Tất cả các đánh giá định lượng được đề cập đến trong tài liệu này chỉ ra rằng các thập kỷ
đầu tiên của thế kỷ 21 được cho là sẽ chứng kiến những tác động vẫn còn thấp của biến đổi
khí hậu, cùng như thu nhập tổng thể thấp, vẫn còn phụ thuộc ở mức độ cao vào nông nghiệp.
Trong những thập kỷ đầu này, các tác động lý sinh của biến đổi khí hậu sẽ ít rõ rệt hơn so với
giai đoạn sau của thế kỷ, nhưng chúng sẽ ảnh hưởng đến các vùng đặc biệt dễ bị tổn thương
nhất, và cũng là những nơi phụ thuộc mạnh vào nông nghiệp và có thu nhập tổng thể thấp hơn
khi phải đối phó với các tác động của biến đổi khí hậu. Ngược lại, giai đoạn sau của thế kỷ
được cho là sẽ mang đến không chỉ những tác động lý sinh khốc liệt hơn mà còn cả khả năng
lớn hơn để đương đầu với chúng. Nền tảng cơ sở ở đây là sự thành công của quá trình chuyển
đổi thu nhập từ nông nghiệp hướng đến các ngành phi nông nghiệp.
Nói chung, mức độ của các tác động do biến đổi khí hậu xảy ra trong những thập kỷ tới
sẽ phụ thuộc mạnh vào môi trường chính sách tương lai đối với người nghèo. Việc làm
giảm các rào cản đối với mậu dịch tự do có thể giúp cải thiện cơ hội tiếp cận các nguồn
cung ứng thế giới; đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông và liên lạc sẽ giúp tạo ra các nguồn
cung ứng bảo đảm và hợp thời cho địa phương; những cải tiến về tưới tiêu; xúc tiến thực
hành nông nghiệp bền vững; và tiến bộ công nghệ liên tục tất cả đều có thể đóng một vai trò
quyết định trong việc mang đến các nguồn cung ứng an toàn địa phương và quốc tế trong
điều kiện biến đổi khí hậu.
Một thế giới nóng lên 4oC sẽ phải đương đầu với những thách thức lớn chưa từng thấy đối
với nhân loại. Điều rõ ràng là các thiệt hại lớn ở quy mô khu vực cũng như toàn cầu rất dễ xảy
ra ngay cả khi mức độ nóng lên này vẫn chưa đạt tới. Mặc dù chưa thể xác định rõ về số
lượng với quy mô đầy đủ của các thiệt hại đối với con người, nhưng bức tranh toàn cảnh về
tác động do biến đổi khí hậu gây ra làm lung lay giả thiết cho rằng, thay đổi khí hậu sẽ không
làm suy yếu đáng kể tăng trưởng kinh tế. Điều dường như đã rõ ràng, đó là biến đổi khí hậu
trong một thế giới ấm lên 4oC có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nỗ lực thanh toán
đói nghèo tại nhiều khu vực. Điều này có cơ sở từ các quan trắc về những tác động bất lợi của
biến đổi khí hậu đối với tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển. Trong khi các quốc
gia phát triển đã và đang được dự báo là sẽ phải chịu ảnh hưởng bất lợi bởi những tác động
gây ra do biến đổi khí hậu, thì khả năng thích nghi tại các khu vực đang phát triển lại yếu hơn.
Gánh nặng biến đổi khí hậu trong tương lai sẽ không đồng đều giữa các khu vực vốn đã rất dễ
bị tổn thương trước biến đổi khí hậu. Tuy vẫn còn chưa chắc chắn về việc liệu tiến triển thích
nghi và việc tiếp tục hướng tới các mục tiêu phát triển có thể thực hiện được hay không với
mức độ biến đổi khí hậu này, sự ấm lên 4oC theo dự báo cần phải ngăn chặn, và chỉ có những
hành động sớm, hợp tác ở quy mô quốc tế mới có thể thực hiện được.
