KẾT LUẬN
Phương pháp tiếp cận MORFAC có thể
cung cấp những hiểu biết về vai trò của từng
nhóm yếu tố động lực ứng với các điều kiện
khác nhau đến BĐĐH đáy biển ở vùng cửa
sông ven biển Hải Phòng. Thông qua các kết
quả của các nhóm kịch bản tính đó đã cho thấy
tác động khác nhau của các trường sóng gió
đến phân bố TTLL, VCBC và BĐĐH ở khu
vực này trong các điều kiện sóng khác nhau,
trong mùa khô, mùa mưa và cả năm.
Mặc dù chế độ TĐL chịu sự chi phối của
dao động mực nước thủy triều nhưng động lực
sóng lại là yếu tố chính quyết định đến đặc
điểm VCBC và BĐĐH đáy ở vùng ven biển
Hải Phòng. Dưới ảnh hưởng các điều kiện sóng
kết hợp với các yếu tố động lực khác, luôn xuất
hiện các vùng bồi xói xen kẽ ở vùng ven biển,
cửa sông Hải Phòng nhưng các vị trí bồi xói có
thể bị thay đổi, đặc biệt là khi có sự thay đổi về
độ cao và hướng sóng tác động.
Do ảnh hưởng của các điều kiện động lực
và sóng, trong mùa khô xuất hiện nhiều vùng
xói hơn nhưng các vùng bồi cũng có độ cao khá
lớn so với mùa mưa. Trong khi đó vào mùa
mưa, diện tích các vùng bồi lớn hơn nhưng tốc
độ bồi tụ khá đồng đều so với mùa khô. Biến
động bồi/xói ở vùng cửa sông ven biển Hải
Phòng thường diễn ra trong khoảng độ sâu 5 -
6 m trở lại với tốc độ khoảng 20 - 50 mm/năm.
Ở ngoài ngoài khoảng độ sâu 6 m, địa hình đáy
khá ổn định và thể hiện xu thế bồi với tốc độ
bồi hằng năm phổ biến trong khoảng 10 -
20 mm/năm.
Trong những năm gần đây, mặc dù có sự
suy giảm mạnh dòng bùn cát do hệ thống sông
đưa ra do ảnh hưởng của các đập chứa thượng
nguồn nhưng các kết quả tính toán cho thấy xu
thế bồi tụ ở vùng cửa sông ven biển Hải Phòng
vẫn chiếm ưu thế hơn so với xu thế xói. Đây có
thể là một trong những hệ quả của sự suy giảm
số lượng và cường độ bão đổ bộ vào khu vực
này trong vòng hơn 20 năm trở lại đây.
17 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tác động của các điều kiện sóng đến đặc điểm vận chuyển bùn cát và biến động địa hình đáy vùng cửa sông ven biển Hải Phòng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ra mạnh mẽ
trong khoảng độ sâu 5 - 6 m trở lại với tốc độ bồi tốc độ bồi/xói khoảng 20 - 50 mm/năm. Ở ngoài
ngoài khoảng độ sâu 6 m, địa hình đáy khá ổn định và thể hiện xu thế bồi với tốc độ phổ biến trong
khoảng 10 - 20 mm/năm. Các kết quả tính toán cho thấy xu thế bồi tụ ở vùng cửa sông ven biển Hải
Phòng vẫn chiếm ưu thế hơn so với xu thế xói. Đây có thể là một trong những hệ quả của sự suy
giảm số lượng và cường độ bão đổ bộ vào khu vực này trong vòng hơn 20 năm trở lại đây.
Từ khóa: Địa hình đáy, MORFAC, mô hình, thủy động lực, bùn cát.
MỞ ĐẦU
Vùng cửa sông ven biển Hải Phòng nằm
trong vùng ảnh hưởng của chế độ thủy triều
mang tính chất nhật triều điển hình với độ lớn
thủy triều lên đến gần 4 m. Hằng năm, khu vực
này cũng tiếp nhận khoảng 49,5 tỷ m3 nước và
14,6 triệu tấn bùn cát từ hệ thống sông Hồng -
Thái Bình [1]. Đây còn là vùng chịu nhiều tác
động do bão nhiều nhất ở Việt Nam với khoảng
4-5 cơn bão và áp thấp nhiệt đới hằng năm.
Dưới ảnh hưởng của các điều kiện đó nên điều
kiện thủy động lực (TĐL), vận chuyển bùn cát
(VCBC), biến động địa hình (BĐĐH) đáy biển
ở khu vực này khá phức tạp và tạo thành các
vùng bồi xói khác nhau. Đặc biệt là hiện tượng
sa bồi luồng vào cảng Hải Phòng trong những
năm gần đây. Theo tính toán của Tổng công ty
Bảo đảm An toàn Hàng hải miền Bắc, lượng
bùn cát sa bồi hằng năm vào luồng lên đến 2,5 -
3 triệu tấn. Để đảm bảo an toàn cho những tàu
lớn cập cảng, việc duy tu luồng phải thường
xuyên, liên tục hằng năm. Theo Cảng vụ Hàng
hải Hải Phòng, mặc dù khó khăn về kinh phí
nhưng chỉ riêng trong năm 2013 đã có 29 công
trình cấp bách đã phải tiến hành nạo vét với
tổng khối lượng lên đến 1,74 triệu m3 bùn cát.
Kinh phí hàng năm dành cho việc duy tu nạo
vét định kỳ đối với các tuyến luồng ra vào cảng
Hải Phòng ước tính nhỏ nhất cũng phải khoảng
từ 40 - 50 tỷ đồng. Cho đến nay, vấn đề sa bồi
Tác động của các điều kiện sóng đến đặc điểm
11
luồng tàu vào khu vực cảng Hải Phòng nói
riêng và đặc điểm TĐL, VCBC và BĐĐH đáy
ở khu vực này nói chung đã được quan tâm
nghiên cứu. Tuy nhiên với cách cách tiếp cận
truyền thống, các kết quả nghiên cứu này chưa
phản ánh hết được vai trò tác động khác nhau
của các điều kiện sông, thủy triều và sóng. Bài
viết này sẽ bổ sung thêm các hiểu biết về tác
động khác nhau của điều kiện sóng gió BĐĐH
đáy ở khu vực này với cách tiếp cận mô hình
theo phương pháp MORFAC (Morphological
Acceleration Factor).
MORFAC là cách tiếp cận cho phép mô
phỏng BĐĐH biển với khoảng thời gian dài:
năm, chục năm, hằng trăm năm bằng cách
tổng cộng các khoảng thời gian tính toán ngắn
phù hợp. Điển hình ứng dụng thành công
phương pháp này lần đầu tiên là các kết quả
nghiên cứu về BĐĐH đáy của Lesser và nnk.,
(2004) and Roelvink (2006) [2, 3]. Sau đó với
cách tiếp cận này, mô hình toán có thể mô
phỏng xu thế BĐĐH đáy biển do ảnh hưởng của
các điều kiện sóng, thủy triều trong khoảng thời
gian hằng chục năm [5-7] và dưới ảnh hưởng
của lực tác động duy nhất (chỉ tính đến ảnh
hưởng của thủy triều) cho tiến hóa địa hình
trong khoảng hàng trăm năm [7-9]. Ở Việt Nam,
cách tiếp cận MORFAC đã được bước đầu ở
vùng ven bờ châu thổ sông Mê Kông, khu vực
đầm Nại (Ninh Thuận) và cho những kết quả rất
đáng chú ý về vai trò của từng yếu tố tác động,
khoảng tác động của điều kiện sóng khác nhau
đến quá trình VCBC và BĐĐH đáy [10-12].
TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
Khu vực nghiên cứu nằm trong khoảng tọa
độ 20,3-21,0 độ vĩ bắc và 106,25-107,3 độ kinh
đông thuộc vùng biển ven bờ tây vịnh Bắc Bộ.
Đây là khu vực nằm trong vùng ảnh hưởng của
chế độ khí hậu có tính chất nhiệt đới gió mùa
với sự tương phản sâu sắc giữa hai mùa gió:
Mùa gió Đông Bắc từ tháng 11 năm trước đến
tháng 3 năm sau và gió mùa Tây Nam từ tháng
4 đến 9 hằng năm. Mặc dù tiếp nhận lượng
nước và trầm tích khá lớn từ sông Hồng-Thái
Bình nhưng phân bố không đều trong năm, phần
lớn tập trung vào các tháng trong mùa mưa [1].
Các kết quả khảo sát, đo đạc gần đây cho
thấy nghiên cứu trước kia cho thấy trầm tích
của sông Hồng phần lớn là hạt mịn. Trong mùa
mưa, trầm tích lơ lửng (TTLL) có kích thước
hạt D50 phổ biến dao động trong khoảng 44 -
93 µm, trung bình khoảng 60 µm. Ngược lại,
trong mùa khô TTLL có kích thước D50 phổ
biến 56,7 - 152,0 µm, trung binh 81,2 µm.
