a ropical semi-arid estuary.
Journal of Fish Biology. 2010;76:2540–2557.
[10] Conand F, Camara SB, Domain F. Age and growth
of three species of Ariidae (Siluriformes) in coastal
waters of Guinea. Bulletin of Marine Science. 1995;56
(1): 58-67.
73
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
[11] Franks J. S., J. Christmas, W. L. Siler, R. Combs, R.
Waller, C. Burns. A Study of Nektonic and Benthic
Faunas of the Shallow Gulf of Mexico Off the State
of Mississippi. Gulf Resrarch Reports. 1972;4:1-148.
[12] Jones P.W., Martin F.D., Hardy J.Dr. Development
of fishes of the Mid-Atlantic Bight. An atlas of egg,
larval and juvenile stages. Volume I Acipenseridae
through ictaluridae. U. S. Dep. Interior, Fish Wildl.
Serv., The Biological Services Program. FWS/OBS
-78/12. 1978:366.
[13] Landry A.M., Strawn K. Annual cycle of sportfishing
activity at a warmwater discharge into Galveston
Bay, Texas. Transactions of the American Fisheries
Society. 1973;102(3):573–577.
[14] Kuenzer C., Guo H., Huth J., Leinenkugel P., Li
X., Dech S. Flood Mapping and Flood Dynamics
of the Mekong Delta: ENVISAT-ASAR-WSM Based
Time Series Analyses. Remote Sensing. 2013;5:687-
715. DOI:10.3390/rs5020687
[15] Rainboth W.J. Fishes of the Cambodian Mekong.
FAO Species Identification Field Guide for Fishery
Purposes. FAO, Rome. 1966;265.
[16] Carpenter K.E, Niem V,H. FAO species identifica-
tion guide for fishery purposes. The living marine
resources of the Western Central Pacific. Batoid
fishes, chimaeras and bony fishes part 1 (Elopidae
to Linophrynidae). Rome, FAO. 1999;3:1397-2068.
[17] Bennett B.A. A mass mortality of fish associated with
low salinity conditions in the Bot River estuary. Trans.
Royal Society of South Africa. 1985;45:437-447.
[18] Perret W.S., Barrett R.B., Latapie W.R., Pollard J.F.,
Mock W.R., Adkins G.B, Gaidry W.J, White C.J.
Cooperative Gulf of Mexico estuarine inventory and
study, Louisiana. Phase I. Area description by Perret
WS. Phase II. Biology. 1971;31-69. La. Wildl. Fish.
Comm. 171.
[19] Gunter G. Studies on marine fishes of Texas. Publi-
cations of the Institute of Marine Science University
of Texas. 1945;1:l-190.
[20] Barbieri L. R., Santos R. P., Andreata, J. V. Reproduc-
tive biology of the marine catfish, Genidens genidens
(Siluriformes, Ariidae), in the Jacarepagu’a Lagoon
system, Rio de Janeiro, Brazil. Environmental Biology
of Fishes. 1992;35:23–35.
[21] Barletta M., Barletta B. A., Saint P. U., Hubold, G.
The role of salinity in structuring the fish assem-
blages in a tropical estuary. Journal of Fish Biology.
2005;66:1–28.
[22] Harvey E. J. Observations on the distribution of
the sea catfish Arius felis larvae with and without
chorion, with respect to salinity in the Biloxi Bay
- Mississippi Sound Area. Mississippi Academy of
Sciences. 1972;17:77.
[23] Malavasi S., Fiorin R., Franco A., Franzoi P.,
Granzotto A., Riccato F., Mainardi D. Fish assem-
blages of Venice lagoon shallow waters: an analysis
based on species, families and functional guilds.
Journal of Marine Systems. 2004;51:19-31.
74
Các file đính kèm theo tài liệu này:
su_phan_bo_cac_loai_ca_thuoc_ho_ca_uc_ariidae_o_vung_cua_son.pdf