Ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy đến
lượng hoạt chất thu nhận
Tại điều kiện nuôi cấy: 30oC và pH ban đầu
6,5; giá trị OD không có sự biến động đáng kể
trong khoảng thời gian 20-72h (bảng 2). Điều này
được giải thích do giai đoạn sinh trưởng kết thúc
sau 16h, sau đó đi vào giai đoạn cân bằng và
suy vong. Để thu được lượng CFU tốt nhất cho
quá trình nhân giống để nuôi cấy trong môi
trường mới, thời gian nuôi cấy nên thực hiện
trong khoảng thời gian từ 16-24h, sau giai đoạn
này, vi sinh vật sẽ đi vào giai đoạn tiêu thụ cơ
chất và tạo nên các chất có hoạt tính. Nếu thời
gian tiếp tục kéo dài, Bacillus sẽ tạo thành các
dạng bào tử để chống lại sự nhiễm độc và thiếu
cơ chất. Điều này được thể hiện rõ qua số lượng
hoạt chất thu nhận tăng từ 0,82 g (20h) lên 1.00
g sau 72h, mặc dù chỉ số OD không có sự thay
đổi. Do vậy, để thu nhận hoạt chất, quá trình nuôi
cấy cần được tiến hành trên 72h.
Khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh héo
vàng (Fusarium oxsporum) hại cà chua của
chế phẩm VH – Biochem 01 trong điều kiện
nhà lưới
Chế phẩm VH – Biochem 01 được sử dụng
để đánh giá với bệnh héo vàng hại cà chua
trong điều kiện nhà lưới cho thấy: công thức
được xử lý bằng chế phẩm VH – Biochem 01 và
công thức sử dụng thuốc Tramy 2 SL đều có
hiệu quả cao trong việc kìm hãm sự phát triển
của bệnh so với công thức đối chứng sau xử lý
7, 14 và 21 ngày (bảng 3, hình 4). Chế phẩm VH
– Biochem 01 có hiệu quả phòng trừ bệnh héo
vàng cà chua đạt cao nhất (71,21%). Chế phẩm
VH-Biochem 01 có tiềm năng ứng dụng trong
phòng trừ bệnh héo vàng cà chua nhằm thay
thế các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn
gốc hóa học.
KẾT LUẬN
1. Kết quả phân tích bằng bioautography, hiện
bằng phun nước và hấp thu bằng nhựa XAD 16 đã
xác định được lớp chất kháng nấm tạo ra bởi B.
velezensis HSHC 1 trong sản phẩm VH-Biochem
01 thuộc lớp chất lipopeptide, lớp chất kháng nấm
đặc trưng cho Bacillus. Điều kiện nuôi cấy thích
hợp cho HSHC 1 để thu nhận hoạt chất và tăng
sinh khối là 30oC, pH ban đầu 6-7 trong 72h.
2. Hiệu quả phòng trừ bệnh héo vàng
(Fusarium oxysporum) cà chua trong điều kiện
nhà lưới bằng chế phẩm sinh học VH – Biochem
01 có chủng vi khuẩn Bacillus cho hiệu quả
phòng trừ cao và đạt 71,21% sau 21 ngày xử lý
chế phẩm.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 14 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tách lớp chất kháng nấm và khảo sát hiệu lực phõng trừ bệnh héo vàng cà chua (fusarium oxysporum) của chế phẩm sinh học VH- BIOCHEM 01, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018
25
gia tăng tỷ lệ chết do độc tố Bt trong lá bông
chuyển gen đối với sâu non tuổi nhỏ của sâu xanh.
Cùng dinh dưỡng trên lá bông chuyển gen
Bt (CS95), nguồn sâu xanh ở vùng chưa trồng
giống bông chuyển gen Bt (Bình Thuận) có tỷ lệ
chết cao hơn so với tỷ lệ chết của nguồn sâu
xanh ở vùng đã trồng giống bông chuyển gen
Bt (Nha Hố, Ninh Thuận).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Joanne D. and K. Olsen, 1996. The Potential
for Transgenic Cotton Plants to select for resistance in
Helicoverpa armigera. Cotton on to the future.