Trầm tích bề mặt đáy biển phổ biến là loại bột
trung đến bột lớn với D50 thay đổi trong khoảng
10 - 66.1 µm. Phân tích từ những số liệu đo
hàm lượng TTLL ở các sông Cấm, Văn Úc
trong những năm gần đây (2008-2015) cho thấy
hàm lượng TTLL phổ biến 50 - 57 mg/l (mùa
khô) và 72 - 75 mg/l trong mùa mưa.
Số liệu độ sâu và đường bờ của khu vực
cửa sông ven biển Hải Phòng dung để thiết lập
mô hình tính được số hóa từ các bản đồ địa
hình UTM hệ tọa độ địa lý VN2000 tỷ lệ
1:50000 và 1:25000. Độ sâu của khu vực phía
ngoài sử dụng cơ sở dữ liệu GEBCO -1/8 có độ
phân dải 0,5 phút được xử lý từ ảnh vệ tinh kết
hợp với các số liệu đo sâu [13].
Các chuỗi số liệu gió, sóng quan trắc nhiều
năm ở trạm hải văn Bạch Long Vĩ và Hòn Dấu
được xử lý làm đầu vào cho mô hình tính. Đây
là số liệu đo đạc với tần suất 6 h/lần trong năm
2012. Ngoài ra, số liệu sóng được tham khảo
thêm từ kết quả tính sóng (BMT Argoss, 2011)
của năm 2015 [14].
Số liệu mực nước để dùng cho việc hiệu
chỉnh mô hình 1 h/lần tại Hòn Dấu trong năm
2014, 2015. Ngoài ra, chuỗi số liệu mực nước
còn được xử lý làm đầu vào cho các biên mở
phía biển của mô hình với 8 sóng triều chính là
M2, S2, K2, N2, O1, K1, P1,Q1. Các hằng số
điều hòa thủy triều ở phía ngoài xa bờ được thu
thập từ cơ sở dữ liệu FES2004 của LEGOS và
CLS [15, 16].
Các số liệu đo đạc về dòng chảy, trầm tích
của đề tài cấp thành phố Hải Phòng “Nghiên
cứu xây dựng luận cứ phục vụ lập quy hoạch
các bãi đổ bùn cát do nạo vét trên địa bàn Hải
Phòng” trong các đợt khảo sát tháng 11-2015,
tháng 1, 5 và 7 năm 2016 cũng đã được thu
thập, xử lý để phục vụ thiết lập hiệu chỉnh và
kiểm chứng mô hình. Cơ sở dữ liệu WOA13
[17] với độ phân giải 0,25 độ cho khu vực Biển
Đông cũng được khai thác để sử dụng làm đầu
vào cho các điều kiện biên nhiệt-muối của mô
hình tính ở phía ngoài.
Nhóm tài liệu thiết lập các kịch bản tính: Số
liệu thống kê kết quả tính mô hình kết hợp với
Vũ Duy Vĩnh, Trần Đình Lân
12
quan trắc từ vệ tinh của waveclimate-BMT
ARGOSS (2014) các đặc trưng sóng, gió trung
bình trong khoảng hơn 20 năm (1992-2014) ở
vùng biển sâu phía ngoài. Các đặc trưng trung
bình của lưu lượng nước sông trong mùa khô
và mùa mưa tại trạm đo Cửa Cấm (sông Cấm)
và Trung Trang (sông Văn Úc) trong các năm
2008-2015.
Phƣơng pháp. Ngoài các phương pháp như
GIS để số hóa địa hình, lồng ghép các bản đồ
số, phương pháp lưới lồng (phương pháp
NESTING trong Delft3D) để tạo các điều kiện
biên mở của mô hình [18], cách tiếp cận
MORFAC được sử dụng để thiết lập mô hình
theo các nhóm kịch bản tính khác nhau, qua đó
đánh giá ảnh hưởng của các quá trình động lực
đến BĐĐH đáy.
Mô hình tính sử dụng hệ lưới cong trực
giao với phạm vi vùng tính của mô hình bao
gồm các vùng nước của các cửa sông ven biển
trải dài từ vùng phía bắc khu vực vịnh Hạ Long
đến phía nam cửa Trà Lý. Miền tính có kích
thước khoảng 106 km theo chiều đông bắc-tây
nam và 64 km theo chiều tây bắc, đông nam,
với diện tích mặt nước khoảng 5.085 km2 được
chia được chia thành 628 × 488 điểm tính với
các ô lưới có kích thước biến đổi từ 8.3 m đến
340 m. Các ô lưới tính theo chiều thẳng đứng
sử dụng hệ toạ độ với 5 lớp nước với tỷ lệ
20%.
Lưới độ sâu cho mô hình tính ở khu vực
này là file số liệu địa hình đã được xử lý, gắn
với lưới tính của mô hình. Lưới tính của mô
hình thô phía ngoài dùng để NESTHD các điều
kiện biên mở phía biển cho mô hình lưới chi
tiết cũng là hệ lưới cong trực giao. Phạm vi
vùng tính của mô hình này mở rộng ra phía
ngoài gần với lưới tính tho hơn. Miền tính này
có kích thước khoảng 129 km theo phương
đông tây và 122 km theo phương bắc nam, diện
tích mặt nước khoảng 15.738 km2 được chia
thành 608 × 605 điểm tính với các ô lưới có
kích thước biến đổi từ 9,3 m đến 1.800,4 m.
Lưới tính theo chiều thẳng của mô hình này
cũng được chia thành 5 lớp nước với tỷ lệ đều
nhau từ mặt xuống đáy là 20% độ sâu cột nước.
Hình 1. Các lưới tính của mô hình (a- lưới chi tiết, b- lưới thô phía ngoài)
Kịch bản hiện trạng
(A1)
(A2)
(b) (a)
(c)
(A3)
ình Các lưới tính của mô hìn (a- lưới chi tiết, b- lưới t ô phía ngoài)
Kịch bản hiện trạng. Các kịch bản hiện trạng
được thiết lập nhằm hiệu chỉnh kiểm chứng mô
hình tính với các thời gian được thiết lập là:
tháng 10-11 năm 2015, tháng 1 năm 2016;
tháng 5 năm 2016 và tháng 7 năm 2016.
Trong mô hình Delft3D, điều kiện ban đầu
của mô hình có thể sử dụng từ kết quả tính toán
của các lần chạy trước đó thông qua các restart
file. Đối với trường hợp áp dụng cho vùng ven
bờ Hải Phòng, điều kiện ban đầu của các kịch
Tác động của các điều kiện sóng đến đặc điểm
13
bản hiện trạng là các kết quả tính toán trong
khoảng thời gian trước đó 1 tháng (tháng
10/2015, tháng 12/2016, tháng 4/2016 và tháng
6/2016).
Hai loại điều kiện biên mở được dùng trong
mô hình: Đó là các biên sông (gồm những sông
chính vào khu vực như: Bạch Đằng, Cấm, Lạch
Tray, Văn Úc, Thái Bình, Trà Lý, một số biên
sông ở khu vực Hạ Long) và các biên mở phía
biển. Đối với các biên sông, chúng tôi sử dụng
các giá trị lưu lượng nước, độ mặn, nhiệt độ,
hàm lượng TTLL trung bình theo mùa. Đối với
các biên mở phía biển, chúng tôi dùng các kết
quả tính dao động mực nước, độ muối, nhiệt độ
của mô hình phía ngoài (phương pháp
NESTHD). Số liệu nhiệt muối của mô hình từ
cơ sở dữ liệu WOA13 với độ phân giải 0,25 độ
cho khu vực Biển Đông.
Mô hình tính được lựa chọn kiểu liên kết
đồng thời của các quá trình cơ bản TĐL - sóng-
VCBC (Delft Hydraulics, 2014). Trong đó các
yếu tố chính được tính đến bao gồm: Độ muối,
nhiệt độ; ảnh hưởng của gió bề mặt; tương tác
với sóng (tính đồng thời kết hợp sóng-online
coupling) và TTLL (tính đồng thời).
Trong nghiên cứu này, chỉ xét tới ảnh
hưởng của gió, các yếu tố khí tượng khác như
độ ẩm, lượng mưa, bức xạ, nhiệt độ không khí
không tính đến trong mô hình. Số liệu gió đưa
vào mô hình tính là các số liệu quan trắc tại
Bạch Long Vĩ và Hòn Dấu trong năm 2015,
2016 với tần suất 6 h/lần.
Mô hình sóng trong nghiên cứu này được
thiết lập chạy đồng thời (online coupling) với
mô hình TĐL và mô hình vận chuyển trầm tích.
