3. Vai trò y học.
Gián truyền bệnh và gây bệnh cho người và động vật. Gián truyền bệnh theo
phương thức không đặc hiệu giống như ruồi nhà.
Trong tự nhiên, gián có thể truyền tới 40 loài vi khuẩn khác nhau (Roth và
Willis, 1957 - 1960; Burhess và cộng sự, 1973), đó là các vi khuẩn hủi, dịch
hạch, lao, tụ cầu. Trong thực nghiệm còn thấy gián truyền được các mầm bệnh:
than, bạch hầu, uốn ván.
Thanh trùng
Bọc trứng
Trưởng thành
(a)
(c)
(b)
10 mm503
Khả năng truyền các mầm bệnh virut của gián chưa được chứng minh. Trong
thực nghiệm thấy gián là kho dự trữ và truyền các virut: Cocxaki, bại liệt, viêm
gan truyền nhiễm.
Gián cũng có thể truyền các mầm bệnh kí sinh trùng: giun đũa, sán dây, trùng
roi thìa, amíp lị. cũng như các loài nấm Aspergillus.
Gián còn có thể gây viêm da, phù mí mắt cho người do chất độc của gián tiết
ra. Gián còn gây dị ứng nhưng hiếm gặp (Corwell, 1968).
4. Phòng chống gián.
+ Triệt phá nguồn thức ăn của gián: thức ăn, thực phẩm cần để trong tủ, hoặc
có lồng bàn đậy kín. Các chất thừa, thải, bệnh phẩm ở bệnh viện phải được xử lí
bằng các chất khử trùng. Các hố rác, thùng rác phải có nắp đậy kín.
+ Triệt phá nơi trú ẩn và sinh đẻ của gián: nhà cửa, cống rãnh phải sạch
thoáng, quần áo, giường tủ phải thường xuyên phơi, dọn.
+ Có thể sử dụng hoá chất để đặt bả hoặc phun: diazinon, propoxur,
dichlorvos, malathion.
79 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tài liệu Arthropoda - Động vật chân đốt, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
les sundaicus.
Muỗi An.sundaicus là muỗi truyền sốt rét ở ven biển miền Nam và Campuchia.
4.1. Hình thể:
+ Muỗi có kích thước trung bình; đùi và cẳng có hoa.
+ Gân cánh costa có trên 3 điểm đen.
+ Gân cánh số 6 (L6) có 2 điểm đen.
+ Pan có 3 băng trắng, băng trắng ở đỉnh pan nó rộng, dài gần gấp hai lần
băng đen kề bên.
+ Vòi màu đen.
4.2. Đặc điểm sinh học:
Muỗi An.sundaicus thích hút máu người ở trong nhà, hoạt động hút máu suốt
đêm, đỉnh cao vào khoảng 22 giờ - 2 giờ sáng, tuy nhiên muỗi có thể hút máu cả
ban ngày ở những nhà ẩm thấp, thiếu ánh sáng.
473
Muỗi trú ẩn ở trong nhà. Tỉ lệ muỗi bắt được ở trong nhà 99,1% chỉ có 0,85%
bắt được ở chuồng gia súc. Muỗi đẻ trứng ở ao, ruộng, kênh, rạch có nhiều rong
tảo, độ pH từ 6 - 8, nồng độ muối thích hợp 7 g/l; nhưng cũng có thể bắt được bọ
gậy này ở các ổ nước có nồng độ muối từ 0,3 - 28 g/l.
Mùa phát triển của muỗi: quanh năm, nhưng cao điểm vào các tháng đầu mùa
mưa (tháng 5 - 6).
Vùng phân bố của muỗi An.sundaicus thường gặp cả muỗi An.subpictus. Ở
Việt Nam muỗi An.sundaicus phân bố từ ven biển Hàm Tân (Bình Thuận) tới tận
vùng ven biển Campuchia (Viện Sốt rét - KST - CT Trung ương, 1979 - 1980).
Ở đồng bằng sông Cửu Long muỗi phân bố rộng ở những nơi có nước thủy
triều lên, xuống.
4.3. Vai trò truyền bệnh:
An.sundaicus là vectơ chính truyền bệnh sốt rét ở ven biển miền Nam Việt
Nam. Muỗi An.sundaicus có thể truyền cả P.falciparum và P.vivax nhưng ở vùng
phân bố muỗi này tỉ lệ nhiễm P.falciparum cao hơn.
4.4. Biện pháp phòng chống:
Muỗi An.sundaicus còn nhậy cảm với DDT, và các hoá chất diệt côn trùng
khác. Nhưng ở một vài nơi đã có hiện tượng An.sundaicus kháng DDT.
5. Một số muỗi Anopheles khác.
5.1. An.maculatus:
Muỗi An.maculatus phân bố rộng từ đồng bằng, ven biển đến miền núi, muỗi
hút cả máu người và động vật, sống hoang dại, phát triển quanh năm, đỉnh cao
vào mùa mưa.
Tỉ lệ mang thoi trùng tùy theo từng vùng (0,51 - 2,7%) theo Toumanoff (1936)
và 0,03% theo Nguyễn Thượng Hiền (1968). Ngoài ra còn thấy An.aconitus là
muỗi truyền sốt rét chủ yếu ở vùng đồng bằng Java, Indonesia (Reid 1968).
5.2. An.aconitus:
An.aconitus phân bố rộng từ đồng bằng, ven biển đến miền núi. Muỗi hút cả
máu người và động vật, muỗi sống hoang dại, phát triển quanh năm, đỉnh cao vào
mùa mưa.
Tỉ lệ mang thoi trùng tùy theo từng vùng: 0,51% - 2,7% theo Toumanoff (1936)
và 0,03% theo Nguyễn Thượng Hiền (1968). Ngoài ra còn thấy An.aconitus là
muỗi truyền bệnh sốt rét chủ yếu ở vùng đồng bằng Java Indonesia (Reid, 1968).
474
Hình 16.4: Muỗi Culex trưởng thành.
5.3. An.jeyporiensis:
Theo Đặng Văn Ngữ (1962): muỗi An.jeyporiensis là muỗi truyền kí sinh
trùng sốt rét thứ yếu ở các vùng miền Bắc. Đây là loài muỗi có phân bố rất rộng
ở vùng rừng núi trong cả nước. Muỗi thích hút máu người và trú ẩn trong nhà.
Muỗi phát triển quanh năm nhưng cao nhất vào mùa mưa.
Tỉ lệ mang kí sinh trùng sốt sét ở Việt Nam là 0,72% (Toumanoff, 1931),
ở Di Linh 0,75% (Nguyễn Thượng Hiền, 1968).
Muỗi này còn truyền bệnh giun chỉ ở Trung Quốc.
MUỖI CULEX
Có 550 loài Culex đã được mô tả, đa số là của các vùng nhiệt đới và cận nhiệt
đới. Một số loài là vật truyền bệnh quan trọng đối với giun chỉ W. bancrofti và
các bệnh arbovirus như viêm não Nhật Bản. Ở một số vùng, loài này là một mối
phiền hà đáng kể.
Muỗi đẻ trứng từng bè 100 trứng hoặc hơn trên mặt nước. Bè trứng nổi cho
tới khi nở, sau khoảng 2 - 3 ngày. Loài Culex đẻ ở nhiều nơi chứa nước lặng, từ
những nơi chứa nước nhân tạo, cống rãnh cho tới những thảm nước thường
xuyên rộng lớn. Loài phổ biến nhất, Culex quinquefasciatus là mối phiền hà nhất
và vật truyền bệnh giun chỉ W.bancrofti, thích đặc biệt đẻ trứng ở nơi nước bẩn
có nhiều chất hữu cơ, như chất thải, phân, cây mục.
Ở các nước đang phát triển, Culex quinquefasciatus rất phổ biến ở các đô thị
phát triển nhanh, là nơi hệ thống thoát nước và vệ sinh không được bảo đảm.
Culex tritaeniorhynchus là loài truyền bệnh viêm não B Nhật Bản ở châu Á,
ưa nước trong, thường thấy loài này ở ruộng lúa nước, mương rãnh.
Muỗi truyền bệnh giun chỉ có khoảng 40 loài, thuộc 4 chi Anopheles, Aedes,
Culex và Mansonia, nhưng ở nước ta Culex quinquefasciatus (tên cũ là C.fatigans)
và một số loài thuộc chi muỗi Mansonia là những muỗi được xác định có vai trò
truyền bệnh chính.
1. Culex quinquefasciatus.
Muỗi C.quinquefasciatus có màu nâu đậm hoặc nâu nhạt, chân và cánh
không có khoang đen trắng (hình 16.4).
Muỗi gặp nhiều ở trong nhà, chuồng
gia súc, đặc biệt trong nhà những vùng
475
đông dân, nhà cửa thấp tối, điều kiện vệ sinh kém, quanh nhà có cống rãnh nước
bẩn.
Muỗi hút máu về ban đêm, rất thích hút máu người, ít hút máu súc vật. Ban
ngày muỗi đậu nghỉ trong góc nhà, gầm giường, gầm tủ.
Muỗi đẻ trứng ở những nơi nước bẩn, cống rãnh, trứng kết lại thành bè nổi
trên mặt nước.
Muỗi phát triển quanh năm, nhưng cao điểm vào mùa xuân - hè. Ở Hà Nội
muỗi này phát triển mạnh nhất vào các tháng 3 - 4 - 5 (Đặng Văn Ngữ ,1960).