48 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tài liệu Chiến lược phát triển nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu trong thế kỷ 21, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ở các điều kiện
sinh thái nông nghiệp ngày càng tăng tác động đến sản xuất và năng suất trong lĩnh vực
nông nghiệp và qua đó đến tính khả dụng của lương thực, trong khi những thay đổi về các
điều kiện kinh tế xã hội tổng thể và sự đóng góp của nông nghiệp vào sự tạo ra thu nhập
có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận lương thực. Như phần trên đã nêu, có ba yếu tố ảnh
hưởng đến nông nghiệp gồm: (i) thay đổi ở nhiệt độ, (ii) thay đổi ở nồng độ CO2 trong khí
quyển, và (iii) thay đổi ở mức độ và sự phân bố lượng mưa. An ninh lương thực sẽ bị tác
động chủ yếu bởi những thay đổi ở mức độ và sự phân bố thu nhập (khả năng tiếp cận) và
chịu tác động gián tiếp thông qua sản xuất lương thực (tính khả dụng) và mức độ và hiệu
quả của sản xuất nông nghiệp (tác động thu nhập thông qua nông nghiệp).
Bảng 1: Tổng quan các kịch bản SRES
Kịch bản Chủ đề theo kịch bản Lộ trình
SRES A1 SRES A1 mô tả một thế giới tương lai:
- tăng trưởng kinh tế nhanh chóng
- tăng trưởng dân số thấp
- nhanh chóng giới thiệu các công nghệ mới
và có hiệu quả hơn.
Các chủ đề của kịch bản gồm sự hội tụ kinh
tế và văn hóa và xây dựng năng lực trong
một thế giới trong đó giá trị xã hội tăng
SRES A1 mô tả các định hướng năng
lượng thay thế gồm các phương án:
- A1T nhiên liệu phi hóa thạch
A1B nguồn năng lượng cần bằng
- A1F sử dụng nhiên liệu hóa thạch
và đưa ra một lộ trình phát triển thâm
dụng cacbon nhất với mức phát xạ
CO2 cao nhất và nồng độ GHG khí
34
trưởng cùng với các mối quan tâm môi
trường.
quyển cao trên 900 ppm vào năm
2100.
SRES B1 SRES B1 mô tả thế giới:
- dân số toàn cầu đạt đỉnh điểm vào giữa
thế kỷ và sau đó suy giảm
- Những thay đổi nhanh chóng về cơ cấu
kinh tế theo hướng nền kinh tế thông tin
và dịch vụ
- cường độ vật chất giảm
- giới thiệu các công nghệ sạch và sử
dụng tài nguyên hiệu quả.
Các chủ đề kịch bản bao gồm các giải
pháp kinh tế, xã hội và bền vững môi
trường, bao gồm cải thiện tính hợp lý,
không có các khởi xướng khí hậu bổ sung.
SRES B1 liên quan đến mức độ phát
xạ thấp nhất và cả nồng độ GHG
thấp nhất giữ ổn định ở 500 ppm
cho đến cuối thế kỷ 21.
SRES A2 Kịch bản SRES A2 mô tả một thế giới
không đồng nhất:
- dân số toàn cầu liên tục gia tăng do các
mẫu hình sinh sản khu vực chậm đồng
nhất
- phát triển kinh tế định hướng khu vực
- tăng trưởng kinh tế và thay đổi công
nghệ chậm và phân đoạn
Các chủ đề kịch bản đó là độc lập và bảo
tồn tính đồng nhất khu vực.
Kịch bản này là kết quả trung gian
của hai kịch bản A1 và B1.
Điều quan trọng đối với nông
nghiệp và cung ứng lương thực thế
giới, SRES A2 giả thiết tăng trưởng
dân số dự báo cao nhất (phương án
cao do Liên hiệp quốc đưa ra, 11 tỷ
vào năm 2050 và 14 tỷ năm 2080)
và dẫn đến nhu cầu lương thực cao
nhất.
SRES B2 SRES B2 mô tả thế giới:
- dân số toàn cầu liên tục tăng với tỷ lệ
thấp hơn so với ở kịch bản A2
- Mức độ phát triển kinh tế trung gian
- thay đổi công nghệ chậm hơn và ít đa
dạng hơn so với trong kịch bản B1 và A1
Các chủ đề kịch bản gồm các giải pháp về
kinh tế, xã hội và bền vững môi trường.