Tại mỗi thời điểm tính toán (1 h), mô hình sóng
sẽ sử dụng lưới tính, trường gió, các kết quả
tính độ sâu, mực nước, dòng chảy của mô hình
TĐL. Điều kiện biên mở của mô hình sóng còn
được tham khảo từ kết quả dự báo sóng ave
Climate ở vùng vịnh Bắc Bộ [14]. Kiểu ma sát
đáy trong mô hình sóng ở nghiên cứu này được
lựa chọn là phổ JONSWAP với hệ số ma sát
đáy có giá trị 0,067 [18]. Mô hình B&J [19, 20]
được lựa chọn để tính ảnh hưởng của nước
nông nơi diễn ra quá trình sóng đổ [18].
Các tham số tính toán khác của mô hình.
Tham số nhám đáy (bottom roughness) trong
nghiên cứu này lựa chọn sử dụng các hệ số
Manning (n) biến đổi theo không gian với giá
trị 0,019 - 0,023 m-1/3s. Các hệ số manning lớn
hơn ở điều kiện trầm tích đáy là vật liệu thô và
nhỏ hơn ở điều kiện trầm tích đáy là hạt mịn.
Căn cứ để tính toán các hệ số này dựa vào bản
đồ phân bố trầm tích tầng mặt và tài liệu hướng
dẫn lựa chọn các hệ số Manning [21, 22].
Các giá trị liên quan đến điều kiện rối có
thể được xác định do người dùng như là một
hằng số, hoặc tham số biến đổi theo không gian
hoặc tính toán với cách tiếp cận HLES (mô
phỏng xoáy lớn bình lưu - Horizontal Large
Eddy Simulation). Mô hình HLES gần đây đã
được tích hợp trong hệ thống mô hình Delft3D
theo lý thuyết của Uittenbogaard [23] và được
thảo luận trong nghiên cứu của Van Vossen
[24]. Trong nghiên cứu này, hệ số khuyếch tán
rối và nhớt rối nền theo phương ngang được lựa
chọn là 8,6 m2/s. Các hệ số này theo phương
thẳng đứng là 5×10-5 m2/s. Mô hình khép kín
rối 2 chiều là mô hình HLES trong Delft3D.
Mô hình khép kín rối 3 chiều trong nghiên cứu
này là mô hình k-є.
Tham số tính toán của mô hình trầm tích lơ
lửng. Vận tốc lắng đọng của TTLL được chọn
là 0,1 mm/s. Đây là giá trị vận tốc lắng đọng
trong nước ngọt (ws,f). Trong quá trình tính
toán, vận tốc lắng đọng ws
sẽ tính đến cả những
ảnh hưởng do độ mặn. Tiêu chuẩn ứng suất cho
quá trình xói của trầm tích (τc,e) biến đổi trong
khoảng từ 0,1 - 1,0 N/m2 [25], chúng tôi chọn là
0,21 N/m
2
. Tiêu chuẩn ứng suất cho quá trình
bồi lắng của trầm tích (τc,d) biến đổi trong
khoảng từ 0,005 - 0,25 N/m2 [25]. Trong nghiên
cứu này sau các lần hiệu chỉnh, tiêu chuẩn xói
được lựa chọn là 0,15 N/m2.
Tốc độ xói trong tự nhiên đo đạc được biến
đổi trong khoảng 10-5 - 10-3 kg/m2s. Với tỷ
trọng bùn cát đáy là 2.650 kg/m3, tỷ trọng
TTLL gần lớp biên đáy là 500 kg/m3, tốc độ
xói ban đầu được giả thiết là 2 × 10-3 kg/m2.s.
Hiệu chỉnh kiểm chứng các kết quả của mô
hình. Để đánh giá mức độ tin cậy trong các
tính toán, trong nghiên cứu này, các chỉ số
được sử dụng là hệ số tương quan Bravais-
Pearson (r) và chỉ số Nash và Sutcliffe (E). Các
kết quả tính toán dự báo sẽ tốt nhất khi r tiến
tới 1 và độ tin cậy thấp nhất khi r tiến tới 0
[26]. Giá trị E tiến tới 1 thì các kết quả dự báo
có hiệu quả tốt nhất, ngược lại khi E tiến tới 0
Vũ Duy Vĩnh, Trần Đình Lân
14
thì các dự báo không đáng tin cậy. Khi E mang
dấu âm (-), các đặc trưng trung bình tính từ
chuỗi quan trắc cho kết quả dự báo tốt hơn từ
mô hình [27].
Trong nghiên cứu này, các kết quả tính toán
của mô hình trong các kịch bản hiện trạng đã
được so sánh kiểm chứng với số liệu đo mực
nước tại Hòn Dấu, các số liệu đo dòng chảy,
hàm lượng TTLL tại khu vực cửa Nam Triệu,
ven bờ Cát Hải, Đồ Sơn. Các kết quả phân tích
sau lần hiệu chỉnh cuối cho thấy giữa đo đạc và
tính toán khá phù hợp. Hệ số E tính toán thay
đổi trong khoảng 0,67 - 0,83, hệ số tương quan
R biến đổi trong khoảng 0,76 - 0,91.
Hình 2. So sánh kết quả tính mô hình và số liệu quan trắc (a- mực nước tại Hòn Dấu
tháng11/2015; b- mực nước tại Hòn Dấu tháng 1/2016; c- thành phần dòng chảy
theo kinh hướng tại ven bờ Cát Hải 7/2016; d- thành phần dòng chảy theo vĩ hướng
tại ven bờ Cát Hải tháng 7/2016; e- hàm lượng TTLL tầng mặt tại khu vực cửa Nam Triệu
tháng 11/2015; f- hàm lượng TTLL tầng đáy tại khu vực cửa Nam Triệu tháng 11/2015)
(a) (b)
(c) (d)
(e) (f)
Tác động của các điều kiện sóng đến đặc điểm
15
Các kịch bản tính tính toán dự báo. Mỗi điều
kiện sóng khác nhau có ảnh hưởng khác nhau
đến các quá trình VCBC của khu vực. Tuy
nhiên, trong thực tế việc đưa tất cả các điều
kiện sóng này vào mô hình tính là không thể do
khối lượng tính toán cực kỳ lớn, vì vậy gần đây
người ta đưa ra các phương pháp nhóm sóng để
lựa chọn các điều kiện sóng giống nhau và
nhóm lại thành một số nhóm sóng tiêu biểu đưa
vào mô hình tính. Việc lựa chọn các nhóm sóng
đặc trưng này không làm ảnh hưởng đến kết
quả tính toán chung trong khi lại giảm đáng kể
thời gian tính toán [28]. Với những lợi ích như
vậy, phương pháp nhóm sóng đã được ứng
dụng nhiều trong các nghiên cứu liên quan đến
VCBC, BĐĐH đáy [4, 29, 30]. Trong nghiên
cứu này, phương pháp nhóm sóng cũng được
sử dụng để nhóm các điều kiện sóng khí hậu
đưa vào biên mở của mô hình sóng.
Bảng 1. Các kịch bản tính toán cho mùa khô
STT
Kịch bản
tính
Hướng sóng,
gió
Tần suất xuất
hiện (%)
Thời gian
(ngày)
Sóng Tốc độ gió
(m/s)
fmorfac
Hs, res (m) Tp (s)
1 hpk0* 13,35 24,36 1,652
2 hpk1
NE (đông bắc)
0,198 0,36 0,99 6,5 5,5 0,024
3 hpk2 1,907 3,48 2,05 7 7,5 0,236
4 hpk3 0,801 1,46 3,51 7,5 10,5 0,099
5 hpk4 0,042 0,08 5,11 9 14,5 0,005
6 hpk5
E (đông)
0,495 0,90 0,99 7,5 4,5 0,061
7 hpk6 4,258 7,77 2,10 8,5 7,5 0,527
8 hpk7 6,012 10,97 3,76 9 11,5 0,744
9 hpk8 2,660 4,85 6,03 10 14 0,329
10 hpk9
SE (đông nam)
0,291 0,53 1,00 9 5,5 0,036
11 hpk10 3,607 6,58 2,15 9,5 7,5 0,446
12 hpk11 5,508 10,05 3,72 10,5 10,5 0,681
13 hpk12 2,000 3,65 5,83 11 13 0,247
14 hpk13
S (nam)
0,327 0,60 1,00 9,5 4,5 0,040
15 hpk14 4,303 7,85 2,18 10 7 0,532
16 hpk15 8,050 14,69 3,74 11 9,5 0,996
17 hpk16 4,429 8,08 6,13 12 13 0,548
18 hpk17 0,051 0,09 10,96 13 15 0,006
19 hpk18
SW (tây nam)
0,393 0,72 1,00 9 4,5 0,049
20 hpk19 7,274 13,27 2,16 10 6,5 0,900
21 hpk20 15,456 28,21 3,80 11 8,5 1,912
22 hpk21 15,408 28,12 6,60 12,5 11,5 1,906
23 hpk22 1,130 2,06 10,89 13,5 15,5 0,140
24 hpk23
N (bắc)
0,135 0,25 1,00 6,5 5,5 0,017
25 hpk24 1,292 2,36 2,04 7 7,5 0,160
26 hpk25 0,558 1,02 3,47 7,5 10,5 0,069
27 hpk26 0,069 0,13 5,47 9 14,5 0,009
Ghi chú: * Lặng sóng gió và các hướng gió sóng ít tác động đến khu vực (N, NW).