Proceeding of the 8
th
Australian Cotton conference,
14
th
-16
th
, August, The Australian Cotton Growers’
Research Association, p. 295-298.
2. Du Min, 2002. Situation of the Bt transgenic
cotton in China. New Genetical Approaches to Cotton
Improvement, Proceeding of the 2
nd
Meeting of the
Asian Cotton Research and Development Network,
November 14-16, Tashkent, Uzbekistan, p. 10-21.
3. Li Fuguang and Cui Jinjie, 2001. Study on
insect resistant transgenic cotton harbouring double
gene and its resistance to insect pest. Chinese
Agricultural Science, p. 70-76.
4. Xia Jingyuan, 2000. Resistance of transgenic Bt
cotton to Helicoverpa armigera Hỹbner (Lepidoptera:
Noctuidae) and its effects on other insects in China.
Proceeding of the first Vietnam-Sino conference on cotton
technology and its industrialization, November, 2000,
Hochiminh City, Vietnam, p. 13-14.
Phản biện: GS-TS-NCVCC. Phạm Văn Lầm
TÁCH LỚP CHẤT KHÁNG NẤM VÀ KHẢO SÁT HIỆU LỰC PHÕNG
TRỪ BỆNH HÉO VÀNG CÀ CHUA (Fusarium oxysporum)
CỦA CHẾ PHẨM SINH HỌC VH- BIOCHEM 01
Isolation of Antifungal Class and Evaluation of The Disease
Control Efficacy of VH-Biochem 01 Against Wilt Disease on
Tomato Caused by Fusarium oxysporum
Nguyễn Mai Cƣơng
1
, Hà Viết Cƣờng
2
, Nguyễn Đức Huy
2
và Đoàn Thị Xuân Liễu
1
Ngày nhận bài: 26.03.2018 Ngày chấp nhận: 16.04.2018
Abstract
The result of bioautography assay and isolation of antifungal class from Bacillus velezensis HSHC1 broth
culture using an Amberlite
TM
XAD16 shown that the antifungal compounds against Fusarium oxysporum
caused wilt disease on tomato belongs to lipopeptide family. The antifungal efficacy of VH-Biochem 01 product
containing 10
5
CFU/g had a disease control value of 71.31% after 21 days treatment at a concentration of 1 g/l
against Fusarium wilt disease on tomato. This value is less than that from Tramy 2 SL (74.24%), at a
concentration of 1 ml/l.
Keywords: Fusarium wilt disease, Fusarium oxysporum, Bacillus velezensis HSHC1, bioautography assay,
VH-Biochem 01.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh héo vàng cà chua (Fusarium
oxysporum) là một loại bệnh hại phổ biến, xuất
hiện và gây hại ở nhiều vùng trồng cà chua tại
1. Trung tâm Hóa sinh Hữu cơ, Viện Hóa học Công
nghiệp Việt Nam
2. Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học, Học Viện Nông
nghiệp Việt Nam
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018
26
Việt Nam. Bệnh gây hại trên tất cả các bộ
phận của cây. Khi cây bị nhiễm bệnh, lá
chuyển sang màu vàng và héo dần từ phần
dưới lên ngọn, cây sinh trưởng kém, cuối cùng
toàn cây héo dần và chết. Nấm gây bệnh phát
triển thích hợp ở nhiêt độ 25 – 30
o
C, phát sinh
và gây hại nặng vào mùa mưa ở giai đoạn cây
bắt đầu ra hoa trở đi. Nấm F. oxysporum có
phổ ký chủ rộng và có thể xâm nhiễm ký sinh gây
hại trên nhiều họ cây trồng có giá trị kinh tế như
chuối, cà chua, khoai tây, lạc, vừng, hồ tiêu, dưa
hấu... [1,2]. Mỗi dạng F. oxysporum thường chỉ
gây héo trên một loài ký chủ, bệnh héo vàng hại
cà chua được ghi nhận là do loài F. oxysporum
f.sp. lycopersici. Nấm F.oxysporum tồn tại chủ
yếu trong đất, nấm xâm nhập qua bộ rễ và gây
bệnh vào bó mạch. Do đây là nơi đảm nhận
chức năng hút nước, hút chất dinh dưỡng và ở
dưới mặt đất nên việc phòng trừ bằng thuốc
hóa học luôn gặp nhiều khó khăn [3,4].