Kịch bản này đại diện cho các kết
quả trung gian giữa A1 và B1.
Phân loại các kịch bản
Hợp nhất toàn cầu Chủ nghĩa khu vực
Chú trọng
kinh tế
A1B: cân bằng năng lượng
A1F1: sử dụng nhiên liệu hóa thạch
cường độ cao
A1T: có thể phục hồi nhờ công nghệ cao
A2
Chú trọng
môi
trường
B1 B2
35
Các tác động do biến đổi khí hậu đến sản xuất v năng suất nông nghiệp, sự đáp ứng
ơng thực
Theo các kịch bản SRES về phát xạ và các mô hình khí hậu được cân nhắc, dự báo gia
tăng khí hậu trung bình trên bề mặt toàn cầu từ 1,8oC đến 4,0oC vào năm 2100. Những thay
đổi về nhiệt độ, nồng độ CO2 khí quyển cũng như mức độ và sự phân bố lượng mưa sẽ tác
động có tính quyết định đến các diều kiện sinh thái nông nghiệp tương lai và qua đó đến
mức sản lượng nông nghiệp tổng thể. Chúng cũng sẽ quyết định sự phân bố sản lượng đầu
ra theo các khu vực địa lý và các vĩ độ khác nhau, và đối với cả thành phần và sự phân bố
địa lý của các loại cây trồng và gia súc.
Phụ thuộc vào hoạt động nông nghiệp và vị trí địa lý, tác động của gia tăng nhiệt độ do
biến đổi khí hậu có thể tích cực hoặc tiêu cực. Ở các vùng nhiệt độ ôn hòa, nhiệt độ cao hơn
được cho là có lợi cho nông nghiệp do có khả năng làm tăng diện tích đất phù hợp cho gieo
trồng, làm tăng độ dài của chu kỳ sinh trưởng và tăng sản lượng mùa màng. Sự ấm lên vừa
phải tại một số vùng đồng cỏ ẩm ướt và ôn hòa có thể làm tăng năng suất đồng cỏ và làm
giảm sự cần thiết phải nuôi nhốt và cho ăn bằng cỏ khô. Ngược lại, nếu các biến cố thời tiết
khắc nghiệt gia tăng tần suất, như các cơn sóng nhiệt và hạn hán đã từng xảy ra tại vùng Địa
trung hải hay mưa lớn và lũ lụt gia tăng tại các vùng nhiệt độ ôn hòa, bao gồm cả khả năng
gia tăng các trận bão vùng ven biển có thể làm giảm đáng kể sản xuất và năng suất; cũng
như vậy đối với các vùng khô hạn và bán khô hạn được cho là sẽ trải qua một sự suy giảm
về năng suất, điều này sẽ dẫn đến năng suất gia súc giảm và tăng tỷ lệ gia súc bị chết. Tại
các vùng khô hơn, các mô hình khí hậu dự báo gia tăng sự thoát hơi nước và độ ẩm đất thấp
hơn. Hậu quả là một số vùng trồng trọt có thể không còn thích hợp với gieo trồng nữa và
một số vùng đồng cỏ nhiệt đới có thể trở nên khô hạn hơn. Sự gia tăng nhiệt độ cũng làm
tăng sự phát triển sâu hại và tăng khả năng các loại sâu hại sống sót qua mùa đông và tấn
công cây trồng vụ xuân.
Dự báo gia tăng nồng độ CO2 khí quyển dẫn đến một sự thay đổi quan trọng khác nữa
đối với các điều kiện tăng trưởng sinh thái nông nghiệp toàn cầu. Dựa vào các kịch bản phát
xạ SRES, nồng độ khí CO2 khí quyển được dự báo sẽ tăng từ 385 ppm hiện nay lên cao hơn
500 ppm vào năm 2100 theo kịch bản SRES B1, hay cao hơn 900 ppm theo SRES A1F1.