Muỗi có sức chịu đựng cao với các hoá chất diệt côn trùng, vì vậy để phòng
chống muỗi phải cải tạo điều kiện sống, vệ sinh nhà cửa, cống rãnh để triệt phá
nơi trú ẩn, nơi sinh đẻ của muỗi.
Muỗi C.quinquefasciatus truyền giun chỉ Wuchereria bancrofti.
2. Culex tritaeniorhynchus.
Muỗi truyền bệnh viêm não B Nhật Bản ở Đông Nam Á có nhiều loại thuộc
chi Culex: C.tritaeniorhynchus, C.bitaeniorhynchus, C.gelidus, C.vishnui. .. ở
Việt Nam muỗi truyền bệnh viêm não B Nhật Bản là muỗi
C.tritaeniorhynchus.
Muỗi C.tritaeniorhynchus, có màu nâu đen, gặp nhiều ở vùng nông thôn,
làng mạc đông dân có nhiều hồ, ao. Muỗi đẻ trứng ở những ao, ruộng lúa, trứng
dính thành bè nổi trên mặt nước.
Muỗi hút máu về ban đêm, cả trong và ngoài nhà, thính hút máu chim, máu
lợn hơn máu người. Trú ẩn ở các bụi rậm hoặc trong chuồng gia súc, nhất là
chuồng lợn.
Mùa phát triển của muỗi vào mùa nóng, ẩm. Ở Hà Nội muỗi phát triển mạnh
từ tháng 5 - 11, cao điểm vào tháng 8 - 9.
Muỗi truyền bệnh viêm não B Nhật Bản, trẻ em rất dễ mắc, khi khỏi để lại
những di chứng nặng nề.
MUỖI MANSONIA
Muỗi Mansonia thấy chủ yếu ở các nước nhiệt đới. Một số loài là vật truyền
bệnh quan trọng của giun chỉ Brugia sp. Ở miền Nam Ấn Độ, Indonesia và
Malaysia.
476
Chi muỗi Mansonia có hai chi phụ: Mansonia Mansonioides và Mansonia
Coquillettidia. Hai chi phụ này có những loài truyền bệnh giun chỉ. Chi phụ
Mansonia Coquillettidia có nhiều loài, nhưng loài M.(C).crassipes đã được xác
định có vai trò truyền bệnh. Chi phụ Mansonia Mansonioides có nhiều loài có
khả năng truyền bệnh, ở Việt Nam đã xác định được hai loài M.(M).annulifera và
M.(M).uniformis có khả năng truyền bệnh giun chỉ.
Gần đây, Nguyễn Duy Toàn và CS (1992), đã
xác định loài M.(M).indiana cũng truyền bệnh giun
chỉ ở Việt Nam.
Về cấu tạo muỗi Mansonia: hầu như thân các
loài muỗi, kể cả chân và cánh có vẩy phủ màu nâu
sẫm và vẩy màu nhạt làm muỗi trông như có bụi
bám hoặc được rắc muối và tiêu (hình 16.5).
Các loài truyền bệnh giun chỉ thường đẻ trứng thành từng đám, dính treo vào
mặt dưới của cây hoặc gần sát mặt nước.
Do cả bọ gậy và quăng bám vào các thực vật thủy sinh để thở, nên chỉ thấy
chúng ở những nơi nước thường xuyên có thực vật như đầm lầy, giếng nước,
mương máng có cỏ, máng dẫn nước và rất khó tìm. Cũng có thể thấy bọ gậy loài
này ở chỗ nước sâu hơn và có thực vật nổi, thường bám vào mặt dưới, nằm trong
nước, của các loài bèo.
Các loài Mansonia thường đốt vào ban đêm, chủ yếu ở ngoài nhà, nhưng một
số loài cũng vào nhà. Sau khi đốt máu, muỗi thường trú ẩn ngoài nhà.
1. Mansonia (Coquillettidia) crassipes.
Muỗi M.(C).crassipes phân bố rộng rãi ở Ấn Độ, Srilanca, Đông Nam Á...
Muỗi có kích thước trung bình, màu từ vàng nhạt đến nâu. Chân, bụng, cánh
có màu nâu sẫm, lưng và sườn màu nâu vàng. Chân màu xẫm nhưng gốc đùi có
màu vàng nhạt.
Muỗi đẻ trứng ở nơi có nhiều ao, hồ trồng cây thủy sinh, trứng hình bầu dục,
thon về phía đỉnh, có màu nâu đen hoặc đen, trứng dính thành bè nổi trên mặt
nước.
Bọ gậy ở sâu dưới nước, ống thở cắm vào rễ cây để lấy ôxy. Bọ gậy ăn các
chất hữu cơ có trong nước, bọ gậy dài khoảng 6 mm, có màu trắng sữa.
Hình 16.5: Muỗi Mansonia
477
Quăng ở sâu dưới nước, phễu thở của quăng dài, sau một thời gian quăng lột
xác thành muỗi trưởng thành.
Vai trò truyền bệnh của muỗi M.(C).crassipes ở Việt Nam chưa được nghiên
cứu, nhưng ở Malaysia, Borneo (Indonesia) có vai trò lớn trong lan truyền
bệnh giun chỉ Brugia malayi.
2. Mansonia (Mansonioides) annulifera.
Muỗi có kích thước nhỏ hoặc trung bình, trên thân và chân có nhiều đốm
vàng trắng xen kẽ, gân cánh có vẩy vàng trắng xáo trộn, tạo cho muỗi có màu
vàng rơm. Trên lưng (mesonotum) có 7 đốm trắng. Sáu đốm xếp thành hai hàng
song song với nhau từng đôi một, đốm thứ 7 xếp giữa 2 đốm sau cùng.
Muỗi gặp nhiều ở vùng nông thôn hoặc ven thành phố, nơi có nhiều ao hồ và
chăn nuôi trâu bò, muỗi đẻ trứng ở những ao có cây thủy sinh nhất là các loại
bèo, trứng xếp thành chùm treo ở dưới mặt lá mấp mé nước.
Muỗi trú ẩn ở vườn rậm, bãi cỏ, bụi cây thấp nơi ít ánh sáng. Muỗi đậu, trú
ẩn trong nhà ở gầm giường, tủ, bàn ghế, nơi góc nhà tối.
Muỗi thích hút máu trâu, bò, người, hút máu vào ban đêm. Muỗi thường bay
vào nhà, chuồng gia súc hút máu, khi no lại bay ra ngoài.
Muỗi có quanh năm, tại Hà Nội bắt được nhiều vào các tháng 9 - 10 - 11 - 12
(Đặng Văn Ngữ, 1960).
Muỗi truyền giun chỉ Brugia malayi.
3. Mansonia (Mansonioides) uniformis.
Muỗi cỡ trung bình, trên thân, chân có vảy nâu, trắng xen kẽ tạo cho muỗi có
màu nâu nhạt. Trên lưng (mesonotum) có các vảy trắng làm thành hai đường
thẳng chạy dọc hai bên lưng.
Sinh lí, sinh thái và khả năng truyền bệnh giống muỗi M.(M).annulifera.
MUỖI AEDES
Muỗi Aedes có mặt khắp nơi trên thế giới và có khoảng trên 950 loài. Loài
này gây ra mối phiền hà lớn do việc đốt người và súc vật, cả ở vùng nhiệt đới và
478
Hình 16.6: Muỗi Aedes
nơi có khí hậu mát mẻ hơn. Ở những nước nhiệt đới, muỗi Aedes aegypti là vật
quan trọng truyền bệnh Dengue, bệnh sốt xuất huyết, bệnh sốt vàng và các bệnh
virut khác. Một loài gần với loài này là Aedes albopictus, cũng có thể truyền
bệnh Dengue. Ở một số nơi, muỗi Aedes truyền bệnh giun chỉ.
Loài này đẻ trứng rời từng chiếc trên những diện tích ẩm ướt, ngay trên thành
hoặc gần sát với mặt nước, trong những dụng cụ chứa nước tạm thời, hoặc những
nơi có nước lên xuống. Nó chịu được độ khô trong nhiều tháng và chỉ nở khi bị
ngập nước. Tất cả các loài Aedes ở vùng có mùa đông lạnh có thể sống sót qua
thời kì này ở dạng trứng. Một số loài đẻ trứng ở vùng ven biển nước mặn và đầm
lầy, bị ngập nước từng thời kì do thủy triều lên cao bất thường, hoặc mưa to,
trong khi một số loài khác đã thích ứng được với việc tưới tiêu trong nông
nghiệp.
Bệnh sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue là bệnh thường gặp ở thành phố
của vùng Đông Nam Á. Muỗi truyền bệnh là Aedes aegypti và Aedes.albopictus.
1. Aedes aegypti.
Muỗi Aedes aegypti nhỏ, màu đen, chân, thân, bụng có khoang đen trắng rõ
rệt, đặc biệt vùng ngực có các vẩy trắng xếp thành hàng, trên lưng có hình chiếc
đàn 2 dây màu trắng (hình 16.6). Muỗi gặp nhiều ở thành phố nên được gọi là
muỗi vằn thành thị. Muỗi còn ở các thị trấn dọc theo các trục đường giao thông
có dân cư đông đúc.