Trong giai đoạn 2003-2005, tỉ lệ mắc bệnh
héo vàng do nấm F. oxysporum gây ra trên cây
cà chua ở Hà Nội chiếm 5% [5]. Những năm gần
đây, người dân thường sử dụng các chế phẩm
như Starner 20WP, Copper-B 75WP, Bonny 4SL,
Ridozeb 72WP, Manozeb 80WP, Tramy 2SL,
Tachigaren 30SLTuy nhiên, việc sử dụng các
biện pháp hóa học trong phòng trừ nấm F.
oxysporum gây ra những tác động lớn tới môi
trường, hiệu quả sử dụng giảm dần do bị kháng
thuốc và có nguy cơ tồn dư thuốc trong sản
phẩm sau thu hoạch và chế biến do chủ yếu
dùng để tưới xuống đất. Bên cạnh đó, các biện
pháp kỹ thuật canh tác đã được áp dụng nhằm
giảm thiểu thiệt hại như thay đổi cơ cấu vụ mùa,
sử dụng giống cây trồng ít mẫn cảm với bệnh.
Tuy nhiên, hiệu quả đạt được vẫn luôn thấp do
nguồn bệnh có thể tồn tại trong một thời gian rất
dài, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ bùng phát trở
lại [4,6].
Để khắc phục những nhược điểm trên thì biện
pháp sinh học đang được các nhà khoa học đầu
tư nghiên cứu, ứng dụng và khuyến khích sử
dụng. Biện pháp này sử dụng các vi sinh vật có
ích, các sản phẩm có nguồn gốc sinh học như
thuốc thảo mộc, sản phẩm công nghệ sinh học
như giống chuyển gen kháng bệnh nhằm ngăn
chặn hoặc giảm bớt thiệt hại do bệnh hại gây ra.
Đây là một biện pháp tốt, có nhiều triển vọng
trong tương lai. Cho tới thời điểm hiện nay, chưa
có chế phẩm kháng nấm F. oxysporum hiệu quả
có nguồn gốc VSV được thương mai hóa hay
nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam. Trên thế
giới, có nhiều loại vi sinh vật đối kháng, thường
là nấm và vi khuẩn, chủ yếu có nguồn gốc từ đất,
đã và đang được nghiên cứu, ứng dụng ở mức
thương mại trong phòng chống sinh học bệnh
cây như vi khuẩn Agrobacterium, Pseudomonas,
Streptomyces, Bacillus, và nấm Gliocladium,
Trichoderma, Ampelomyces, Candida,
Coniothyrium, Chaetomium [8,9,10]. Trong số đó
Bacillus có những ưu điểm nổi bật như sự đa
dạng về chủng loài, khả năng chịu được điều
kiện khắc nghiệt cao. Nghiên cứu này cung cấp
dẫn liệu khoa học về xác định lớp chất kháng
nấm và khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh héo
vàng cà chua (Fusarium oxysporum) của chế
phẩm VH- Biochem 01.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Nguồn nấm Fusarium oxysporum được
phân lập từ mẫu bệnh héo vàng hại cà chua ở
Nam Hồng - Đông Anh – Hà Nội.
Chế phẩm sinh học dạng bột thấm nước chứa
vi khuẩn đối kháng chủng Bacillus velezensis
HSHC1 với mật độ 10
5
CFU/g.
Môi trường dùng để phân lập và nuôi cấy
nấm Fusarium oxysporum: WA (20g agar/l),
PGA (dịch lọc từ 200g khoai tây/l, 20 g agar/l, 20
g glucose/l), trấu cám (trấu cám 40g, nước cất vô
trung 24 ml), TSB (17 g tryptone/l, 3 g phytone/l,
5 g NaCl/l, 2,5g K2HPO4/l, 2,5 g glucose/l ), PDA
(4g khoai tây/l, 20 g agar/l, 20 g dextrose/l).