Để đánh giá tác động của các điều kiện sóng
đến quá trình vận chuyền bùn cát, BĐĐH đáy ở
khu vực nghiên cứu, các kịch bản tính toán được
thiết lập theo phương pháp MORFAC trong mô
hình Delft3D. Chi tiết về phương pháp này đã
được trình bày trong một số công bố liên quan
[1, 2, 4, 5]. Trong nghiên cứu này, tần suất xuất
hiện các khoảng độ cao sóng ứng với vận tốc gió
khác được tính toán từ số liệu tổng hợp trong
hơn 20 năm (1992-2014) của BMT ARGOSS
[14]. Sau đó các tần suất sóng này được nhóm
thành các nhóm sóng khác nhau theo phương
pháp nhóm sóng [31, 32].
Các nhóm kịch bản sẽ được thiết lập dựa
trên ảnh hưởng của gió, sóng, lưu lượng nước
sông. Ở khu vực nghiên cứu có sự biến động rõ
Vũ Duy Vĩnh, Trần Đình Lân
16
rệt theo mùa của hàm lượng TTLL từ sông, lưu
lượng nước sông đưa ra vùng ven bờ và hướng
sóng gió tác động nên 2 nhóm kịch bản tính
theo các mùa là: mùa khô (bảng 1) và mùa mưa
(bảng 2). Mùa khô gồm các tháng 1, 2, 3, 4, 11,
12 và mùa mưa là các tháng 5-10. Với mỗi kịch
bản thời gian chạy là khoảng 15 ngày, bước
thời gian tính (t): 30 giây.
Bảng 2. Các kịch bản tính toán cho mùa mưa
STT
Kịch bản
tính
Hướng sóng,
gió
Tần suất xuất
hiện (%)
Thời gian
(ngày)
sóng Tốc độ
gió (m/s)
fmorfac
Hs, res (m) Tp (s)
1 hpm0 14,32 26,13 1,7714
2 hpm1
NE (đông bắc)
0,549 1,00 0,98 7,0 5,5 0,0680
3 hpm2 1,722 3,14 1,85 8,0 8,0 0,2131
4 hpm3 0,411 0,75 3,58 8,5 11,5 0,0508
5 hpm4 0,032 0,06 5,24 9,5 14,5 0,0040
6 hpm5
E (đông)
2,180 3,98 0,99 7,0 5,0 0,2697
7 hpm6 9,047 16,51 2,02 8,0 8,5 1,1194
8 hpm7 4,690 8,56 3,57 8,5 12,0 0,5803
9 hpm8 0,750 1,37 5,68 9,5 15,0 0,0928
10 hpm9
SE (đông
nam)
2,014 3,68 0,98 7,5 4,5 0,2492
11 hpm10 7,095 12,95 2,01 8,5 8,5 0,8778
12 hpm11 3,296 6,02 3,50 9,5 12,5 0,4078
13 hpm12 0,239 0,44 5,65 10,0 15,0 0,0296
14 hpm13
S (nam)
2,838 5,18 0,96 8,0 5,0 0,3512
15 hpm14 9,791 17,87 2,00 9,0 8,5 1,2115
16 hpm15 4,528 8,26 3,54 10,0 11,0 0,5602
17 hpm16 0,709 1,29 5,66 11,0 13,5 0,0877
18 hpm17
SW (tây nam)
4,549 8,30 0,98 8,0 5,0 0,5628
19 hpm18 17,223 31,43 2,03 9,0 7,5 2,1310
20 hpm19 9,617 17,55 3,58 10,0 9,5 1,1899
21 hpm20 2,599 4,74 6,06 11,5 13,0 0,3216
22 hpm21 0,041 0,08 10,76 12,5 15,5 0,0051
23 hpm22
N (bắc)
0,357 0,65 0,99 7,0 5,5 0,0442
24 hpm23 1,249 2,28 1,91 8,0 8,0 0,1546
25 hpm24 0,002 0,003 3,43 8,5 11,5 0,0002
Ghi chú: * Lặng sóng gió và các hướng gió sóng ít tác động đến khu vực (N, NW).
Các điều kiện sóng trong bảng 1 và bảng 2
là kết quả phân tích và nhóm các khoảng độ
cao sóng khác nhau từ bảng tần suất sóng theo
mùa ở khu vực này. Sóng chứa đựng tất cả các
tác động của sóng gió theo các hướng, cấp độ
và thời gian tác động khác nhau trung bình
trong nhiều năm. Trong đó có các khoảng giá
trị độ cao sóng lớn với tần suất xuất hiện ngắn
chỉ có thể xảy ra trong gió mùa, dông lốc hoặc
trong bão (áp thấp nhiệt đới).
Để đánh giá đặc điểm VCBC ở khu vực
này, chúng tôi thiết lập một số mặt cắt trong
khu vực này (hình 2). Các mặt cắt này khống
chế lượng bùn cát di chuyển giữa các khu vực
phía ngoài và phía trong cửa Nam Triệu (A1)
phía đông bắc - tây nam bán đảo Đồ Sơn (A2),
giữa vùng biển đông nam Cát Bà và Hạ Long
(A3).
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Tác động của trƣờng sóng gió đến phân bố
trầm tích lơ lửng. Đặc điểm phân bố và vận
chuyển TTLL có liên quan chặt chẽ đến chế độ
TĐL và nguồn cung cấp trầm tích. Trong điều
kiện có sự ổn định của dòng trầm tích từ các
sông đưa ra, sự phân bố TTLL ở vùng cửa sông
ven biển Hải Phòng phụ thuộc chủ yếu vào dao
động triều và các điều kiện sóng gió.
Tác động của các điều kiện sóng đến đặc điểm
17
Hình 3. Phân bố TTLL (mg/l) vùng cửa sông ven biển Hải Phòng trong pha triều xuống
(a- lặng sóng gió mùa khô, b- lặng sóng gió mùa mưa; c- sóng gió hướng E mùa khô,
d- sóng gió hướng E mùa mưa; e- sóng gió SE mùa khô; f- sóng gió SE mùa mưa)
(a) (b)
(c) (d)
(e) (f)
Vũ Duy Vĩnh, Trần Đình Lân
18
Trong trường hợp lặng sóng, vùng có hàm
lượng TTLL cao chủ yếu tập trung ngay gần
các cửa sông với giá trị khoảng 40 - 60 mg/l
(hình 3a, 3b). Các khu vực khác hàm lượng
TTLL khá nhỏ. Điều này có thể được giải thích
là do sự thiếu vắng tác động của sóng. Yếu tố
ảnh hưởng đến phân bố và VCBC chủ yếu do
dòng triều và dòng chảy sông. Khi xuất hiện
của sóng, gió với các hướng khác nhau, hàm
lượng TTLL tăng lên r rệt, vùng nước đục do
hàm lượng TTLL trong nước tăng mở rộng từ
vùng cửa sông ra phía ngoài (hình 3c, 3d, 3e,
3f).
Hàm lượng TTLL từ các sông khu vực Hải
Phòng trong những năm gần đây không có sự
chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô. Tuy
nhiên do sự chênh lệch về lưu lượng nước giữa
các mùa từ các sông đưa ra vùng ven bờ cũng
ảnh hưởng lớn đến phân bố và VCBC ở khu
vực này. Mặc dù vậy, với quy mô thời gian
ngắn, phân bố và biến động của hàm lượng
TTLL ở khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng
vẫn thể hiện sự phụ thuộc chặt chẽ vào dao
động mực nước thủy triều. Trong pha triều lên
trường dòng chảy có hướng từ phía biển vào
các cửa sông vì vậy vùng có hàm lượng TTLL
cao bị đẩy dần về phía lục địa. Ảnh hưởng của
vùng nước có hàm lượng TTLL cao (trên
100 mg/l) chỉ ở sát phía ngoài cửa các cửa
sông. Các khu vực khác hàm lượng TTLL có
giá trị khá nhỏ.
Vào pha triều xuống, các khối nước từ sông
hướng ra biển có điều kiện phát triển mạnh hơn
nên dòng TTLL phát triển ra phía biển nhiều
hơn. Sự tương tác của dòng chảy sông với các
điều kiện động lực khác như sóng, thủy triều
làm cho ứng suất đáy tăng lên. Vì vậy hàm
lượng TTLL trong pha triều này thường có giá
trị khá lớn với pha triều lên. Sự xâm nhập của
các khối nước biển mạnh nhất vào thời điểm
nước lớn, diễn biến lan truyền của TTLL tiếp
tục xu hướng của pha triều lên, đẩy các khối
nước sông vào sát phía lục địa. Sự phát tán của
TTLL từ các sông ra vùng ven biển bị hạn chế
nhất và chỉ còn thấy xuất hiện phía sâu trong
các sông.