Muỗi thích đậu cao, nơi treo vắt quần áo,
mùng màn, ở trong và ngoài nhà. Muỗi hút
máu vào ban ngày, bay rất nhanh, thấy mồi lao
vào hút máu ngay, theo mồi rất dai và chỉ bay
đi khi đã hút máu no. Hoạt động hút máu của
muỗi Aedes aegypti phụ thuộc nhiệt độ môi
trường, nếu nhiệt độ dưới 230C thì muỗi hầu
như không hút máu. Muỗi hút cả máu người và
các động vật như: chim, gà, thỏ, chuột...
Muỗi đẻ trứng ở những nơi có nước (rất
thích đẻ trứng vào nước mưa), muỗi đôi khi đẻ
479
trong đất ẩm, nhưng muốn nở ra bọ gậy trứng phải được rơi vào nước. Mỗi lần
muỗi đẻ khoảng 150 trứng, cả đời muỗi đẻ 6 - 7 lần. Ở điều kiện phòng thí
nghiệm muỗi có thể đẻ tới 13 lần.
Muỗi ham hút máu, hoàn thành vòng đời nhanh, giao phối trong không gian
nhỏ, nên muỗi được nuôi trong phòng thí nghiệm để thử thuốc hoặc tiến hành
các nghiên cứu khác trên muỗi.
Mùa phát triển của muỗi thường vào mùa mưa, ở miền Bắc muỗi phát trtển từ
tháng 4 đến tháng 11, thường có hai đỉnh cao vào tháng 5 - 6 và tháng 10 - 11.
Muỗi truyền mầm bệnh bệnh sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue và mầm
bệnh sốt vàng. Phòng chống Aedes aegypti bằng cách che đậy kín nơi chứa nước,
thả cá cho cá ăn bọ gậy, thay nước thường xuyên, 7 - 10 ngày thay một lần. Khi
có nhiều muỗi hoặc đang có dịch thì dùng malathion, permethrin... phun dưới
dạng sương mù (ULV - Ultralow volum).
2. Aedes albopictus.
Muỗi Aedes albopictus về hình thể rất giống muỗi Aedes aegypti chỉ khác
trên mặt lưng có một vạch trắng, chạy dọc lưng.
Sinh lí, sinh thái của muỗi Ae.albopictus tương tự như của muỗi Aedes
aegypti, nhưng muỗi Aedes albopictus phân bố chủ yếu ở vùng nông thôn, gặp ít
ở thành phố.
480
SIMULIDAE - HỌ RUỒI VÀNG
1. Hình thể.
Ruồi vàng có thân màu đen, lông phớt vàng, dài 2 - 5 mm, đầu dẹt, anten có
11 đốt, pan có 5 đốt, vòi ngắn nhưng nhọn và khỏe, ngực to gồ về phía lưng, hai
cánh trong suốt dài hơn thân (hình 16.7).
Ấu trùng ruồi vàng có hình con sâu, phần đầu có một chùm lông xòe ra hình
quạt để vơ thức ăn, có một chân giả ở phía trước thân và cuối thân có một giác
để bám.
Thanh trùng nằm trong kén hình chóp, không ăn, không hoạt động, thở bằng
các khí quản.
2. Đặc điểm sinh học.
2.1. Vòng đời:
Ruồi vàng phát triển qua 4 giai đoạn: trứng - ấu trùng - thanh trùng - trưởng
thành. Ruồi đẻ trứng ở nơi nước suối chảy mạnh, mỗi lần đẻ từ 300 - 500 trứng,
nhiều ruồi vàng đẻ vào một chỗ tạo thành từng ổ, trứng bám vào lá cây hoặc đá
mấp mé mặt nước.
Khoảng 10 ngày sau trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng bám vào đá hoặc cành
cây, lá cây dưới nước nhờ giác bám ở cuối thân. Ấu trùng thở qua da và 3 màng
thở ở hậu môn, sau 5 lần lột xác, ấu trùng nhả tơ làm kén, thành nhộng (thanh
trùng). Sau một thời gian thanh trùng cắn kén chui ra thành ruồi vàng trưởng
Hình 16.7: Ruồi vàng.
(a) Trưởng thành; (b) Ấu trùng; (c) Thanh trùng; (d) Trứng.
a
b d
c
481
thành. Thời gian hoàn thành vòng đời từ 15 - 30 ngày, ruồi vàng thuộc nhóm
biến thái hoàn toàn.
2.2. Sinh lí, sinh thái:
Chỉ có ruồi cái hút máu, thời gian hoạt động hút máu buổi sáng từ 6 - 8 giờ,
buổi chiều từ 16 - 18 giờ; buổi trưa nắng, trời mưa, gió mạnh trên 3m/giây, ruồi
vàng ngừng hoạt động. Ruồi vàng hoạt động ở khu vực quanh bờ suối là chủ yếu,
xa bờ ít hơn, xa trên 2000 m hoàn toàn không thấy ruồi vàng hoạt động. Ruồi có
thể bay xa 1 - 2 km, hút máu người và động vật, mỗi lần hút 4 - 5 phút mới no.
Ruồi vàng đốt ít đau, khi ngừng đốt thường để lại giọt máu ở vết đốt.
Ruồi vàng sống hoang dại, ở vùng núi đá có nước suối chảy mạnh. Ở Việt Nam
ruồi vàng phân bố nhiều ở vùng Tây Bắc, đặc biệt ở Mù Cang Chải (Nghĩa Lộ).
Ruồi vàng
Hình 16.8: Vòng đời của ruồi vàng truyền bệnh giun chỉ
482
Hình 16.9: Vòng đời của ruồi vàng
truyền bệnh giun chỉ.
3. Vai trò y học.
Ruồi vàng truyền bệnh giun chỉ Onchocherca volvulus của người. Bệnh phổ
biến ở châu Phi và Nam Mĩ. Ở Việt Nam chưa phát hiện thấy bệnh này.
Vết đốt của ruồi vàng nhanh chóng nổi mẩn, đỏ xung quanh có đường kính
tới vài centimet, ngứa dữ dội, có khi chỗ đốt phù nề, càng gãi càng ngứa, chất
độc của ruồi vàng gây loét, nhiễm trùng, nổi hạch. Thường để lại vết sẹo đen to,
đôi khi nổi sẩn cục cứng to bằng hạt ngô, kéo dài hàng năm.
4. Phòng chống.
Diệt ruồi vàng rất khó, ấu trùng sống ở nơi nước chảy mạnh, ruồi vàng
trưởng thành hoạt động ở trong rừng.
Phòng ruồi vàng đốt: mặc quần áo, đi tất, giày che kín, hoặc dùng các hoá
chất bôi vào chỗ da hở, hạn chế hoạt động ở gần suối vào các giờ ruồi vàng hoạt
động hút máu. Nếu bị ruồi vàng đốt, phải nặn hết máu, bôi cồn 700 vào vết đốt và
tránh gãi để phòng nhiễm trùng.
PHLEBOTOMUS - MUỖI CÁT
1. Hình thể.
Muỗi cát nhỏ khoảng 3mm, màu vàng trắng, mắt to đen nổi rõ. Trên chân,
cánh, thân đều có lông, cánh hình bầu dục,
đầu mút cánh hình mũi mác. Hai cánh
không khép vào thân khi đậu, mà luôn
dựng đứng tạo thành hình chữ V. Anten
dài 16 đốt phủ đầy lông (hình 16.9). Trứng
màu đen dài và thon ở hai đầu, ấu trùng
hình con sâu, thân chia đốt, đuôi có lông
dài, thanh trùng màu vàng, đầu hình tam
giác bụng chia đốt và uốn cong.
483
2. Đặc điểm sinh học.
2.1. Vòng đời:
Vòng đời phát triển qua 4 giai đoạn: trứng - ấu trùng - thanh trùng - trưởng
thành.
Sau khi hút máu no khoảng 30 - 36 giờ thì muỗi đẻ trứng vào các khe kẽ tối
ẩm ở các bãi hoang, số lượng từ 30 - 50 trứng; 6 - 12 ngày sau trứng nở ra ấu
trùng, sau 4 lần lột xác (khoảng 25 - 30 ngày) phát triển thành thanh trùng và 10
ngày sau thành con trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời từ 5 - 9 tuần.
Tuổi thọ trung bình của muỗi từ 14 - 15 ngày.
2.2. Sinh lí, sinh thái:
Muỗi cát sống hoang dại, trú ẩn ở các hốc cây, khe đá đặc biệt hay gặp ở
các tổ mối. Có loài trú ẩn trong nhà (Ph.papatasi), có loài trú ẩn ở chuồng gia súc
(Ph.argentipes), loài Ph.sergenti lại gặp nhiều ở trong rừng.
Chỉ có muỗi cái mới hút máu. Ở Việt Nam nhiều nơi có muỗi cát nhưng chỉ
phân bố ở trong vùng rất hẹp của một địa phương. Đã phát hiện thấy muỗi cát ở:
Cẩm Bình (Hải Dương), Ghềnh (Ninh Bình), Đức Phổ (Quảng Ngãi). Nói chung
ở Việt Nam muỗi cát chưa được nghiên cứu đầy đủ.