Thuốc trừ nấm: Tramy 2 SL.
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Ảnh hưởng của điều kiện nuôi cấy
đến sự sinh trưởng và phát triển của HSHC1
Khuẩn lạc của Bacillus velezensis được tách
và cấy truyền vào trong ống nghiệm có thể tích
15 ml chứa 5 ml môi trường TSB và nuôi cấy tại
30
o
C, trong 24h. Sau đó, dịch nuôi cấy được tiếp
tục cấy truyền sang bình tam giác 250 ml chứa
50 ml môi trường TSB với tỉ lệ giống là 1%. Qui
trình nuôi cấy được thực hiện ở khoảng nhiệt độ
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018
27
từ 20-45
0
C, pH ban đầu 2-8, tốc độ lắc 150
vòng/phút trong 24h. Chỉ số OD được đo bằng
thiết bị đo OD600 DiluPhotometer™ tại bước
sóng 600 nm. Giá trị pH được điều chỉnh bởi HCl
6N/NaOH 2N.
2.2.2 Xác định lớp chất kháng nấm có
hoạt tính từ dịch nuôi cấy
Bacillus velezensis được nuôi cấy trong
môi trường TSB ở 30
o
C, 120 vòng/phút trong
72h. Tổng cộng 500 ml dịch nuôi cấy được ly
tâm tại 4
o
C, 7500 vòng/phút trong 20 phút để
tách phần tế bào. Dịch sau ly tâm được hấp
thụ bằng 4% (g/ml) nhựa Amberlite XAD 16
trong 2,5h có khuấy trộn (150 vòng/phút).
Phần nhựa hấp thu được thu hồi và rửa giả
bằng 250 ml methanol. Sau khi loại methanol
bằng quay chân không thu được cặn rắn.
Phần cặn này là các lipopeptide thô [8,11].
Phần tế bào, hoạt chất lipopeptide, chất
mang, phụ gia được sử dụng để tạo ra sản
phẩm VH-Biochem 01. Phần dịch thu được
sau hấp thu bằng XAD 16 được cất loại
nước. Hòa tan cặn nước thu được băng
methanol 50% tại nồng độ 1000 ppm. Phần
lipopeptide thô, và căn sau khi đã hấp thu
bằng XAD 16 được thử hoạt tính trên đĩa
thạch PDA, đĩa giấy 8 mm sử dụng 30µl
dung dịch methanol chứa lipopeptide nồng
độ 500 ppm và 60 µl cho phần cặn nước.
Các khảo sát trên bioautography được thực
hiện trong hệ dung môi
chloroform/methanol/H2O: 65/25/4, sử dụng
bản mỏng Silica tráng trên kính, chiều dày
0.5 mm. Bản mỏng cắt đôi, đặt vào đĩa, đổ
20 ml môi trường PDA chứa nấm F.
oxysporum (0.2%), nuôi cấy ở 30
o
C trong 4
ngày. Khả năng đối kháng nấm của
B. velezensis HSHC1 được nuôi cấy trên môi
trường PDA ở điều kiện 30
o
C trong 7 ngày
để đánh giá.
2.2.3 Khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh
héo vàng Fusarium oxsporum hại cà chua
bằng chế phẩm VH–Biochem 01 có vi
khuẩn đối háng chủng Bacillus trong điều
kiện nhà lưới
Thí nghiệm được tiến hành trên cây cà
chua 20 ngày tuổi có 4 – 5 lá thật, bào tử
nấm gây bệnh héo vàng được đưa vào
xung quanh gốc cây, gồm 3 công thức, mỗi
công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại
30 cây [7].
Công thức 1: Tưới Chế phẩm VH -
Biochem 01 với liều lượng 1g/l vào đất
quanh gốc cây sau khi lây bệnh nhân tạo
1 ngày.
Công thức 2: Tưới thuốc so sánh Tramy 2
SL với liều lượng 1ml/l vào đất quanh gốc
cây sau khi lây bệnh nhân tạo 1 ngày.