Nồng độ CO2 cao hơn sẽ có tác động tích cực đến nhiều loại cây trồng, tăng cường tích tụ
sinh khối và tăng sản lượng. Tuy nhiên, mức độ của hiệu ứng này là không rõ ràng, với
những khác biệt đáng kể phụ thuộc vào quản lý (các chế độ tưới tiêu và bón phân) và vào
loại cây trồng. Thử nghiệm về sản lượng trong điều kiện nồng độ CO2 tăng (550 ppm) cho
thấy, trong các điều kiện sinh trưởng tối ưu, sản lượng cây trồng có thể gia tăng từ 10-20%
đối với loại cây C3 (như lúa mì, lúa gạo và đỗ tương), và chỉ tăng từ 0-10% đối với loại cây
trồng C4 như ngô và cao lương. Điều quan trọng hơn, chất lượng dinh dưỡng của sản xuất
nông nghiệp có thể không tăng cùng với sản lượng tăng cao hơn. Một số loại ngũ cốc và
thức ăn thô gia súc cho thấy hàm lượng protein thấp hơn trong điều kiện nồng độ CO2 cao
hơn.
Một số nghiên cứu gần đây đã ước tính những thay đổi có khả năng xảy ra ở độ thích
nghi của đất, các sản lượng tiềm năng và sản xuất nông nghiệp đối với bộ cây trồng hiện
nay. Các nghiên cứu này bao gồm cả sự thích nghi sử dụng các kỹ thuật quản lý khả dụng
36
và các loại cây trồng, nhưng không bao gồm các loại cây trồng mới được nhân giống hay
cải tiến nhờ công nghệ sinh học. Các công trình nghiên cứu này dựa trên phương pháp luận
vùng sinh thái nông nghiệp của FAO và Viện phân tích hệ thống ứng dụng quốc tế (IIASA).
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, tổng diện tích đất đai và tổng diện tích đất sơ khai sẽ vẫn hầu
như không thay đổi so với quy mô hiện tại tương ứng là 2600 và 2000 triệu hecta. Cũng
những nghiên cứu này đã chỉ ra những biến đổi khu vực rõ rệt, với một sự gia tăng đáng kể
ở diện tích đất thích hợp cho trồng trọt ở các vùng vĩ độ cao hơn, tức là hơn 160 triệu ha tại
các quốc gia phát triển. Bên cạnh đó, có một sự suy giảm khoảng 110 triệu ha diện tích đất
trồng tiềm năng tại các vùng vĩ độ thấp hơn tại các nước đang phát triển. Một sự suy giảm
thực 110 triệu ha là kết quả của sự suy giảm mạnh theo dự báo ở diện tích đất nông nghiệp
sơ khai vào khoảng 135 triệu ha, số này được bù một phần bằng sự gia tăng 20 triệu ha diện
tích đất thích hợp cho trồng trọt. Sự chuyển hướng về chất lượng này cũng phản ánh qua sự
thay đổi ở diện tích đất thích hợp đối với hệ thống đa canh. Riêng ở vùng châu Phi cận
Sahara, diện tích đất thích hợp cho thâm canh hai vụ (double cropping) sẽ giảm từ 10 đến
20 triệu ha, trong khi đất thích hợp cho thâm canh ba vụ sẽ giảm từ 5 đến 10 triệu ha. Ở cấp
độ khu vực, nhiều nghiên cứu khác nhau chỉ ra rằng trong điều kiện thời tiết biến đổi, tổn
thất lớn nhất về diện tích đất thích hợp cho gieo trồng có thể là ở châu Phi, trong khi sự phát
triển diện tích đất trồng lớn nhất có thể xảy ra ở Nga và Trung Á.
ác động đến sự ổn định của nguồn cung ứng ơng thực
Các điều kiện thời tiết khu vực và toàn cầu được dự báo sẽ trở nên hay biến đổi hơn so
với hiện nay, với sự gia tăng về tần số và tính nghiêm trọng của các biến cố thời tiết khắc
nghiệt như lốc xoáy, lũ lụt, mưa đá, và hạn hán. Bằng cách gây ra những biến động lớn hơn
về sản lượng cây trồng và nguồn cung ứng địa phương và làm tăng nguy cơ lở đất và xói
mòn, biến đổi khí hậu có thể ánh hưởng bất lợi đến tính ổn định của cung ứng lương thực và
qua đó ảnh hưởng đến an ninh lương thực.