3. Vai trò y học.
Muỗi cát truyền nhiều bệnh khác nhau:
+ Bệnh Kala - azar (bệnh Leishmania nội tạng): gặp nhiều ở vùng Trung Á,
Địa Trung Hải, Ấn Độ... ở Việt Nam năm 1979, Bệnh viện 103 đã phát hiện được
mầm bệnh kí sinh trùng này ở trên một tử thi. Sau đó Bệnh viện Thụy Điển -
Uông Bí (Quảng Ninh) cũng đã phát hiện được mầm bệnh trên 3 bệnh nhân.
+ Bệnh Leishmania ngoài da.
+ Bệnh mụn Peru.
+ Bệnh sốt muỗi cát (bệnh này và bệnh mụn Peru chưa gặp ở Việt Nam).
4. Phòng chống.
Phòng chống muỗi cát khó, vì muỗi cát thường phân bố trong một vùng rất
hẹp, khó xác định được. Thường dùng hoá chất xua diệt côn trùng để xua diệt
484
Hình 16.10: Dĩn trưởng thành.
muỗi cát, nhưng hiệu quả kém. Cần có các biện pháp phát hiện và diệt chó bị
bệnh, vì chó cũng là vật chủ của Leishmania.
CERATOPOGONIDAE - HỌ DĨN
Dĩn thuộc lớp côn trùng hai cánh hút máu, kích thước 1 - 2 mm, có nhiều
chi khác nhau, nhưng trong y học chỉ chú ý tới 3 chi: Culicoides, Lashiohelea và
Leptoconops.
Cả 3 chi này đều có ở Việt Nam, nhưng chi Culicoides phổ biến hơn.
Dĩn có màu nâu đen, chân dài, trên cánh có các lông lớn hoặc lông nhỏ
(marcrotrichi, hoặc microtrichi) (hình 16.10).
Vòng đời của dĩn phát triển qua 4
giai đoạn: trứng - ấu trùng - thanh
trùng - trưởng thành.
Dĩn thuộc nhóm côn trùng có
vòng đời biến thái hoàn toàn.
Dĩn đẻ ở nơi có nhiều mùn, rác, lá
cây mục nát, đất ẩm, hốc cây, bùn...
Hoạt động của dĩn phụ thuộc vào ánh
sáng, tốc độ gió, mưa nắng Chi
Culicoides hút máu vào ban đêm. Chi
Leptoconops hút máu vào ban ngày; trời càng nắng chúng hút máu càng mạnh.
Chi Lashiohelea thường hút máu vào buổi sáng hoặc lúc không có ánh nắng, đặc
biệt khi có cơn giông, dĩn xuất hiện thành từng đám, dĩn rất ham hút máu vật chủ:
người, trâu, bò, dê, ngựa Chỉ có dĩn cái mới hút máu.
Dĩn truyền một số mầm bệnh như: giun chỉ, viêm não Vai trò truyền bệnh
của dĩn ở nước ta chưa được nghiên cứu đầy đủ.
485
Hình 16.11: Ruồi nhà trưởng thành.
Dĩn đốt có cảm giác ngứa, khó chịu, có thể nổi mẩn, dị ứng. Do kích thước
nhỏ dĩn có thể luồn vào kẽ tóc, chui qua màn hút máu, gây ngứa ngáy, mất ngủ,
ảnh hưởng đến sức khoẻ và năng suất lao động.
Phòng chống dĩn khó khăn, có thể dùng các hoá chất xua diệt côn trùng, dọn
dẹp vệ sinh quanh nhà ở, chuồng gia súc, bến tắm giặt... để triệt phá nơi sinh đẻ
của dĩn.
MUSCA DOMESTICA - RUỒI NHÀ
Ruồi nhà thuộc lớp côn trùng hai cánh, không hút máu, ruồi sinh sản nhanh,
nhiều, ruồi thường xuyên sống gần người, truyền bệnh theo phương thức không
đặc hiệu.
1. Hình thể.
Ruồi nhà màu xám đen, toàn thân và chân có nhiều lông (hình 16.11). Đầu
ruồi hình bán cầu, có hai mắt kép. Ruồi đực có hai mắt kép gần nhau, ruồi cái có
hai mắt kép xa nhau. Anten ngắn, có 3 đốt, vòi ruồi cấu tạo theo kiểu liếm hút,
khi không ăn vòi gập được vào ổ miệng.
Ngực ruồi có 3 đôi chân, một đôi cánh
mỏng, trong suốt với 5 gân dọc. Chân ruồi
được chia ra thành nhiều đốt, có lông, đốt
cuối bàn chân có móng, đệm móng và tuyến
tiết chất dính.
Bụng ruồi thường chỉ nhìn rõ 5 đốt, ruồi
cái có ống dẫn trứng, kéo dài ra khi đẻ, sau
đẻ co lại. Ruồi cái có độ dài khoảng 5,6 - 7,5
mm, ruồi đực nhỏ hơn: 5,8 - 6,5 mm.
Trứng ruồi hình bầu dục, màu trắng, nhỏ.
Ấu trùng (dòi) màu trắng ngà, thân chia
10 đốt.
Thanh trùng (nhộng) không ăn, không hoạt động; dài khoảng 5 - 6,3 mm,
màu nâu đen như hạt gạo rang cháy.
486
2. Đặc điểm sinh học.
2.1. Vòng đời:
Ruồi nhà là loài côn trùng có vòng đời biến thái hoàn toàn, phát triển qua 4
giai đoạn: trứng - ấu trùng - thanh trùng - trưởng thành (hình 16.12). Ruồi đẻ ra
trứng, sau khi giao phối 4 - 8 ngày ruồi bắt đầu đẻ, mỗi lần ruồi đẻ 100 - 150
trứng, cả đời ruồi đẻ 4 - 8 lần. Về mùa hè sau khoảng 12 - 24 giờ, trứng nở ra dòi,
dòi lột xác 2 lần, dài 1 - 1,2 cm. Sau 2 - 4 ngày dòi chui xuống đất lột xác, nhưng
xác vẫn giữ nguyên thành kén giả, đó là nhộng, sau một thời gian phá kén, chui
lên khỏi mặt đất trở thành ruồi trưởng thành.
Thời gian hoàn thành vòng đời của ruồi phụ thuộc vào nhiệt độ và thức ăn
của môi trường. Ở môi trường có đủ thức ăn và nhiệt độ 180C ruồi hoàn thành
vòng đời trong khoảng 20 ngày, ở nhiệt độ 280C, thời gian này chỉ khoảng 10,5
ngày.
Đời sống của ruồi về mùa hè ngắn: khoảng 18 - 20 ngày, mùa đông sống lâu
hơn, có khi tới 4 tháng.
Hình 16.12: Vòng đời sinh học ruồi nhà.
2.2. Sinh lí, sinh thái:
Ruồi thường đẻ trứng vào hố rác, phân người, phân gia súc hoặc xác động
vật. Sau 12 - 24 giờ trứng nở ra dòi giai đoạn I (ấu trùng I), dòi ăn các chất hữu
Nhộng
Trưởng thành
Trứng
8 - 16 giờ 3 - 7 ngày
3 - 6 ngày
Ấu trùng
487
cơ trong môi trường, sau 2 lần lột xác thành dòi giai đoạn III, chúng không ăn,
tìm nơi đất xốp để chui xuống phát triển thành nhộng (thanh trùng), nhộng
thường ở độ sâu thích hợp 20 - 30 cm dưới mặt đất, nhưng có khi chỉ 1 - 2 cm.
Nếu dòi không chui được xuống đất thì không thể thành nhộng được. Nhộng
không ăn, không hoạt động. Sau một thời gian nhộng nở ra ruồi và chui lên khỏi
mặt đất, khoảng 2 giờ sau khô cánh, ruồi bay đi. Vào mùa đông lạnh, ruồi phát
triển chậm, hoặc ngừng phát triển, sang xuân ấm áp, nhộng mới nở, nếu đất chặt
quá, hoặc nhiều nước quá ruồi không chui lên được khỏi mặt đất và chết.
Sau khi nở khoảng 2 ngày, ruồi bắt đầu giao phối, nếu đói ruồi không giao
phối được, nếu thức ăn thiếu đạm, trứng thường không phát triển. Ruồi sinh sản
nhanh và nhiều. Theo Howard: một ruồi cái trung bình 1 lần đẻ 120 trứng. Chỉ
trong vòng gần 5 tháng (tính từ 15 tháng 4 đến 10 tháng 9) từ một một ruồi cái
qua nhiều thế hệ sinh sản cho ra đời 398.720.000.000 ruồi, con số này ít hơn thực
tế nhiều vì chỉ tính mỗi đời ruồi đẻ một lần. Theo Hodge cũng từ một ruồi cái qua
mùa hè có thể tạo ra 191010 1015 ruồi, số lượng này chứa đầy 180 dm3.
Ruồi không phải là kí sinh trùng. Ruồi ăn tất cả các thức ăn từ chất lỏng đến
chất rắn. Nếu thức ăn là chất rắn thì ruồi tiết nước bọt làm mềm thức ăn, rồi hút
vào dạ dày.
Ruồi ăn rất lâu, khoảng 2 giờ mới no, ăn tất cả các chất bổ đến chất thừa,
thải, ôi, thiu. Ruồi vừa ăn vừa nôn, vừa bài tiết, đạp rũ chân, gây ô nhiễm nơi ruồi
đậu.
Ruồi tìm thức ăn nhờ đôi râu, ruồi thích thức ăn có mùi thơm, tanh, thối.