Tác động của trƣờng sóng gió đến vận
chuyển bùn cát. Phân tích đánh giá các kết quả
VCBC qua một số mặt cắt không chế ở các khu
vực khác nhau (hình 1c) cho thấy dòng bùn cát
di chuyển qua các mặt cắt này luôn biến động
mạnh theo các điều kiện thủy động lực, theo
mùa và các hướng sóng, gió tác động.
Tại mặt cắt khu vực phía ngoài Đồ Sơn
(A2, hình 1), khống chế dòng bùn cát di chuyển
giữa các vùng phía đông bắc và tây nam bán
đảo Đồ Sơn. Các kết quả tính toán cho thấy
trong điều kiện lắng sóng, dòng bùn cát di
chuyển qua mặt cắt này rất nhỏ với giá trị cả
năm chi khoảng 0,15 m3 (bảng 3) với hướng di
chuyển từ phía tây nam (khu vực cửa sông Văn
Úc) lên. Điều này cho thấy trong điều kiện
không có ảnh hưởng của sóng, dòng triều và
dòng chảy của sông không có vai trò lớn trong
việc VCBC ở khu vực này.
Bảng 3. Tổng lượng bùn cát vận chuyển theo mùa và năm qua mặt cắt Đồ Sơn
Kịch bản/Hướng
c
3
) - mùa khô c
3
) - a ưa
ả
Lên X ng n b ng Lên X ng n b ng
ng 0,07 0,08 0,15
NE 0,00 -6.121,8 -6121,0 0,00 -1,11 -1,11 -6.122,1
E 394,2 -916.045,2 -915.651,0 0,0 -9,8 -9,8 -915.660,7
SE 386.745,8 0,0 386.745,8 212.927,0 0,0 212.927,0 599.672,8
S 1.932.433,4 0,0 1.932.433,4 1.004.420,2 0,0 1.004.420,2 2.936.853,6
SW 2.733.127,9 0,0 2.733.127,9 1.947.825,8 0,0 1.947.825,8 4.680.953,7
N 6,3 -12.919,4 -12.913,1 336,4 -9.274,2 -8.937,8 -21.850,9
Lên 5.052.307,1 3.165.173,0 8.217.480,2
X ng -934.685,0 -8.948,7 -943.633,7
n b ng 4.117.622,1 3.156.224,3 7.273.846,4
Ghi chú: Dấu âm (-) di chuyển từ đông bắc xuống tây nam.
Tác động của các điều kiện sóng đến đặc điểm
19
Tại mặt cắt này, các hướng sóng gió như N,
NE, làm tăng cường sự di chuyển của dòng bùn
cát từ phía đông bắc xuống phía tây nam.
Trong khi đó các hướng sóng như SE, S và S
lại tăng cường sự di chuyển của dòng bùn cát
từ phía cửa Văn Úc lên phía đông bắc của bán
đảo Đồ Sơn (bảng 3). Các kết quả tính toán cho
thấy độ cao sóng và vận tốc gió lớn là yếu tố
quyết định đến sự di chuyển của dòng bùn cát
khu vực này, trong khi đó các điều kiện lặng
sóng gió, hoặc sóng có độ cao nhỏ lượng bùn
cát di chuyển qua mặt cắt này có giá trị khá
nhỏ. Đáng chú ý là lượng bùn cát di chuyển
qua mặt cắt này trong các tháng mùa khô lớn
hơn so với mùa mưa. Cân bằng bùn cát đưa lên
từ phía cửa Văn Úc là khoảng 7,3 triệu m3,
trong đó di chuyển lên tổng cộng khoảng 8,2
triệu m3, di chuyển xuống khoảng 0,9 triệu m3
(bảng 3).
Ở mặt cắt Đồ Sơn - Cát Hải (A1, hình 1c),
không chế dòng bùn cát đi vào và đi ra từ khu
vực các cửa Nam Triệu, Lạch Tray ra vùng biển
phía ngoài. Trong điều kiện lặng sóng gió, các
kết quả tính toán cho thấy dòng bùn cát đi ra từ
các cửa sông qua mặt cắt này khoảng 2027,9 m3
trong đó chủ yếu do mùa khô (bảng 4). Trong
khi với điều kiện lặng sóng gió trong mùa mưa,
gần như không có sự VCBC qua mặt cắt này.
Điều đó cho thấy dòng bùn cát từ các sông ở khu
vực này khi lặng sóng gió vào mùa mưa chủ yếu
bị giữ lại ngay tại các cửa sông gây bồi lắng cho
khu vực này. Ngược lại, vào mùa khô khi quá
trình xói lở đáy tăng lên làm tăng cường dòng
bùn cát di chuyển qua các mặt cắt.
Bảng 4. Tổng lượng bùn cát vận chuyển theo mùa và năm qua mặt cắt Đồ Sơn - Cát Hải
Kịch bản/Hướng
c
3
) - mùa khô c (m
3
) - a ưa
ả
Ra V o n b ng Ra V o n b ng
ng 2.027,9 -0,01 2.027,9
NE 23.478,0 0,0 23.478,0 0,1 0,0 0,1 23.478,1
E 668.681,5 0,0 668.681,5 38,2 0,0 38,2 668.719,6
SE 111.139,5 0,0 111.139,5 127.308,1 0,0 127.308,1 238.447,5
S 74,9 -180.420,4 -180.345,5 2.060,2 -65497,3 -63.437,1 -243.782,7
SW 87.384,9 -11.260,2 76.124,7 113.394,3 -878,1 112.516,2 188.640,9
N 9.190,4 0,0 9.190,4 8.190,1 0,0 8.190,1 17.380,6
Ra 890.642,0 248.052,7 1.138.694,7
o -180.345,5 -63437,1 -243782,7
n b ng 710.296,4 184.615,6 894.912,0
Ghi chú: Dấu âm (-) di chuyển từ phía ngoài vào.
Các kết quả tính toán cho thấy, trong điều
kiện sóng gió tăng lên, làm tăng mạnh dòng
bùn cát di chuyển qua mặt cắt này, nhất là trong
mùa khô (bảng 4). Tác động của các hướng
sóng cũng thể hiện sự ảnh hưởng khác nhau
đến dòng bùn cát di chuyển qua mặt cắt này.
Trong đó chỉ có hướng sóng S gây ra sự di
chuyển của dòng bùn cát từ phía ngoài vào.
Ngược lại, sóng từ các hướng còn còn lại đều
làm cho dòng bùn cát di chuyển từ phía cửa
sông ra ngoài. Cân bằng chung cả năm qua mặt
cắt này cho thấy dòng bùn cát đi ra chiếm ưu
thế với giá trị là 894.912 m3, trong đó dòng đi
ra tổng cộng khoảng 1,1 triệu m3 và dòng đi
vào khoảng 0,24 triệu m3 (bảng 4).
Tại mặt cắt Cát Bà (A3, hình 1c), khống
chế sự trao đổi dòng bùn cát giữa vùng biển
Hải Phòng và vùng biển khu vực vịnh Hạ
Long. Các kết quả tính toán, phân tích cho
thấy với điều kiện lặng sóng gió, ảnh hưởng
của dòng triều làm cho dòng bùn cát có hướng
di chuyển chủ yếu từ phía vịnh Hạ Long
xuống khu vực đông nam Cát Bà (khoảng
3.540 m
3), trong đó phần lớn trong mùa khô
(bảng 4). Một số hướng sóng gió làm tăng
cường sự di chuyển bùn cát từ phía vịnh Hạ
Long về khu vực đông Nam Cát Bà như
hướng NE, E và hướng N. Ngược lại các
hướng sóng gió như SE, S, S làm tăng sự
VCBC từ khu vực biển Hải Phòng về phía
vịnh Hạ Long - Bái Tử Long. Cân bằng chung
cho thấy dòng bùn cát qua mặt cắt này trung
bình khoảng 3,5 triệu m3/năm, trong đó di
chuyển lên khoảng 3,6 triệu m3 và di chuyển
xuống theo hướng ngược lại khoảng 0,1 triệu
m
3/năm (bảng 5).
Vũ Duy Vĩnh, Trần Đình Lân
20
Bảng 5. Tổng lượng bùn cát vận chuyển theo mùa và năm qua mặt cắt Cát Bà
Kịch bản/Hướng
c
3
) - mùa khô c
3
) - a ưa
ả
Lên X ng n b ng Lên X ng n b ng
ng -3.516,0 -24,4 -3.540,4
NE 0,0 -12.263,5 -12.263,5 0,0 -2,9 -2,9 -12.266,4
E 0,0 -80.054,1 -80.054,1 0,0 -27,3 -27,3 -80.081,3
SE 55.759,5 -106,1 55.653,4 38.679,6 -11,3 38.668,3 94.321,7
S 703.246,2 -117,5 703.128,7 435.240,5 0,0 435.240,5 1.138.369,3
SW 1.500.554,1 -62,2 1.500.492,0 885.810,2 0,0 885.810,2 2.386.302,2
N 0,0 -7.663,9 -7.663,9 0,0 -4.522,1 -4.522,1 -12186,0
Lên 2.259.274,1 1.359.719,1 3.618.993,2
X ng -103.497,5 -4.576,7 -108.074,2
n b ng 2.155.776,6 1.355.142,4 3.510.919,0
Ghi chú: dấu âm (-) di chuyển từ phía ngoài vào.