Kể cả biến đổi khí hậu và tính dễ biến đổi khí hậu ngắn hạn, cùng với sự thích nghi đi
kèm đều không pahir là những hiện tượng mới mẻ trong nông nghiệp. Ví dụ, một số khu
vực nông nghiệp quan trọng của thế giới như vùng Trung Tây nước Mỹ, Đông Bắc
Achentina, Nam châu Phi, hay Đông Nam Ôxtrâylia theo truyền thống có tính biến đổi khí
hậu cao hơn so với các khu vực khác như Trung Phi hay châu Âu. Các hiện tượng này cũng
cho thấy phạm vi của các biến động ngắn hạn đã thay đổi theo những chu kỳ dài hơn. Ví dụ
như, tại các nước phát triển, tính biến đổi khí hậu ngắn hạn đã tăng trong giai đoạn từ năm
1931 đến 1960 so với giai đoạn 1901 đến 1930, nhưng lại giảm mạnh trong giai đoạn từ
1961 đến 1990. Tuy nhiên, điều mới ở đây chính là thực tế rằng, các vùng trải nghiệm tính
biến đổi khí hậu cao dường như đang mở rộng, trong khi quy mô của sự biển đổi khí hậu
ngắn hạn lại có khả năng gia tăng trên tất cả các khu vực và có thể vượt quá mức trải
nghiệm trong lịch sử tại một số khu vực.
Nếu các biến động khí hậu trở nên rõ rệt hơn và mở rộng hơn, hạn hán và lũ lụt, những
nguyên nhân chủ yếu của các biến động ngắn hạn về sản xuất lương thực tại các vùng khô
hạn và bán khô hạn sẽ trở nên khắc nghiệt hơn và thường xuyên hơn. Tại các vùng bán khô
hạn, hạn hán có thể làm giảm đáng kể sản lượng cây trồng cũng như năng suất và số gia
súc. Phần lớn vùng đất này nằm ở châu Phi cận Sahara và các vùng thuộc Nam Á, điều đó
37
có nghĩa là các khu vực nghèo nhất thường xuyên thiếu ăn ở mức cao nhất sẽ phải chịu tác
động nhiều nhất từ sự bất ổn định trong sản xuất lương thực.
Các tác động nêu trên sẽ mạnh ở mức độ nào phụ thuộc vào việc các quốc gia sẽ đối phó
với những biến động đó như thế nào, ví dụ như thông qua đầu tư vào quản lý nông trại, tưới
tiêu, các phương tiện bảo quản tốt hơn, cải tiến cung cấp thông tin, các phương án việc làm
thay thế, môi trường chính sách thích hợp hơn, hay bằng cách nhập khẩu lương thực cao
hơn. Bên cạnh đó, một môi trường chính sách thúc đẩy giảm bớt các rào cản mậu dịch tự do
và xúc tiến đầu tư vào vận tải và liên lạc có thể giúp giải quyết sớm các thách thức này, cho
phép các nước có thể giảm nhẹ những tổn thất về cây trồng và gia súc thông qua thương
mại.
ác động của biến đổi khí hậu đến sử dụng ơng thực
Biến đổi khí hậu cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng mỗi cá nhân sử dụng lương thực một
cách có hiệu quả bằng cách thay đổi các điều kiện đối với an toàn thực phẩm và bằng cách
gia tăng áp lực về bệnh tật có nguồn gốc từ sinh vật, nước và sinh bệnh do ngộ độc thực
phẩm. Nhóm công tác II IPCC đã nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến sức
khỏe, đã xem xét các loại bệnh tật khác nhau, trong đó có bệnh lây truyền do côn trùng, như
bệnh sốt rét có khả năng lây lan và thu nhỏ cùng với thay đổi về khí hậu. Phần tài liệu dưới
đây chú trọng đến các loại bệnh có nguồn gốc từ thực phẩm và nước gây ảnh hưởng trực
tiếp đến an toàn thực phẩm.