Thức ăn và chất thải của người là thức ăn của ruồi, ở đâu có người ở đó có ruồi,
vì vậy được gọi là ruồi nhà (Musca domestica).
Ruồi hoạt động vào ban ngày. Ruồi không thích ánh sáng mặt trời trực tiếp
cũng không thích chỗ tối. Ruồi thích màu vàng, da cam, ruồi không thích màu
tím, màu đỏ.
Ruồi bay xa được khoảng 1.500 m. Nhưng ruồi có thể theo tàu, xe, thuyền bè,
phát tán đi rất xa.
Ruồi phát triển và hoạt động mạnh vào mùa nóng; mùa lạnh ruồi ít hoạt động,
thường tìm nơi ấm để đậu. Ruồi phát triển ở nơi có điều kiện vệ sinh kém.
3. Vai trò y học.
Ruồi truyền bệnh theo phương thức không đặc hiệu và truyền được rất nhiều
loại mầm bệnh. Ruồi có vai trò truyền bệnh rất lớn do:
488
+ Cấu tạo của ruồi có rất nhiều lông ở chân, ở vòi nên mang được nhiều loại
mầm bệnh.
+ Ruồi thích ăn phân, máu, mủ, chất nôn, các mầm bệnh vào cơ quan tiêu hoá
của ruồi, không bị tiêu diệt, vẫn tồn tại.
+ Ruồi thích ăn các thức ăn của người và sống gần với người.
+ Trong khi ăn ruồi vừa ăn, vừa nôn, vừa bài tiết...
+ Ruồi có thể vận chuyển được nhiều mầm bệnh.
Theo Derbeneva - Ukhova (1952) ruồi có thể mang trên thân 6 triệu mầm
bệnh và trong ống tiêu hoá 28 triệu mầm bệnh.
Ruồi truyền được các loại mầm bệnh sau:
- Vi khuẩn: tả, lị, lao, thương hàn...
- Virut: đậu mùa, mắt hột, viêm gan, bại liệt...
- Kí sinh trùng: amíp lị, trùng roi, trứng giun sán...
Do đặc tính sinh lí, sinh thái, khả năng vận chuyển mầm bệnh của ruồi, ruồi
đã trở thành một trong các nguyên nhân quan trọng phát sinh dịch đặc biệt là các
dịch bệnh đường tiêu hoá.
4. Phòng chống.
+ Triệt nguồn thức ăn của ruồi: vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, quản lí
và xử lí các chất thải.
+ Triệt nơi sinh đẻ của ruồi: chuồng gia súc, hố xí, hố rác phải xây gạch hoặc
nện chặt đất, đậy kín...
+ Diệt ruồi trưởng thành: đập, bẫy, bẫy dính, mồi độc, khi dùng phải bảo đảm
an toàn cho người và gia súc.
TABANIDAE - HỌ RUỒI TRÂU
Ruồi trâu thuộc lớp côn trùng hai cánh, hút máu. Ruồi trâu có nhiều chi,
nhưng chi Tabanus và chi Chrysops có vai trò y học.
1. Đặc điểm hình thể.
1.1. Ruồi trưởng thành:
Có kích thước khoảng 6 - 30 mm, chiều dài trung bình khoảng 10 - 20 mm
(hình 16.13).
489
Đầu: có đôi mắt kép màu xám, có hai anten, mỗi anten có 3 đốt. Vòi ruồi trâu
ngắn và khoẻ.
Ngực: lớn, có đôi cánh rộng, khoẻ, tùy từng chi, cánh có thể trong suốt hoặc
có băng đen chạy ngang, có 3 đôi chân. Bụng: có đốt, những đốt cuối là cơ quan
sinh dục, toàn thân ruồi có màu xám hoặc vàng, có nhiều lông cứng.
Hình 16.13: (a) Chysops fixissmus; (b) C.discalis Williston.
1.2. Trứng ruồi:
Hình bầu dục, thon dài, thường dính vào lá cây, vách đá nhô ra mặt nước.
1.3. Ấu trùng:
Ấu trùng có hình con sâu, thon ở hai đầu, miệng ấu trùng có màng kitin dài
và nhọn. Ấu trùng có 3 đốt ngực và 10 đốt bụng.
1.4. Thanh trùng (nhộng):
Giống như nhộng của ruồi nhà nhưng kích thước lớn hơn.
2. Đặc điểm sinh học.
Vòng đời ruồi trâu phát triển qua 4 giai đoạn: trứng - ấu trùng - thanh trùng -
trưởng thành.
Ruồi trưởng thành mỗi lần đẻ khoảng 100 - 800 trứng, sau 5 - 7 ngày trứng
nở ra ấu trùng. Ấu trùng rơi xuống nước hoặc có thể ở trong bùn, cát. Ấu trùng
ăn các loại côn trùng và động vật có trong môi trường. Sau khoảng gần 1 năm ấu
trùng phát triển thành nhộng, những ấu trùng ở sâu trong bùn, cát sự phát triển
thành nhộng khó khăn hơn. Sau từ 1 đến 3 tuần ruồi phá vỏ chui ra thành ruồi
trâu trưởng thành.
(a) (b)
490
Hình 16.14: Bọ chét trưởng thành.
Ruồi trâu cái hút máu người và động vật. Chi Tabanus mỗi lần hút 0,2 ml
máu trong khoảng 10 phút. Ruồi hoạt động hút máu vào những ngày nắng, ấm,
ẩm. Ruồi hoạt động nhiều ở ven suối, đồng cỏ, đầm lầy.
3. Vai trò y học.
Ở Việt Nam chưa nghiên cứu đầy đủ về vai trò truyền bệnh của ruồi trâu.
Ruồi trâu truyền được một số mầm bệnh giun chỉ, Trypanosoma, Tularemie...
Bệnh chủ yếu của động vật.
Ruồi trâu đốt rất đau, vết đốt thường bị viêm loét lâu khỏi.
4. Phòng chống.
+ Chưa có biện pháp hữu hiệu nào để phòng chống ruồi trâu.
+ Một số nước (Liên Xô cũ) dùng dầu hoả đổ vào nước để tạo màng mỏng
hoặc rút nước trong các đầm lầy để diệt ấu trùng và thanh trùng.
+ Phun hoá chất diệt côn trùng như DDT, 666,... để diệt ruồi trưởng thành
nhưng kết quả hạn chế.
APHANIPTERA - BỘ BỌ CHÉT
Bộ bọ chét là loại côn trùng không có cánh, thành phần loài rất phong phú.
Tại Việt Nam đã phát hiện được 34 loài (Đỗ Sĩ Hiển, 1992).
1. Hình thể.
Thân bọ chét dẹt 2 bên, cấu tạo đối xứng, vỏ thân bằng kitin dày, cứng. Bọ
chét dài 1- 5 mm, con đực nhỏ hơn con cái. Bọ chét có màu vàng, nâu, nâu sẫm
hoặc đen... màu sắc biến đổi đậm nhạt tùy theo môi trường sống. Toàn thân bọ
chét có phủ nhiều lông cứng, mọc xuôi về phía sau (hình 16.14).
+ Đầu: có 2 anten nằm trong rãnh anten ở phía sau mắt, có 1 đôi pan và 1
vòi. Có loài có mắt (loại mắt đơn), có loài không có mắt, có loài mắt thoái hoá.
Đầu có lông ở trước mắt, lông ở gáy; có
loài có những lông to, cứng ở gần vòi gọi
là lược má.
+ Ngực: có 3 đốt là đốt trước, đốt giữa
và đốt sau, mỗi đốt mang 1 đôi chân. Mỗi
491
Hình 16.15: Vòng đời phát triển của bọ chét.
chân có 5 đốt; đôi chân sau mập và dài nhất giúp bọ chét nhảy được cao và xa
(P.irritans nhảy cao 19,5 cm, xa 33 cm). Tấm lưng ở các đốt ngực trước và sau
đôi khi có lược, gọi là lược ngực trước và lược ngực sau.
+ Bụng: có 10 đốt, mỗi đốt có nhiều hàng lông, có loài có lược bụng. Ba đốt
cuối (đốt 8, 9, 10) phát triển thành cơ quan sinh dục. Con đực có càng sinh dục ở
đốt cuối; con cái có túi chứa tinh bên trong bụng.
Trong ống tiêu hoá của bộ chét, giữa thực quản và dạ dày là diều. Trong diều
có những gai kitin nhỏ, cấu tạo như hom giỏ giống chiếc phễu lộn ngược, có tác
dụng ngăn không cho máu chảy ngược ra khi bọ chét hút máu vào dạ dày.
2. Đặc điểm sinh học.
2.1. Vòng đời:
Vòng đời bọ chét trải qua 4 giai đoạn: trứng - ấu trùng - thanh trùng (nhộng)
và trưởng thành.
Bọ chét đực và cái đều hút máu. Sau khi giao phối con cái đẻ trứng.
Bọ chét trưởng thành đẻ trung bình 400 trứng (Xenopsylla cheopis đẻ 300 -
400 trứng; Pulex irritans đẻ 448 trứng; Ctenocephalides felis đẻ 800 trứng). Sau
khoảng 1 tuần trứng nở ra ấu trùng.