Như vậy, sự VCBC ở khu vực ven biển Hải
Phòng biến động r rệt theo các hướng sóng
khác nhau và tăng lên r rệt khi độ cao sóng gió
tăng. Quá trình xói lở đáy diễn ra nhiều hơn
trong mùa khô cũng làm cho dòng bùn cát di
chuyển qua các mặt cắt trong mùa khô thường
lớn hơn so với mùa mưa.
Tác động của trƣờng sóng gió đến biến động
địa hình. Biến động địa hình (BĐĐH) đáy
vùng cửa sông ven biển Hải Phòng là kết quả
của sự tương tác giữa các quá trình thủy động
lực - sóng, các quá trình VCBC. Trong khi các
yếu tố này ở khu vực nghiên cứu luôn luôn thay
đổi theo diễn biến của các yếu tố như dòng bùn
cát-nước từ hệ thống sông đưa ra, dao động
mực nước triều và tác động của các trường
sóng, gió. Chính vì vậy, trong nghiên cứu này,
địa hình đáy ven biển và vùng cửa sông Hải
Phòng được tính toán riêng ra với 52 kịch bản
tính khác nhau (bảng 1, bảng 2), mỗi kịch bản
tính thể hiện những ảnh hưởng riêng của trường
sóng gió đến địa hình đáy ven bờ Hải Phòng.
Trong điều kiện lặng sóng gió, nguồn bùn
cát từ sông đưa ra trong mùa khô có điều kiện
lắng đọng nhiều hơn. Các kết quả tính toán cho
thấy, trong trường hợp này, xu thế bồi tụ chiếm
ưu thế. Tốc độ bồi thấp với giá trị khoảng 2 -
10 mm. Một số vùng có tốc độ bồi cao hơn là
ngay sát các cửa sông - nơi tiếu nhận dòng bùn
cát từ bờ đưa ra.
Khi độ cao sóng tăng, vận tốc gió tăng dần,
ứng xuất đáy biển tăng lên, quá trình VCBC,
đặc biệt là ở vùng ven bờ tăng dần. BĐĐH đáy
thể hiện rõ rệt hơn làm xuất hiện một số vùng
bồi tụ nhẹ, xen lẫn với xói lở ở khu vực cửa
sông, luồng tàu. Tuy nhiên hướng sóng, hướng
gió khác nhau cũng thể hiện những ảnh hưởng
khác nhau đến địa hình đáy ở khu vực này.
Trong thời kỳ mùa khô, các sóng hướng N,
NE ít ảnh hưởng đến biến động địa hình ở khu
vực này nhất. Dưới ảnh hướng của sóng và gió
các hướng này, chỉ làm bồi tụ nhẹ cho hầu hết
khu vực nghiên cứu với giá trị phổ biến 5 -
10 mm, trong khi nó cũng gây ra xói nhẹ ở khu
vực ven bờ Văn Úc - Thái Bình.
Các hướng sóng còn lại như E, SE, S và
S thể hiện ảnh hưởng r hơn khi tạo thành
các vùng bồi tụ với độ lớn khoảng 10 - 15 mm
ở khu vực phía trong lòng sông Cấm, Bạch
Đằng, khu vực cửa Nam Triệu và Lạch Huyện.
Đồng thời cũng xuất hiện một số khu vực xói
nhẹ ở cạnh các lạc triều ven bờ Văn Úc-Thái
Bình và Lạch Tray. Đáng chú ý là trong các
kịch bản tính toán đều cho thấy sự xuất hiện
vùng bồi tụ nhẹ ở khoảng độ sâu 6 m trở ra đến
khoảng 15 m trở lại.
Trong mùa mưa, tác động từ các hướng
sóng N và NE cũng thể hiện tượng tự như trong
mùa khô với những ảnh hưởng nhỏ và chủ yếu
gây ra bồi tụ nhẹ ở khu vực cửa sông ven biển
Hải Phòng. Với các hướng sóng khác như E,
SE, S và S làm tăng mạnh tốc độ bồi ở lòng
dẫn vào các cửa sông, khu vực cửa Nam Triệu,
Lạch Huyện. So với mùa khô, ảnh hưởng của
các hướng sóng gió này đến việc tạo thành một
số vùng bồi tự trở lên r hơn. Đặc biệt là khu
vực bồi ở phía ngoài đường đẳng sâu 6 m. Điều
này có thể được giải thích là do dòng nước từ
sông trong mùa mưa đưa ra lớn hơn nên đẩy
Tác động của các điều kiện sóng đến đặc điểm
21
lượng bùn cát từ sông đi ra xa bờ hơn tạo thành
các vùng bồi tụ phía ngoài.
Biến động địa hình trong mùa khô được
tổng hợp từ tất cả các kịch bản tính toán (từ
kihcj bản hpk0 đến hpk26, bảng 1) cho thấy
trong toàn bộ mùa khô, địa hình đáy ở khu vực
này thể hiện xu thế bồi là chủ yếu. Các vùng
bồi tụ lớn là khu vực phía ngoài cửa Nam
Triệu, ven bờ phía bắc Đình Vũ, tây nam Cát
Hải, cửa Lạch Tray, Văn Úc với độ lớn khoảng
10 - 30 mm. Khu vực ven bờ phía ngoài đường
đẳng sâu 6 m cũng thể hiện xu thế bồi với độ
lớn khoảng 10 - 20 mm. Trong khi đó ở vùng
gần bờ là đới nằm trong vùng ảnh hưởng do sự
tương tác của dòng chảy sông và sóng nên thể
hiện xu thế xói (hình 4a).
Hình 4. Tổng hợp biến động địa hình đáy (mm) vùng cửa sông ven biển Hải Phòng
(a- tổng cộng trong mùa khô, b- tổng cộng trong mùa mưa, c- tổng cộng cả năm)
(a) (c)
(c)
Vũ Duy Vĩnh, Trần Đình Lân
22
Tổng hợp các tác động của sóng-gió với
hướng tới và độ lớn khác nhau trong mùa mưa
ở khu vực này (từ tất cả các kịch bản tính hpm0
đến hpm24, bảng 2) cũng thể hiện xu thế bồi tụ
chiếm ưu thế với giá trị phổ biến từ 10 -
20 mm. So với mùa khô vùng bồi tụ trong mùa
mưa trải rộng hớn nhưng giá trị bồi tương đối
đồng nhất. Trong mùa mưa, ít xuất hiện những
vùng bồi tụ lớn cũng như những vùng xói lở
xen kẽ như trong mùa khô (hình 4b).
Kết quả tổng hợp tất cả các kịch bản tính
toán với khoảng độ cao sóng, vận tốc gió,
hướng truyền sóng tới và dòng nước-bùn cát từ
sông đưa ra theo màu đã cho bức tranh chung
về biến động địa hình đáy trung bình năm ở
vùng cửa sông ven biển Hải Phòng. Các kết
quả tính toán cho thấy xu thế bồi tụ vẫn là chủ
yếu với giá trị phổ biến trong khoảng 10 -
40 mm/năm. Một số khu vực bồi tụ với tốc độ
cao là ven bờ phía bắc Đình Vũ, cửa Nam
Triệu, tây nam Cát Hả và tây nam Đồ Sơn.
Dưới những ảnh hướng do sự tương tác sóng-
dòng chảy sông-triều, cũng hình thành 1 số khu
vực xói lở ở gần dải ven bờ. Tuy nhiên những
vùng bồi xói này liên biến đổi, thay đổi theo
các điều kiện thủy động lực. Ở phía ngoài, xu
thế bồi tụ được thế hiện với tốc độ bồi khoảng
10 - 25 mm/năm và khá ổn định do ít tác động
bởi sự ảnh hưởng của các trường sóng gió
(hình 4c).
Thảo luận. Từ những kết quả phân tích về
phân bố TTLL ở khu vực ven biển Hải Phòng
cho thấy phạm vi phân bố của TTLL ở khu vực
cửa sông ven biển Hải Phòng hiện nay chủ yếu
do các tác động của sóng. Trong điều kiện
không có ảnh hưởng của sóng, các nguồn
TTLL từ lục địa tập trung ngay gần các cửa
sông với hàm lượng khá nhỏ (dưới 100 mg/l),
thể hiện rõ trong các kết quả của kịch bản tính
đối với với trường hợp lặng sóng gió (hpk0 và
hpm0). Đây có thể là một trong những biểu
hiện do tác động do giảm dòng bùn cát và thay
đổi phân phối nước của hệ thống sông Hồng-
Thái Bình sau khi có đập Hòa Bình[1].