Mối quan tâm chủ yếu về biến đổi khí hậu và sử dựng lương thực đó là thay đổi các điều
kiện khí hậu có thể bắt đầu một vòng lẩn quẩn, khi các bệnh truyền nhiễm có thể là nguyên
nhân dẫn đến hay làm trầm trọng thêm nạn đói, điều này đến lượt mình càng làm cho dân số
vốn đã phải chịu tác động lại càng dễ bị tổn thương hơn do các bệnh truyền nhiễm. Kết quả
có thể là một sự suy giảm rõ rệt ở năng suất lao động và sự gia tăng đói nghèo và tỷ lệ tử
vong. Về bản chất tất cả các biểu hiện của biến đổi khí hậu, cho dù có là hạn hán, nhiệt độ
cao hơn, hay mưa lớn, đều có tác động đến áp lực bệnh tật và cho thấy có một bằng chứng
ngày càng tăng rằng những thay đổi này ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm và an ninh
lương thực.
Báo cáo gần đây của IPCC cũng nhấn mạnh rằng những gia tăng ở nhiệt độ hàng ngày sẽ
làm tăng tần số ngộ độc thực phẩm, đặc biệt là ở các vùng nhiệt độ ôn hòa. Các vùng biển
ấm lên có thể góp phần làm tăng các trường hợp ngộ độc ở người do các loại động vật có vỏ
và cá rạn (ngộ độc ciguatera) tại các vùng nhiệt đới và một sự mở rộng bệnh tật hướng cực.
Mặc dù vẫn còn có ít bằng chứng rằng, biến đổi khí hậu làm thay đổi đáng kể tỷ lệ hiện
hành của bệnh tật, nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định và xác định lượng hóa những
tác động của nhiệt độ đến các hình thức ngộ độc thực phẩm phổ biến, như bệnh nhiễm
salmonella. Các nghiên cứu chỉ ra một sự gia tăng gần như tuyến tính về số các trường hợp
liên quan đến sự gia tăng nhiệt độ trong tuần. Hơn nữa, ở đây có bằng chứng rằng sự gia
tăng nhiệt độ có liên quan mạnh đến sự gia tăng các giai đoạn mắc bệnh tiêu chảy ở người
lớn và trẻ em. Các khám phá này được chứng thực bằng các phân tích dựa trên các quan sát
nhiệt độ trung bình tháng và các giai đoạn mắc bệnh tiêu chảy tại các vùng Quần đảo Thái
bình dương, Ôxtrâylia, và Israel.
Các biến cố cực đoan về lượng mưa lớn có thể làm tăng nguy cơ bùng phát các bệnh lây
38
truyền qua đường nước, đặc biệt là ở những nơi có các hệ thống quản lý nước truyền thống
không đủ để đối phó với những điều kiện khắc nghiệt mới. Cũng như vậy, tác động của lũ
lụt ảnh hưởng mạnh nhất đến các vùng vốn đã bị suy thoái môi trường, và ở những nơi vẫn
còn thiếu cơ sở hạ tầng công cộng cơ bản bao gồm cả y tế và vệ sinh. Điều này sẽ làm tăng
số những người dễ bị ảnh hưởng bởi các bệnh lây truyền qua đường nước (ví dụ như bệnh
tả) và vì thế hạ thấp khả năng sử dụng thực phẩm có hiệu quả.
ác động của biến đổi khí hậu đến khả năng tiếp cận ơng thực
Trong vòng 30 năm gần đây, thực giá lương thực giảm và thu nhập thực gia tăng đã dẫn
đến những cải thiện đáng kể về khả năng tiếp cận lương thực tại nhiều nước đang phát triển.
Những gia tăng về sức mua dẫn đến gia tăng số người có cơ hội tiếp cận không chỉ lương
thực và cả những thực phẩm bổ dưỡng hơn, giàu protein, các chất dinh dưỡng vi lượng, và
vitamin.