Ấu trùng có hình con sâu, trên thân có nhiều lông nhỏ dài. Ấu trùng ăn phân
của bọ chét bố mẹ, trong phân có nhiều máu khô chưa tiêu hoá và các tạp chất
hữu cơ khác. Sau khoảng 2 tuần, qua 2 lần lột xác, ấu trùng nhả tơ làm kén và
thành nhộng. Nhộng không ăn, không hoạt động, sau 1 tuần nhộng nở ra bọ chét
trưởng thành.
Thời gian hoàn thành vòng đời
của bọ chét Xenopsylla cheopis ở
21 - 230C khoảng 3 - 5 tuần.
2.2. Sinh lí, sinh thái:
Bọ chét rất ham hút máu, khi đã
no vẫn tiếp tục hút máu, vừa hút
vừa đùn máu ra hậu môn để có máu
nuôi ấu trùng. Bọ chét có sức chịu
đói rất cao: Pulex irritans không hút
máu vẫn sống được trên 4 tháng.
Bọ chét hút máu nhiều loài vật chủ:
Trưởng
thành
Nhộng
Ấu trùng
Trứn
g
492
chuột, chó, mèo, chồn, sóc, dơi, chim, gà...và người.
Tuy nhiên, bọ chét có tính chọn lọc vật chủ để kí sinh:
+ X. cheopis thích hút máu chuột.
+ P. irritans thích hút máu chó.
+ Stivalius thích hút máu chuột và các động vật hoang dã.
Bọ chét trưởng thành có thể sống tự do ở đất, nơi có nhiều mùn, cát, rác
rưởi... trong các khe kẽ tường hoặc trong các hang ổ chuột, ổ gà, tổ chim...
Khi có nhiều bọ chét, có thể nhận biết sự có mặt của chúng bằng dấu hiệu của
các vết máu khô do bọ chét không tiêu hoá hết thải ra quần áo, giường...
Theo tính chất kí sinh có thể phân bọ chét thành các nhóm:
+ Bọ chét kí sinh cố định thường xuyên trên thân vật chủ: bọ chét chi
Tunga
+ Bọ chét kí sinh trên thân vật chủ là chính, có thời gian ngắn sống tự do:
P.irritans, C.felis...
+ Bọ chét sống trong hang ổ động vật là chính, chỉ kí sinh ở vật chủ khi hút
máu: bọ chét chi Phadinopsylla...
Bọ chét có thể phát tán đi xa do chuột mang đi theo các phương tiện giao
thông: tàu biển, máy bay, ôtô... tới các vùng xa lạ, vì vậy bệnh dịch hạch do bọ
chét truyền có thể lan truyền từ vùng này sang vùng khác.
Mùa phát triển của bọ chét tùy theo loài: X. cheopis phát triển mạnh vào mùa
nóng từ tháng 6 đến tháng 9; P.irritans từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, chi
Stivalis phát triển mạnh vào mùa xuân từ tháng 3 đến tháng 6.
3. Vai trò truyền bệnh.
Bọ chét có thể truyền những mầm bệnh: dịch hạch, sốt phát ban chuột, sán lá
chuột (Hymenolepis diminuta) và sán dây chó (Dipylidium canium)...
Ngoài vai trò truyền bệnh, bọ chét đốt có thể gây dị ứng, viêm da. Con người
thường bị bọ chét mèo C.felis đốt nhiều nhất, tiếp đến là bọ chét chó C.canis.
Còn P.irritans (mặc dầu có tên là bọ chét người như vậy) nhưng lại ít quan trọng
nhất. Khi đứng, người thường bị bọ chét tấn công cẳng chân, còn khi nằm thì bị ở
bất cứ vị trí nào.
493
3.1. Cơ chế truyền bệnh sán dây chuột và sán dây chó:
Những đốt sán già chứa đầy trứng theo phân hoặc tự bò ra hậu môn chó,
chuột. Đốt sán vỡ, trứng tung ra ngoại cảnh, có thể bám vào lông xung quanh hậu
môn chó, chuột. Bọ chét kí sinh ở chó, chuột nuốt phải trứng sán, trứng vào cơ
thể bọ chét phát triển thành nang ấu trùng. Nếu chó, chuột... và người (như trẻ em
chơi với chó) ăn phải bọ chét có nang ấu trùng sẽ mắc bệnh sán. Sán trưởng
thành kí sinh ở ruột.
3.2. Cơ chế truyền bệnh dịch hạch:
Để truyền bệnh vi khuẩn cần có bọ chét hút máu cả người và động vật (chuột).
P.irritans hút máu cả người và động vật nhưng hiếm khi hút máu chuột nên vai
trò không đáng kể. Chi Xenopsylla hút máu cả người và động vật, trong đó bọ
chét chuột châu Á X.cheopis có vai trò lớn.
Bệnh dịch hạch do vi khuẩn Yersinia pestis, gây ra những vụ dịch ở các động
vật hoang như: chuột, các loài gặm khác và có thể lây cho người. Trước đây, dịch
hạch được gọi là “cái chết đen” và là nguyên nhân gây ra các vụ dịch bệnh thảm
khốc. Vai trò truyền bệnh đáng chú ý là bọ chét chuột Xenopsylla.
+ Vi khuẩn dịch hạch từ vòi hoặc từ phân bọ chét theo vết đốt, vết xước xâm
nhập vào cơ thể vật chủ.
+ Vi khuẩn dịch hạch phát triển trong cơ thể bọ chét, vi khuẩn bám vào các
van ở diều tạo thành “nút” gây tắc diều. Bọ chét đói, nhưng khi hút máu vật chủ,
máu không vào tới dạ dày, bọ chét vẫn bị đói càng ham hút máu. Máu tới chỗ tắc,
bị đẩy ngược trở lại, mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua vết đốt.
+ Trong vụ dịch, bọ chét có “nút tắc” được coi là có vai trò truyền bệnh nguy
hiểm hơn cả. Ở Việt Nam, bọ chét X. cheopis được xác định là vector truyền
bệnh dịch hạch. Đã phân lập được mầm bệnh P.pestis ở bọ chét X.. cheopis tại
các khu vực có bệnh dịch hạch: Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum (Nguyễn Văn Nhã,
1980). Mật độ bọ chét X.. cheopis ở khu vực này là 81- 92%. Mầm bệnh dịch
hạch ở X. cheopis cũng được phân lập ở Nha Trang (Đỗ Sĩ Hiển,1992), ở Hải
Phòng và Hà Nội (Trương Sĩ Niêm, 1987).
+ Bọ chét còn truyền Rickettsia typhi thông qua phân bọ chét nhiễm bệnh.
Vector chủ yếu là X. cheopis. Bọ chét có thể truyền mầm bệnh Pasteurella
tulaensis (Tularemia) và Salmonella enteritidis (Salmonellosis).
494
4. Phòng chống.
Do bọ chét có thể kí sinh trên vật chủ và sống tự do ở môi trường, cần áp
dụng các biện pháp:
+ Diệt bọ chét ở môi trường bằng các hoá chất diệt côn trùng: DDT, 666,
diazinon... Có thể phun hoá chất diệt hoặc dùng giấy dính, đặt chậu nước ở nơi
không thể phun hoá chất.
+ Triệt phá nơi sinh sản của bọ chét: đốt ổ gia súc, vệ sinh nhà cửa, chuồng
trại, gầm sàn nhà...
+ Diệt bọ chét kí sinh trên chuột bằng các biện pháp kết hợp: diệt bọ chét với
diệt chuột.
+ Diệt bọ chét kí sinh trên các động vật nuôi (chó, mèo...) bằng cách tắm
lysol 10%.
+ Trong các vụ dịch hạch, cần diệt bọ chét ở môi trường trước khi diệt bọ
chét kí sinh trên chuột để tránh làm tăng mật độ bọ chét ở môi trường.
BỘ CHẤY RẬN
Chấy rận là những côn trùng không có cánh, thuộc nhóm biến thái không
hoàn toàn. Chúng là những ngoại kí sinh trùng bắt buộc, chỉ kí sinh trên người.
Có 2 bộ chấy rận: Mallophaga (chấy rận cắn đốt) và Anoplura (chấy rận hút
máu).
Phần miệng của chấy rận cắn đốt có kiểu nhai, nhưng có kích thước và số
lượng giảm mạnh và khó có thể nhận biết. Phần miệng của chấy rận hút máu gồm
có 5 gai giúp nó có thể châm hút máu vật chủ.
Trong bộ Mallophagans cần chú ý tới Trichodectes latus, là vật trung gian
truyền mầm bệnh sán dây chó Dipylidium caninum cho người.
Trong bộ Anopluran, loài rận thân Pediculus humonus là loài kí sinh trên vài
động vật và cả người, là một vector quan trọng có thể truyền cho người 3 bệnh:
sốt hồi quy, sốt phát ban chấy rận hay sốt phát ban dịch và sốt chiến hào. Một
loài cũng tương đối quan trọng là rận mu Phthirus pubis có thể truyền bệnh sốt
495
Hình 16.16: Chấy rận kí sinh ở người.
phát ban do Rickettsia trên động vật thí nghiệm. Tuy nhiên, loài rận thân vẫn là
loài quan trọng nhất trong việc truyền các bệnh trong tự nhiên.
1. Hình thể.
Chấy rận có màu trắng bẩn hoặc xám.
Con cái dài 2,5 - 3 mm; con đực 1 - 2 mm.