Công thức 3 (Đối chứng): Tưới nước cất
vào đất quanh gốc cây sau khi lây bệnh nhân
tạo 1 ngày.
Các chỉ tiêu theo dõi: Tính số cây bị bệnh
(TLB %) ở từng công thức sau 7, 14, 21
ngày và hiệu quả phòng trừ sau 21 ngày
theo dõi.
Tỷ lệ bệnh được tính theo công thức:
Trong đó: A là số cây bị bệnh héo vàng.
B là tổng số cây điều tra.
Hiệu lực phòng trừ được xác định theo công
thức Abbott:
Trong đó:
C: Chỉ số bệnh ở công thức đối chứng,
T: Chỉ số bệnh ở công thức thử nghiệm
Xử lý số liệu bằng phần mềm excel 2007.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hƣởng của điều kiện nuôi cấy đến
sự sinh trƣởng và phát triển của Bacillus
velezensis HSHC1
Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của
Bacillus là 30-35
0
C, khi nhiệt độ giảm xuống,
sự sinh trưởng và phát triển sẽ kém đi (bảng 1). Ở
điều kiện 40
o
C, vi sinh vật tiếp tục phát triển,
khi nhiệt độ tăng tới 45
o
C, Bacillus không sinh
trưởng và phát triển. Nghiên cứu ảnh hưởng
của pH môi trường ban đầu được thực hiện tại
30
o
C, trong môi trường TSB, các giá trị OD cho
thấy chủng này có thể phát triển tốt sau 24h
khi pH ban đầu 6-7. Do vậy trong quá trình
nuôi cấy, giá trị pH thích hợp nhất trong
khoảng 6-7.
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018
28
Bảng 1. Ảnh hƣởng của nhiệt độ nuôi cấy và pH ban đầu tới sự sinh trƣởng
và phát triển của B. velezensis HSHC1
Nhiệt độ (
0
C) 20 25 30 35 40 45
OD (600 nm) 1,16 ± 0,07 1,49 ± 0,06 1,87 ± 0.06 1,86 ± 0,01 0,71 ± 0,05 0,01 ± 0,01
pH ban đầu 3 4 5 6 7 8 9
OD (600 nm) 0,21 ± 0,01 0,83 ± 0,06 1,77 ± 0,06 1,91 ± 0,06 1,92 ± 0,04 1,24 ± 0,01 0,18 ± 0,04
3.2 Xác định lớp hoạt chất kháng nấm
mang hoạt tính từ dịch nuôi cấy
Hoạt tính đối kháng của B. velezensis HSHC1
đối với nấm F.oxysporum gây bệnh héo vàng
trên cây cà chua được đánh giá trên môi trường
PDA (hình 1). Vòng đối kháng đã chỉ ra hiệu quả
đối kháng mạnh của chủng HSHC1. Từ kết quả
này, cơ chế đối kháng nấm có thể do các hoạt
chất được sinh tổng hợp và giải phóng ra trong
quá trình phát triển của vi khuẩn, do enzyme
hoặc do cơ chế cạnh tranh dinh dưỡng hoặc do
tác động của tất cả các cơ chế đã nêu. Các thử
nghiệm tiếp theo sẽ chứng minh sự có mặt của
các chất kháng nấm trong môi trường nuôi cấy.
Hình 1. Tính đối kháng của
B.Velezensis HSHC 1
Kết quả thử hoạt tính kháng nấm của lớp chất
sau khi hấp thu bằng nhựa XAD 16 và phần cặn
nước thu được sau khi hấp thu cho thấy phần
dung dịch còn lại không thể hiện hoạt tính kháng
nấm trên đĩa thạch. Điều đó chứng tỏ các chất
kháng nấm đã được hấp thu hoàn toàn vào hạt
nhựa, nếu còn trong dung dịch thì hàm lượng rất
nhỏ, dưới ngưỡng phát hiện của phương pháp
thử hoạt tính (hình 2).