Mặc dù vào mùa mưa hàm lượng TTLL và
lưu lượng nước sông đưa ra lớn hơn so với mùa
khô nhưng dòng bùn cát vận chuyển qua các
mặt cắt trong mùa khô lớn hơn hẳn so với mùa
mưa. Điều này cho thấy vào mùa khô xu thế
xói diễn ra lớn hơn mùa mưa. Các kết quả này
cũng phù hợp với nghiên cứu của van Maren
[33] khi cho rằng sự phân bố bùn cát ở vùng
cửa sông Hồng vào mùa mưa chỉ là tạm thời,
khi vào mùa khô do ảnh hưởng của các điều
kiện động lực trong khi thiếu hụt bùn cát cung
cấp từ sông, quá trình xói đáy tăng lên đồng
thời cũng làm tăng lượng bùn cát vận chuyển
qua các mặt cắt ở trong khu vực nghiên cứu.
Theo các kết quả nghiên cứu gần đây dựa
trên phương pháp nuclit phóng xạ 210Pb và
137
Cs để đánh giá tốc lắng đọng và tuổi trầm
tích tại một số cột khoan ven bờ Hải Phòng, tốc
độ lắng đọng trầm tích trung bình ở khu vực
này trong vòng từ vài chục đến hằng trăm năm
có giá trị biến đổi trong khoảng từ 6,3 -
10,03 mm/năm [34, 35]. So với các kết quả
nghiên cứu này, tốc độ bồi tính bằng mô hình
tính có giá trị cao hơn và phổ biến khoảng 10 -
25 mm/năm (hình 4c), có thể lý giải điều này là
trong những năm gần đây số lượng bão và áp
thấp nhiệt đới đổ bộ vào khu vực này có xu
hướng giảm so với các giai đoạn trước kia.
Phân tích từ số liệu thống kê của Trung tâm
Khí tượng Thủy văn Quốc gia trong khoảng 52
năm (từ 1962-2014) đã có 83 cơn bão và áp
thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến vùng ven biển
Hải Phòng, trung bình 1,6 cơn bão/năm. Trong
đó trong vòng 22 năm trở lại đây (từ 1992-
2014, thời gian tính toán BĐĐH trong nghiên
cứu này) trung bình chỉ có 1,5 cơn bão/năm. Số
lượng bão lớn (từ cấp 11 trở lên) đổ bộ vào
vùng ven biển Hải Phòng trong vòng 22 năm
qua (1992-2014) cũng thấp hơn (trung bình
0,22 cơn/năm) đáng kể so với giai đoạn 30 năm
trước đó (1962-1991) với khoảng 0,4 cơn/năm.
Đặc biệt, trong vòng 52 năm qua ở khu vực này
xuất hiện 9 cơn bão lớn hơn cấp 12 thì trong 22
năm gần đây (1992-2014) chỉ có 1 cơn bão lớn
hơn cấp 12 ảnh hưởng đến vùng này. Các
nghiên cứu liên quan cũng chỉ ra rằng sóng-gió
cực trị tác động mạnh đến quá trình xói đáy
[36] và có thể làm tăng mức độ xói đáy biển lên
tới 17 lần so với các điều kiện lặng sóng [37].
Vì vậy BĐĐH đáy biển sau các điều kiện thời
tiết cực đoan có thể bằng diễn biến của quá
trình đó trong nhiều tháng hoặc nhiều năm [38,
39]. Như vậy, xu thế bồi nhiều hơn trong kết
quả tính BĐĐH đáy biển ven biển Hải Phòng là
một phần kết quả tác động của sự suy giảm cả
về số lượng và cường độ bão và áp thấp nhiệt
đới ở khu vực này trong những năm gần đây.
Tác động của các điều kiện sóng đến đặc điểm
23
Điều này hoàn toán trái ngược với xu thế xói lở
tăng trong những năm gần đây ở vùng ven bờ
châu thổ sông Mê Kông [10, 12].
KẾT LUẬN
Phương pháp tiếp cận MORFAC có thể
cung cấp những hiểu biết về vai trò của từng
nhóm yếu tố động lực ứng với các điều kiện
khác nhau đến BĐĐH đáy biển ở vùng cửa
sông ven biển Hải Phòng. Thông qua các kết
quả của các nhóm kịch bản tính đó đã cho thấy
tác động khác nhau của các trường sóng gió
đến phân bố TTLL, VCBC và BĐĐH ở khu
vực này trong các điều kiện sóng khác nhau,
trong mùa khô, mùa mưa và cả năm.
Mặc dù chế độ TĐL chịu sự chi phối của
dao động mực nước thủy triều nhưng động lực
sóng lại là yếu tố chính quyết định đến đặc
điểm VCBC và BĐĐH đáy ở vùng ven biển
Hải Phòng. Dưới ảnh hưởng các điều kiện sóng
kết hợp với các yếu tố động lực khác, luôn xuất
hiện các vùng bồi xói xen kẽ ở vùng ven biển,
cửa sông Hải Phòng nhưng các vị trí bồi xói có
thể bị thay đổi, đặc biệt là khi có sự thay đổi về
độ cao và hướng sóng tác động.
Do ảnh hưởng của các điều kiện động lực
và sóng, trong mùa khô xuất hiện nhiều vùng
xói hơn nhưng các vùng bồi cũng có độ cao khá
lớn so với mùa mưa. Trong khi đó vào mùa
mưa, diện tích các vùng bồi lớn hơn nhưng tốc
độ bồi tụ khá đồng đều so với mùa khô. Biến
động bồi/xói ở vùng cửa sông ven biển Hải
Phòng thường diễn ra trong khoảng độ sâu 5 -
6 m trở lại với tốc độ khoảng 20 - 50 mm/năm.
Ở ngoài ngoài khoảng độ sâu 6 m, địa hình đáy
khá ổn định và thể hiện xu thế bồi với tốc độ
bồi hằng năm phổ biến trong khoảng 10 -
20 mm/năm.
Trong những năm gần đây, mặc dù có sự
suy giảm mạnh dòng bùn cát do hệ thống sông
đưa ra do ảnh hưởng của các đập chứa thượng
nguồn nhưng các kết quả tính toán cho thấy xu
thế bồi tụ ở vùng cửa sông ven biển Hải Phòng
vẫn chiếm ưu thế hơn so với xu thế xói. Đây có
thể là một trong những hệ quả của sự suy giảm
số lượng và cường độ bão đổ bộ vào khu vực
này trong vòng hơn 20 năm trở lại đây.
Lời cảm ơn: Bài báo nhận được sự hỗ trợ về tài
liệu của đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành
phố Hải Phòng: “Nghiên cứu xây dựng luận cứ
phục vụ lập quy hoạch các bãi đổ bùn cát do
nạo vét trên địa bàn Hải Phòng” và đề tài
NĐT.01.CHN/15, các tác giả xin chân thành
cảm ơn sự hỗ trợ quý báu đó.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vinh, V. D., Ouillon, S., Thanh, T. D., and
Chu, L. V., 2014. Impact of the Hoa Binh
dam (Vietnam) on water and sediment
budgets in the Red River basin and delta.
Hydrology and Earth System Sciences,
18(10), 3987-4005.
2. Lesser, G. R., Roelvink, J. V., Van Kester,
J. A. T. M., and Stelling, G. S., 2004.
Development and validation of a three-
dimensional morphological model. Coastal
Engineering, 51(8-9), 883-915.
3. Roelvink, J. A., 2006. Coastal
morphodynamic evolution techniques.
Coastal Engineering, 53(2-3), 277-287.
4. Lesser, G. R., 2009. An approach to
medium-term coastal morphological
modeling, PhD thesis. Delft University of
Technology, ISBN 978-0-415-55668-2.
5. Tonnon, P. K., Van Rijn, L. C., and
Walstra, D. J. R., 2007. The
morphodynamic modelling of tidal sand
waves on the shoreface. Coastal
Engineering, 54(4), 279-296.
6. Jones, O. P., Petersen, O. S., and Kofoed-
Hansen, H., 2007. Modelling of complex
coastal environments: Some considerations
for best practise. Coastal Engineering,
54(10), 717-733.
7. Dissanayake, D. M. P. K., Ranasinghe, R.,
and Roelvink, J. A., 2009. Effect of sea
level rise in tidal inlet evolution: A
numerical modelling approach. Journal of
Coastal Research, 56(2), 942-946.
8. Van der Wegen, M., and Roelvink, J. A.,
2008. Long-term morphodynamic evolution
of a tidal embayment using a two-
dimensional, process-based model. Journal
of Geophysical Research: Oceans,
113(C3).
9. Van der Wegen, M., Wang, Z. B., Savenije,
H. H. G., and Roelvink, J. A., 2008. Long-
term morphodynamic evolution and energy
dissipation in a coastal plain, tidal
embayment. Journal of Geophysical
Research: Earth Surface, 113(F3).