+ Đầu chấy rận hơi tròn, cổ chấy rận có khả năng cử động, râu ngắn gồm 5 đốt,
vòi kiểu châm hút.
+ Ngực có 3 đôi chân, có móng nhọn để bám chắc vào lông tóc, quần áo vật
chủ. Trên ngực có 2 lỗ thở.
+ Bụng có 9 đốt, từ đốt 1- 6, mỗi đốt có 2 lỗ thở, những đốt cuối có bộ phận
sinh dục.
Thân chấy rận dẹt theo chiều lưng bụng
Các loài chấy rận kí sinh trên người gồm có:
- Chấy: Perdiculus humanus var catipis.
- Rận: Perdiculus humanus var corporis.
- Rận sinh dục, còn gọi là rận cua, rận bẹn Phthirius ingulatis hoặc Phthirius pubis.
2. Đặc điểm sinh học.
Vòng đời phát triển qua 3 giai đoạn: trứng - thanh trùng - trưởng thành.
Trứng có hình bầu dục, màu trắng sữa, có chất kết dính để bám vào lông tóc,
quần áo vật chủ. Sau 5 - 11 ngày trứng
nở ra thanh trùng, sau 2 tuần thanh
trùng lột xác trở thành chấy rận trưởng
thành. Con trưởng thành sống được
khoảng 30 ngày. Cả đời chấy đẻ
khoảng 140 trứng, rận đẻ khoảng 300
trứng, rận bẹn đẻ khoảng 80 trứng.
Chấy rận có thể giao phối chéo, thế
hệ sau tiếp tục sinh sản được. Hình thể
chấy rận giống nhau, chỉ khác nhau về
vị trí kí sinh. Chấy kí sinh ở đầu, rận kí
sinh ở quần áo.
Chấy
rận
496
Chấy rận sống chủ yếu trên cơ thể vật chủ. Do không có cánh và chuyển
động chậm chạp nên nó chuyển từ vật chủ này sang vật chủ khác chủ yếu qua sự
tiếp xúc trực tiếp.
Cả giai đoạn thanh trùng và trưởng thành, con đực và cái đều kí sinh hút máu.
Việc hút máu xảy ra vài lần mỗi ngày. Chấy rận chỉ có thể phát triển ở môi
trường ấm gắn liền với da người, và chết trong khoảng vài ngày nếu nó không
được tiếp xúc với cơ thể người. Chúng phát tán nhờ sự tiếp xúc.
3. Vai trò y học.
Chấy rận hút máu gây ngứa ngáy khó chịu. Chất độc ở tuyến nước bọt tiêm
vào da có thể dẫn đến mệt mỏi và tạo cảm giác bị bệnh.
Các bệnh do chấy rận truyền thường phát triển về mùa đông- xuân. Rận bẹn ít
có vai trò truyền bệnh. Chấy rận có thể truyền được các mầm bệnh sau:
3.1. Sốt phát ban chấy rận:
+ Mầm bệnh là Rickettsia prowazekii, phát triển ở tế bào thành dạ dày của
chấy rận. Mầm bệnh được thải ra ngoài theo phân, qua vết xước xâm nhập vào cơ
thể người.
+ Bệnh diễn biến cấp tính với biểu hiện: đau đầu, sốt, cảm giác nóng lạnh và
đau toàn thân. Nếu không điều trị, tỉ lệ tử vong là 10 - 40%.
3.2. Sốt hồi quy chấy rận:
+ Mầm bệnh là Borrelia recurrentis, thường do chấy rận truyền. Mầm bệnh
được lưu thông trong dịch tuần hoàn của rận, truyền sang người khi rận bị giập
nát qua vết xước trên da.
+ Biểu hiện: bệnh nhân có từng đợt sốt trong 2 - 9 ngày đan xen với 2 - 4 ngày
không sốt.
3.3. Sốt chiến hào:
+ Mầm bệnh là Rickettsia quintana. Bệnh thường xảy ra trong chiến tranh,
ở những binh lính sống trong hầm hào thiếu vệ sinh. Bệnh đôi khi phát thành
dịch lớn.
+ Bệnh lây nhiễm do tiếp xúc với phân rận giống như bệnh sốt phát ban.
4. Phòng chống.
+ Vệ sinh cá nhân, thường xuyên tắm giặt. Khi đã có rận phải luộc hấp quần
áo để diệt cả giai đoạn thanh trùng, trưởng thành và trứng.
Rận cua hay rận bẹn
497
+ Cắt tóc ngắn, gội đầu thường xuyên cũng là một biện pháp chống chấy tích
cực. Kinh nghiệm dân gian: hạt na, bách bộ... có tác dụng diệt chấy.
+ Để phòng chống rận bẹn phải cắt sạch lông vùng bị nhiễm, tắm rửa sạch để
chống nhiễm trùng vết đốt.
HEMIPTERA - BỘ CÁNH NỬA
Trên thế giới, bộ Hemiptera có khoảng 40.000 loài thuộc 50 họ khác nhau.
Chỉ có 2 họ có vai trò y học là: họ Rệp - Cimicidae và họ Bọ xít - Reduviidae.
CIMICIDAE - HỌ RỆP
Họ rệp có 2 chi: Cimex và Oeciacus.
Chi Cimex còn gọi là rệp giường, có loài Cimex lecturarius là loài thường
thấy sống trong nhà của người, loài này phân bố rộng rãi trên thế giới; loài Cimex
rhotundaicus còn có tên là Cimex hemiptera thường phân bố ở các nước nhiệt
đới.
Chi Oeciacus thường thấy trong các tổ chim hoặc trên lá cây và thường hút
máu chim, hiếm gặp trong nhà ở của người.
1. Đặc điểm hình thể.
Cơ thể gồm 3 phần: đầu - ngực - bụng, toàn bộ cơ thể được bao bọc bằng lớp
kitin, có màu nâu hoặc nâu đen.
1.1. Đầu:
Hơi vuông, gắn vào đốt ngực thứ nhất, đốt này lõm vào thành một hố, phần
đầu chỉ nhô ra từ mắt. Hai bên đầu có hai mắt kép to, phía trước đầu có hai râu.
Mỗi râu có 4 đốt, giữa hai râu có vòi hút máu.
1.2. Ngực:
Có hai cánh thoái hoá, có 3 đôi chân rất phát triển, trên chân có nhiều lông
cứng. Bàn chân có 4 đốt, đốt cuối có móng nhọn sắc.
1.3. Bụng:
Bụng có 8 đốt. Ở rệp đực: đốt thứ tám phát triển thành cơ quan sinh dục. Ở
rệp cái: phần cuối bụng tròn lại, trên đốt thứ bảy nhìn rõ khe âm đạo; hai bên rìa
đốt thứ tư có 2 hố nhỏ.
498
Rệp trưởng thành có tuyến hôi nằm ở gốc đôi chân thứ ba, nhưng ở thanh
trùng tuyến này nằm ở mặt lưng từ đốt bụng thứ ba đến đốt bụng thứ năm.
Rệp trưởng thành có 2 đôi lỗ thở ở ngực và 7 đôi lỗ thở ở bụng.
Cơ quan tiêu hoá của rệp gồm: vòi hút máu, thực quản nhỏ hình ống và dạ
dày; trước dạ dày có hai tuyến nước bọt đổ vào; sau dạ dày là ruột và trực tràng.
Cơ quan bài tiết có ống Manpighi đổ vào ruột và trực tràng.
Cơ quan sinh dục: rệp cái có hai buồng trứng, mỗi buồng trứng có dây trứng
đổ vào ống dẫn trứng. Hai ống dẫn trứng này nhập làm một trước khi đổ vào âm
đạo. Trứng rệp hình bầu dục, màu trắng đục.
2. Đặc điểm sinh học.
Vòng đời của rệp phát triển qua 3 giai đoạn: trứng - thanh trùng và trưởng
thành.
Trứng thường được đẻ vào cùng một chỗ ở khe tường, tủ, giường phản, bàn
ghế... có khi đẻ vào cả trên giấy, vải... Trứng rệp có thể phát triển tốt ở gỗ,
đất... rất kém phát triển trong nước.
Thanh trùng phải qua 4 lần lột xác, hình thể rất giống con trưởng thành
nhưng nhỏ hơn; cơ quan sinh dục chưa hình thành, các đốt bàn chân chưa rõ,
râu ngắn. Thanh trùng khi mới nở dài 1,2 mm; ở giai đoạn cuối dài tới 5 mm.
Để lột xác và phát triển thanh trùng cần hút no máu. Ở nhiệt độ từ 14 - 180C
trứng cần khoảng 21 - 22 ngày mới nở, ở nhiệt độ 22 - 260C cần 8 - 9 ngày,
nhưng ở nhiệt độ 35 - 37oC chỉ cần 5 - 6 ngày. Dưới 140C trứng không phát triển.
Hình 16.17: Vòng đời phát triển của rệp.
Trưởng thành
Ấu trùng Trứng
499
Ở điều kiện nhiệt độ thích hợp, có đủ thức ăn rệp cần khoảng 28 ngày để
hoàn thành vòng đời. Nhiệt độ không thích hợp, thức ăn không đủ thì vòng đời
kéo dài tới 6 - 10 tuần hoặc lâu hơn.
Cả thanh trùng và rệp trưởng thành đều hút máu. Sau khi hút máu khoảng hai
ngày, rệp cái đẻ trứng, đẻ liên tiếp trong 5 ngày, sau đó lại tiếp tục hút máu.