Hình 2. Hoạt tính kháng nấm sau hấp thu
bằng XAD 16
Trên sắc ký bản mỏng hiện bằng phun nước,
kết hợp với kết quả thử bioautography (hình 3)
và tính chất hấp thu các chất của nhựa XAD 16
cho thấy, phần hoạt chất tạo ra trong dịch nuôi
cấy B. velezensis HSHC1 thuộc lớp chất
lipopeptide. Đây là lớp chất kháng nấm đặc trưng
cho Bacillus. Trong bioautography, có hai vùng
thể hiện hoạt tính kháng nấm khác nhau. Vùng 1
tương ứng với chất hoạt động bề mặt
biosurfactant, vùng 2 tương ứng với các cyclo
lipopeptide [8-11].
B1: B. Velezensis HSHC 1;
FO: Fusarium oxysporum
B.1
B.1
FO
Hình 1. Tính đối kháng của B. Velezensis HSHC 1
HP1
HP2
HPO1
HPO2
CK
Hình 2. Hoạt tính kháng nấm sau hấp thu bằng XAD 16
HP: Lipopeptide hấp thu bằng XAD 16
HPO: Cặn sau khi hấp thụ bằng XAD 16
Nông độ: 500 ppm; thể tích sử dụng: 30 µL
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018
29
Hình 3. Sắc ký bản mỏng và bioautography
3.3 Ảnh hƣởng của thời gian nuôi cấy đến
lƣợng hoạt chất thu nhận
Tại điều kiện nuôi cấy: 30
o
C và pH ban đầu
6,5; giá trị OD không có sự biến động đáng kể
trong khoảng thời gian 20-72h (bảng 2). Điều này
được giải thích do giai đoạn sinh trưởng kết thúc
sau 16h, sau đó đi vào giai đoạn cân bằng và
suy vong. Để thu được lượng CFU tốt nhất cho
quá trình nhân giống để nuôi cấy trong môi
trường mới, thời gian nuôi cấy nên thực hiện
trong khoảng thời gian từ 16-24h, sau giai đoạn
này, vi sinh vật sẽ đi vào giai đoạn tiêu thụ cơ
chất và tạo nên các chất có hoạt tính. Nếu thời
gian tiếp tục kéo dài, Bacillus sẽ tạo thành các
dạng bào tử để chống lại sự nhiễm độc và thiếu
cơ chất. Điều này được thể hiện rõ qua số lượng
hoạt chất thu nhận tăng từ 0,82 g (20h) lên 1.00
g sau 72h, mặc dù chỉ số OD không có sự thay
đổi. Do vậy, để thu nhận hoạt chất, quá trình nuôi
cấy cần được tiến hành trên 72h.
Bảng 2. Ảnh hƣởng của thời gian nuôi cấy đến chỉ số OD
và lƣợng lipopeptide thu đƣợc
Thời gian
nuôi cấy (h)
16 18 20 22 24 48 72
OD
(600 nm)
1,77 ± 0,06 1,83 ± 0,03 1,92 ± 0,04 1,91 ± 0,01 1,90 ± 0,04 1,90 ± 0,01 1,93 ± 0,00
Thời gian
nuôi cấy (h)
24 36 48 60 72 84 96
Lượng
lipopeptide
thô (g)
0,33 ± 0,02 0,63 ± 0,01 0,82 ± 0,01 0,95 ± 0,01 1,00 ± 0,02 0,99 ± 0,02 1,00 ± 0,02
3.4 Khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh héo
vàng (Fusarium oxsporum) hại cà chua của
chế phẩm VH – Biochem 01 trong điều kiện
nhà lƣới
Chế phẩm VH – Biochem 01 được sử dụng
để đánh giá với bệnh héo vàng hại cà chua
trong điều kiện nhà lưới cho thấy: công thức
được xử lý bằng chế phẩm VH – Biochem 01 và
công thức sử dụng thuốc Tramy 2 SL đều có
hiệu quả cao trong việc kìm hãm sự phát triển
của bệnh so với công thức đối chứng sau xử lý
7, 14 và 21 ngày (bảng 3, hình 4). Chế phẩm VH
– Biochem 01 có hiệu quả phòng trừ bệnh héo
vàng cà chua đạt cao nhất (71,21%). Chế phẩm
VH-Biochem 01 có tiềm năng ứng dụng trong
phòng trừ bệnh héo vàng cà chua nhằm thay
thế các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn
gốc hóa học.