Vũ Duy Vĩnh, Trần Đình Lân
24
10. Vũ Duy Vĩnh, Trần Đình Lân, Trần Anh
Tú, Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Ngọc
Tiến, 2016. Ảnh hưởng của các quá trình
động lực đến biến động địa hình đáy vùng
ven bờ cửa sông Mê Kông. Tạp chí Khoa
học và Công nghệ biển, 16(1), 32-45.
11. Vũ Duy Vĩnh, Đỗ Thị Thu Hương, Nguyễn
Văn Quân, Nguyễn Ngọc Tiến, 2016. Đặc
điểm vận chuyển bùn cát và nguyên nhân
gây bồi lắng khu vực đầm Nại (Ninh
Thuận). Tạp chí Khoa học và Công nghệ
biển, 16(3), 283-296.
12. Vinh, V. D., Ouillon, S., VanThao, N., and
Tien, N. N., 2016. Numerical Simulations
of Suspended Sediment Dynamics Due to
Seasonal Forcing in the Mekong Coastal
Area. Water, 8(6), 255.
13. Weatherall, P., Marks, K. M., Jakobsson,
M., Schmitt, T., Tani, S., Arndt, J. E., ...
and Wigley, R., 2015. A new digital
bathymetric model of the world’s oceans.
Earth and Space Science, 2(8), 331-345.
14. Groenewoud, P., de Valk, C., and Williams,
M., 2011. Overview of the Service and
Validation of the Database. Reference:
RP_A870.
15. Lefevre, F., Lyard, F. H., Le Provost, C.,
and Schrama, E. J., 2002. FES99: a global
tide finite element solution assimilating tide
gauge and altimetric information. Journal
of Atmospheric and Oceanic Technology,
19(9), 1345-1356.
16. Lyard, F., Lefevre, F., Letellier, T., and
Francis, O., 2006. Modelling the global
ocean tides: modern insights from FES2004.
Ocean dynamics, 56(5-6), 394-415.
17. World Ocean Atlas 2013 Version 2
(WOA13 V2). Available online:
https://www.nodc.noaa.gov/OC5/woa13/
(accessed on 20 April 2016).
18. Hydraulics, D., 2014. Delft3D-FLOW User
Manual: Simulation of multi-dimensional
hydrodynamic flows and transport
phenomena. Including sediments. Technical
report.
19. Battjes, J. A., and Janssen, J. P. F. M.,
1978. Energy loss and set-up due to
breaking random waves. In Proceedings of
16th Conference on Coastal Engineering,
Hamburg, Germany, 1978. ASCE. Pp. 569-
587. 47, 133, 134, 138, 139, 188.
20. Booij, N. R. R. C., Ris, R. C., and
Holthuijsen, L. H., 1999. A third-
generation wave model for coastal regions:
1. Model description and validation.
Journal of Geophysical Research: Oceans,
104(C4), 7649-7666.
21. Arcement, G. J., and Schneider, V. R.,
1989. Guide for selecting Manning’s
roughness coefficients for natural channels
and flood plains..U.S. Geological Survey
Water Supply Paper 2339, 38 p.
22. Simons, D. B., and Şentürk, F., 1992.
Sediment transport technology: water and
sediment dynamics. Water Resources
Publication.
23. Uittenbogaard, R. E., 1998. Model for eddy
diffusivity and viscosity related to sub-grid
velocity and bed topography. Note, WL|
Delft Hydraulics.
24. Van Vossen, B., 2000. Horizontal large
eddy simulations; evaluation of
computations with DELFT3D-FLOW.
Report MEAH-197. Delft University of
Technology.
25. Van Rijn, L. C., 1993. Principles of
sediment transport in rivers, estuaries and
coastal seas (Vol. 1006). Amsterdam: Aqua
publications.
26. Krause, P., Boyle, D. P., and Bäse, F.,
2005. Comparison of different efficiency
criteria for hydrological model assessment.
Advances in Geosciences, 5, 89-97.
27. Nash, J. E., and Sutcliffe, J. V., 1970. River
flow forecasting through conceptual models
part I-A discussion of principles. Journal of
Hydrology, 10(3), 282-290.
28. de Vriend, H. J., Capobianco, M., Chesher,
T., De Swart, H. D., Latteux, B., and Stive,
M. J. F., 1993. Approaches to long-term
modelling of coastal morphology: a review.
Coastal Engineering, 21(1-3), 225-269.
29. Van Duin, M. J. P., Wiersma, N. R.,
Walstra, D. J. R., Van Rijn, L. C., and
Stive, M. J. F., 2004. Nourishing the
shoreface: observations and hindcasting of
the Egmond case, The Netherlands. Coastal
Engineering, 51(8-9), 813-837.
30. Brown, J. M., and Davies, A. G., 2009.
Methods for medium-term prediction of the
net sediment transport by waves and
currents in complex coastal regions.
Tác động của các điều kiện sóng đến đặc điểm
25
Continental Shelf Research, 29(11-12),
1502-1514.
31. Walstra, D. J. R., Hoekstra, R., Tonnon, P.
K., and Ruessink, B. G., 2013. Input
reduction for long-term morphodynamic
simulations in wave-dominated coastal
settings. Coastal Engineering, 77, 57-70.
32. Chesher, T. J., 1992. The concept of a
single representative wave for use in
numerical models of long-term sediment
transport predictions. In Proc. 2nd Int.
Conf. on Hydraulic and Environmental
Modelling of Coastal, Estuarine, and River
Waters, 1992.
33. Van Maren, D. S., 2004. Morphodynamics
of a Cyclic Prograding Delta: The Red
River, Vietnam. Utrecht, the Netherlands:
Utrecht University (Doctoral dissertation,
Doctoral thesis).
34. Bùi Văn Vượng và nnk., 2011. Tốc độ lắng
đọng và tuổi trầm tích ven bờ châu thổ sông
Hồng: bằng chứng từ phóng xạ vết 210Pb và
137Cs. Tài nguyên và môi trường biển, tập
XVI. Nxb. Khoa học tự nhiên và Công nghệ.
35. Bùi Văn Vượng và nnk., 2013. Kết quả
bước đầu nghiên cứu tốc độ lắng đọng và
tuổi trầm tích hiện đại vùng cửa sông Bạch
Đằng bằng phương pháp đồng vị phóng xạ
210
Pb và
137
Cs. Tuyển tập báo cáo khoa học
Hội nghị Khoa học biển Toàn quốc lần thứ
hai. Hà Nội - Hạ Long, 10-12/10/2013.
Nxb. Khoa học tưn nhiên và Công nghệ,
Hà Nội. Tr. 306-315.
36. Dyer, K. R., 1986. Coastal and estuarine
sediment dynamics. John Wiley & Sons,
Inc.
37. Yang, S. L., Friedrichs, C. T., Shi, Z., Ding,
P. X., Zhu, J., and Zhao, Q. Y., 2003.
Morphological response of tidal marshes,
flats and channels of the outer Yangtze
River mouth to a major storm. Estuaries,
26(6), 1416-1425.
38. Goodbred Jr, S. L., and Hine, A. C., 1995.
Coastal storm deposition: salt-marsh
response to a severe extratropical storm,
March 1993, west-central Florida. Geology,
23(8), 679-682.
39. Nyman, J. A., Crozier, C. R., and DeLaune,
R. D., 1995. Roles and patterns of hurricane
sedimentation in an estuarine marsh
landscape. Estuarine, Coastal and Shelf
Science, 40(6), 665-679.
INFLUENCES OF THE WAVE CONDITIONS ON THE
CHARACTERISTICS OF SEDIMENTS TRANSPORT
AND MORPHOLOGICAL CHANGE IN THE
HAI PHONG COASTAL AREA
Vu Duy Vinh, Tran Dinh Lan
Institute of Marine Environment and Resources, VAST
ABSTRACT: The model system for the Hai Phong coastal area was set up based on the wave
climate condition between 1992-2014 and the MORFAC (the morphological acceleration factor)
method in the Delft3D model. The model results of more than 50 separate simulated scenarios show
the role of each wave interval and direction on characteristics of sediment transport and
morphological change in the studied area. In the case of without wave, sediments from the river
settle and create deposition zone in river mouths. When the wave height increases, the
erosion/deposition and sediment transport in the coastal zone increase. Due to the influence of the
hydrodynamics and sediment transport, the erosion/deposition rate in the dry season is higher than
that in the rainy season. The morphology strongly change in the depth less than 5 - 6 m with the rate
of 20 - 50 mm/year. In the water zone of over 6 m, the morphology relatively stable and reflects an
accretion trend with the rate of 10 - 20 mm/year. The simulation results also show an accretion trend
Vũ Duy Vĩnh, Trần Đình Lân
26
in the Hai Phong coastal area. It may be a consequence of the decrease in the number of big
typhoons impacted on this area in the last 20 years.
Keywords: Morphological change, morfac, modelling, hydrodynamics, sediments.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tac_dong_cua_cac_dieu_kien_song_den_dac_diem_van_chuyen_bun.pdf