Rệp thường hút máu vào ban đêm, nhưng khi đã nhịn đói lâu có thể hút máu
cả ban ngày. Rệp chỉ hút máu, không ăn chất gì khác.
Thời gian hút máu của rệp trưởng thành khoảng 15 phút, mỗi lần hút khoảng
15 mg máu. Thanh trùng chỉ hút máu trong khoảng 1 phút. Mỗi lần hút khoảng
1/3 mg máu.
Rệp có khả năng nhịn đói lâu. Ở nhiệt độ lạnh rệp có thể nhịn đói được hàng
năm, ở nhiệt độ bình thường rệp nhịn đói được vài tháng.
Mỗi phút rệp trưởng thành di chuyển được 1,25 m; thanh trùng di chuyển
được khoảng 25 cm.
Đời sống của rệp khoảng 14 tháng. Con cái đẻ 1 - 2 trứng/tuần. Trong phòng
thí nghiệm một con cái đẻ được tới 541 trứng, trên thực tế rệp đẻ ít hơn.
3. Vai trò y học.
Vai trò truyền bệnh của rệp chưa rõ ràng. Rệp đốt người gây cảm giác khó
chịu, đặc biệt là mất ngủ vào ban đêm, lâu dần làm giảm sức khoẻ.
Theo Derbeneva- Ukhova năm 1974, rệp có thể lưu giữ các mầm bệnh: dịch
hạch, sốt phát ban, sốt hồi quy, tularemia, sốt Q... nhưng vai trò truyền bệnh của
rệp chưa được nghiên cứu đầy đủ.
4. Phòng chống.
+ Vệ sinh chăn màn, giường chiếu, khe kẽ tủ, bàn ghế: giặt, phơi, quét dọn,
lau chùi sạch... làm thường xuyên hàng tháng.
+ Sử dụng các biện pháp diệt rệp:
- Đun nước sôi: cứ 200 lít nước sôi cho vào 200 gam xà phòng bột hoặc
1 bánh xà phòng giặt vào, quấy cho tan đều, tưới vào các khe kẽ có rệp. Làm
1 lần/1 tuần, liên tục trong 5 - 6 tuần liền.
- Dùng que nhọn khêu, ngoáy khe kẽ có rệp, hoặc dùng hút bụi hút rệp, diệt
rệp.
- Phơi nắng các dát giường, đệm... dùng các chất hấp dẫn kiến đến ăn rệp.
- Các hoá chất diệt côn trùng: DDT, 666... ít có kết quả.
500
- Kinh nghiệm dân gian: lấy lá sen tươi rải lên nơi có rệp, mỗi giường nằm rải
từ 4 - 5 lá sau một thời gian rệp sẽ hết.
REDUVIIDAE - HỌ BỌ XÍT
Trong họ Bọ xít chỉ có loài Triatoma megista và Rhodinus pralixus hút máu
người và động vật, truyền bệnh Chagas.
Bệnh phổ biến ở Nam Mĩ, chưa gặp ở Việt Nam.
1. Đặc điểm hình thể.
Bọ xít trưởng thành có đầu dài, râu dài, vòi được gập trong ổ miệng, khi hút
máu mới thò ra.
Chỉ thấy rõ đốt ngực thứ nhất, còn đốt thứ hai và thứ ba bị cánh che lấp. Bọ
xít có 2 cánh cứng bên ngoài, bên trong có 2 cánh mỏng.
Ngực có 3 đôi chân dài. Bụng bọ xít dài, cánh không che kín được bụng.
2. Đặc điểm sinh học.
Vòng đời bọ xít phát triển qua 3 giai đoạn: trứng - thanh trùng và trưởng
thành.
Trứng bọ xít dài khoảng 1,5 - 2,5 mm, hình bầu dục.
Sau khi đẻ được 10 ngày, trứng nở ra thanh trùng, vài ngày sau rời nơi ở để
tìm mồi hút máu.
Thanh trùng có 5 giai đoạn, tất cả các giai đoạn đều hút máu, hình thể giống
như con trưởng thành.
Sau 5 lần lột xác phát triển thành con trưởng thành, sau 10 - 14 ngày con cái
bắt đầu đẻ trứng.
Cả con đực và con cái đều hút máu, chúng kí sinh trên người hoặc động vật.
Hoạt động hút máu về đêm; ban ngày đậu nghỉ ở các khe đá, khe tường, mái
tranh... có khi ở cây, lá...
Khi hút máu, bọ xít thường bài tiết ngay ở nơi chúng hút máu, do đó mầm
bệnh từ phân bọ xít nhiễm vào người hoặc động vật.
3. Vai trò y học.
Bọ xít truyền bệnh Chagas, mầm bệnh là Trypanosoma cruzi. Ngoài ra còn
truyền một số bệnh khác, nhưng chủ yếu là bệnh của động vật lây sang người.
501
4. Phòng chống.
Vệ sinh nhà ở, triệt phá nơi trú ẩn của bọ xít, phun hoá chất diệt côn trùng:
malathion... vào nơi trú ẩn của chúng.
BLATTIDAE - HỌ GIÁN
Gián thuộc lớp côn trùng, bộ Blatophtera, có 2 đôi cánh, đôi cánh ngoài dày
và cứng, đôi cánh trong mỏng và mềm hơn. Gián di chuyển nhanh, có thể bay
hoặc chạy.
1. Đặc điểm hình thể.
Gián trưởng thành dài 0,5 - 1,5 cm, dẹt theo chiều lưng bụng, có đôi anten dài,
miệng kiểu hàm nghiền, 3 đôi chân dài giúp cho gián chạy nhanh (hình 16.18).
Gián có màu nâu hoặc nâu sẫm. Đa số các loài gián ít khi bay.
Hình 16.18: Gián trưởng thành
2. Đặc điểm sinh học.
Vòng đời của gián phát triển qua 3 giai đoạn: trứng - thanh trùng và trưởng
thành (hình 16.19).
Gián cái đẻ 20 - 50 trứng trong bọc cứng màu nâu. Lúc đầu bọc trứng được
mang sau thân (trông giống đuôi) sau đó được gắn vào nơi kín đáo (khe kẽ tủ,
quần áo...), khoảng 1 - 3 tháng sau trứng nở ra thanh trùng, khoảng 2 tháng sau
lột xác thành gián trưởng thành. Trong điều kiện không thuận lợi, thiếu thức ăn
hoặc quá rét... vòng đời có thể kéo dài hàng năm.
502
Đời sống của gián trung bình 12 tháng (có thể từ 100 - 600 ngày).
Gián trú ẩn ban ngày, đến tối mới tìm thức ăn. Thức ăn của gián rất phong
phú, từ đồ ăn thức uống của người, động vật cho đến tất cả các chất thải ôi thiu.
Gián rất phàm ăn. Đời sống của gián gắn bó mật thiết với người giống như ruồi
nhà. Gián trú ẩn ở các khe kẽ nhà bếp, nhà vệ sinh, tủ treo quần áo... hoặc các nơi
tối: trong tủ, hòm, hộp... người ít để ý tới.
Gián có khoảng 3.500 loài, nhưng chỉ có 16 loài có vai trò y học (Roth và
Willis, 1957). Ở Việt Nam gián chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Hình 16.19: Vòng đời phát triển của gián.
3. Vai trò y học.
Gián truyền bệnh và gây bệnh cho người và động vật. Gián truyền bệnh theo
phương thức không đặc hiệu giống như ruồi nhà.
Trong tự nhiên, gián có thể truyền tới 40 loài vi khuẩn khác nhau (Roth và
Willis, 1957 - 1960; Burhess và cộng sự, 1973), đó là các vi khuẩn hủi, dịch
hạch, lao, tụ cầu... Trong thực nghiệm còn thấy gián truyền được các mầm bệnh:
than, bạch hầu, uốn ván...
Thanh trùng
Bọc trứng
Trưởng thành
(a)
(c)
(b)
1
0
m
m
503
Khả năng truyền các mầm bệnh virut của gián chưa được chứng minh. Trong
thực nghiệm thấy gián là kho dự trữ và truyền các virut: Cocxaki, bại liệt, viêm
gan truyền nhiễm...
Gián cũng có thể truyền các mầm bệnh kí sinh trùng: giun đũa, sán dây, trùng
roi thìa, amíp lị... cũng như các loài nấm Aspergillus.
Gián còn có thể gây viêm da, phù mí mắt cho người do chất độc của gián tiết
ra. Gián còn gây dị ứng nhưng hiếm gặp (Corwell, 1968).
4. Phòng chống gián.
+ Triệt phá nguồn thức ăn của gián: thức ăn, thực phẩm cần để trong tủ, hoặc
có lồng bàn đậy kín. Các chất thừa, thải, bệnh phẩm ở bệnh viện phải được xử lí
bằng các chất khử trùng. Các hố rác, thùng rác phải có nắp đậy kín.
+ Triệt phá nơi trú ẩn và sinh đẻ của gián: nhà cửa, cống rãnh phải sạch
thoáng, quần áo, giường tủ phải thường xuyên phơi, dọn.
+ Có thể sử dụng hoá chất để đặt bả hoặc phun: diazinon, propoxur,
dichlorvos, malathion...
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tai_lieu_arthropoda_dong_vat_chan_dot.pdf