Hình 3: Sắc ký bản mỏng và bioautography
1
2
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018
30
Bảng 3. Hiệu quả phòng trừ bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum) hại cà chua
bằng chế phẩm VH – Biochem 01
Công thức
Tỷ lệ bệnh (%) sau phun lần 2 Hiệu quả phòng trừ (%)
7 DAI 14 DAI 21 DAI 7 DAI 14 DAI 21 DAI
CT1 0
a
11,11
a
21,11
a
100 72,97 71,21
CT2 0
a
10
a
18,89
a
100 75,67 74,24
Đối chứng 18,89
b
41,11
b
73,33
b
- - -
LSD0.05 5,037 13,32 10,23
CV 35,29 28,34 11,95
CT1: Xử lý bằng chế phẩm
VH – Biochem 01
CT2: Xử lý bằng thuốc
Tramy 2 SL
CT3: Công thức đối chứng
Hình 4. Cây cà chua sau khi xử lý 21 ngày với chế phẩm VH – Biochem 01
trong điều kiện nhà lƣới
4. KẾT LUẬN
1. Kết quả phân tích bằng bioautography, hiện
bằng phun nước và hấp thu bằng nhựa XAD 16 đã
xác định được lớp chất kháng nấm tạo ra bởi B.
velezensis HSHC 1 trong sản phẩm VH-Biochem
01 thuộc lớp chất lipopeptide, lớp chất kháng nấm
đặc trưng cho Bacillus. Điều kiện nuôi cấy thích
hợp cho HSHC 1 để thu nhận hoạt chất và tăng
sinh khối là 30
o
C, pH ban đầu 6-7 trong 72h.
2. Hiệu quả phòng trừ bệnh héo vàng
(Fusarium oxysporum) cà chua trong điều kiện
nhà lưới bằng chế phẩm sinh học VH – Biochem
01 có chủng vi khuẩn Bacillus cho hiệu quả
phòng trừ cao và đạt 71,21% sau 21 ngày xử lý
chế phẩm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Tấn Dũng, 2002. Bệnh héo rũ hại cây
trồng cạn và biện pháp phòng chống. NXB Nông
nghiệp, Hà Nội.
2. Nguyễn Văn Viên, Đỗ Tấn Dũng 2003. Bệnh hại
cà chua do nấm, vi khuẩn và biện pháp phòng chống.
Sách chuyên khảo, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam.
3. Đỗ Tiến Hoàng, 2007. Nghiên cứu bện héo vàng
(Fusarium oxysporum) hại cây trồng cạn Hè Thu năm
2017 tại Gia Lâm – Hà Nội và thử chế phẩm sinh học
phòng trừ bệnh. NXB Nông Nghiệp.
4. Huang et al, 2013. Isolation and partial
characterization of cyclic lipopeptide antibiotics
produced by Paenibacillus ehimensis B7. BMC
Microbiology, 13:87
5. Nguyễn Kim Vân ,1998. Bệnh héo vàng cà
chua và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển
của bệnh trên đồng ruộng. Tạp chí Bảo vệ thực vật, 16
(160), tr 8-10.
6. Ngô Thị Xuyên và Nguyễn Văn Đĩnh, 2006.
Nghiên cứu tinh hình bệnh hại cà chua trong nhà lưới
và ngoài đồng ruộng năm 2003 – 2005. Tạp chí Khoa
học và Nông nghiệp Việt Nam, số 4- 5, trang 1-7.
7. Ongena M, et al, 2008. Bacillus lipopeptides:
versatile weapons for plant disease biocontrol. Trends
in Microbiology, 16(3), 115-125
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tach_lop_chat_khang_nam_va_khao_sat_hieu_luc_phong_tru_benh.pdf