Khu vực Đông Á, và ở mức độ thấp hơn là vùng cận Đông và Bắc Phi đã được hưởng
lợi đặc biệt từ một sự kết hợp giữa thực giá lương thực thấp hơn và tăng trưởng thu nhập
mạnh. Từ năm 1970 đến 2001, sự xuất hiện nạn đói ở các khu vực này theo các phép đo của
các chỉ số FAO về thiếu ăn cho thấy đã giảm tương ứng từ 24 xuống 10,1% và từ 44 đến
10,2%. Tại vùng Đông Á, chính sự tăng trưởng thu nhập nội sinh đã tạo nên cơ sở để đẩy
mạnh nhu cầu về lương thực vốn chủ yếu được sản xuất nội sinh trong khu vực; tại khu vực
Cận Đông/Bắc Phi, nhu cầu được đẩy mạnh bởi thu nhập ngoại sinh từ xuất khẩu dầu mỏ
và khí đốt, trong khi các nguồn cung ứng lương thực bổ sung chủ yếu xuất phát từ nhập
khẩu. Bất kể nguyên nhân gia tăng nhu cầu đối với lương thực là gì, những cải thiện về cơ
hội tiếp cận lương thực là điều quyết định trong việc làm giảm nạn đối và thiếu dinh dưỡng
ở cả hai khu vực.
Triển vọng dài hạn do FAO đưa ra đến năm 2050 chỉ ra rằng tầm quan trọng của việc cải
thiện các điều kiện trọng cầu thậm chí sẽ còn trở nên quan trọng hơn trong vòng 50 năm tới.
Điều có thể hiểu được là các khu vực được dự báo sẽ giảm mạnh nhất nạn thiếu ăn là những
nơi được dự báo có thu nhập tăng trưởng với tỷ lệ cao nhất. Đặc biệt là khu vực Nam Á sẽ
được hưởng lợi nhiều nhất. Nhờ vào tăng trưởng thu nhập cao, khu vực này được dự báo sẽ
giảm được sự thịnh hành nạn thiếu ăn từ chỗ hơn 22% xuống còn 12% vào năm 2015 và
xuống đến 4% vào năm 2050. Tiến bộ cũng được kỳ vọng tại châu Phi cận Sahara, nhưng
những cải thiện ở đây kém rõ rệt hơn và được cho là đến sau về thời gian. Ví dụ, trong vòng
15 năm tới, sự hiện hành của nạn thiếu ăn sẽ giảm ít hơn so với các khu vực khác, từ 33%
xuống 21%, do còn tồn tại những hạn chế quan trọng như chất dinh dưỡng trong đất, nước
và cơ sở hạ tầng,... sẽ gây hạn chế khả năng gia tăng hơn nữa sản xuất lương thực tại khu
vực, và mức thu nhập tiếp tục thấp cản trở phương án nhập khẩu lương thực. Tuy nhiên về
dài hạn, châu Phi cận Sahara được dự báo sẽ có sự suy giảm đáng kể nạn đói; vào năm
2050, có chưa đến 6% tổng dân số khu vực này được dự báo sẽ phải chịu cảnh đói thường
xuyên. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần ghi nhận rằng những dự báo này của FAO không
tính đến những tác động của biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên bằng cách kết hợp giữa các mô hình sinh thái nông nghiệp và kinh tế, các
công trình nghiên cứu khác đã phán đoán tác động của biến đổi khí hậu đến GDP nông
nghiệp và giá cả. Ở phạm vi toàn cầu, tác động của biến đổi khí hậu có vẻ như rất nhỏ; tuân
39
theo các kịch bản SRES và các kịch bản biến đổi khí hậu liên quan, các ước tính biến thiên
trong khoảng từ chỗ giảm 1,5% đến tăng 2,6% vào năm 2080. Ở quy mô khu vực, nông
nghiệp với vai trò là một nguồn thu nhập đóng vai trò quan trọng hơn nhiều, bởi vì kết quả
đầu ra kinh tế từ nông nghiệp, ngoài sự sản xuất lương thực để sinh kế, còn là một yếu tố
đóng góp quan trọng vào an ninh lương thực. Tác động mạnh nhất của biến đổi khí hậu đến
kết quả đầu ra kinh tế nông nghiệp được dự báo sẽ diễn ra ở châu Phi cận Sahara, điều đó có
nghĩa là khu vực nghèo nhất và kém đảm bảo lương thực nhất cũng phải chịu sự suy giảm
lớn nhất về thu nhập nông nghiệp. Đối với khu vực này, những tổn thất về GDP nông
nghiệp, so với các ước tính không cân nhắc đến biến đổi khí hậu, nằm trong phạm vi từ 2
đến 8% theo các mô hình kết hợp khí quyển như HadCM3 và CGCM2, từ 7 đến 9% theo dự
báo của Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghiệp thuộc Khối thịnh vượng chung
(CSIRO).
III. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU
1. Khả năng thích ứng
Nông nghiệp được tiến hành dựa trên một phạm vi rộng các điều kiện về môi trường, khí
hậu, và nằm trong một loạt các cấu trúc về văn hóa, thể chế, và kinh tế, điều đó quyết định
các thực tiễn quản lý được áp dụng. Một loạt các phương án thích ứng có thể áp dụng để
nâng cao sức bền của hệ thống nông nghiệp trước những tác động của biến đổi khí hậu. Lập
luận cho việc tăng cường chú trọng vào sự thích ứng trong nông nghiệp trước biến đổi khí
hậu được dựa trên những cân nhắc dưới đây như sau:
Hiện tượng phát xạ khí nhà kính trong quá khứ đã làm cho thế giới ấm lên khoảng
0,1
o
C/thập kỷ trong nhiều thập kỷ nay, làm cho mức độ của các tác động và sự cần
thiết phải thích nghi hoặc ứng phó là điều không thể tránh khỏi;
Phát xạ khí nhà kính đang tiếp tục gia tăng nhanh chóng. Sự bế tắc hiện nay trong
việc phát triển các hiệp định giảm phát thải toàn cầu ngoài Công ước Kyoto đang
dẫn đến những mối quan tâm về mức phát xạ tương lai;
Những giới hạn đầu cuối trong các kịch bản về biến đổi khí hậu của IPCC ngày càng
tăng và nhiệt độ toàn cầu có khả năng gia tăng theo tuyến tính và tác động bất lợi
ngày càng gia tăng đối với các hoạt động nông nghiệp hiện tại;
Những thay đổi quan sát được về nồng độ CO2 khí quyển, nhiệt độ toàn cầu và mực
nước biển đã đạt tới giới hạn cao trong các kịch bản của IPCC và những tác động
nhất định khác từ biến đổi khí hậu đang xảy ra nhanh hơn so với điều được dự đoán
trước đây (ví dụ như sự phá vỡ của băng đá Bắc cực);
Tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp, đặc biệt là ở các vùng
nhiệt đới cho thấy lớn hơn nhiều so với các đánh giá trước đây;
Biến đổi khí hậu có thể tạo ra các cơ hội cho đầu tư nông nghiệp và thưởng công
xứng đáng cho những ai hành động sớm.
Điều quan trọng là tập hợp các hành động thích ứng cần thiết để hạn chế các rủi ro và tối
đa hóa các cơ hội từ biến đổi khí hậu trong những thập kỷ tới, sẽ dẫn đến chi phí gia tăng
40
cho xã hội, ngoài những đầu tư đã được lập kế hoạch cho phát triển các lĩnh vực nông
nghiệp tương ứng. Phần lớn số đầu tư gia tăng thêm này là rất cần thiết ở các nước đang
phát triển. Các ước tính được cho là dè dặt gần đây của UNFCCC cho thấy, các chi phí tăng
thêm khoảng 100 tỷ USD mỗi năm trên phạm vi toàn cầu vào năm 2030, đây là đầu tư tăng
thêm và các luồng tài chính cần thiết để làm giảm thiểu các rủi ro hủy hoại trong lĩnh vực
phát triển nông thôn tại các nước đang phát triển. Mặc dù các chi phí thích ứng theo ước
tính trên là nhỏ so với GDP nông nghiệp của thế giới hiện thời và ước tính, nhưng đây là
những khoản gia tăng lớn (từ 10 đến 20%) so với các đầu tư trong nước được dự kiến trong
các lĩnh vực này.
Ngoài ra, chúng cũng lớn hơn rất nhiều (từ 5 đến 10 lần phụ thuộc vào từng khu vực) so
với tổng lượng kết hợp của các đầu tư trực tiếp nước ngoài theo dự kiến, các quỹ viện trợ
phát triển, và các khoản nợ tài chính phục vụ cho phát triển nông nghiệp và nông thôn tại
các nước đang phát triển.
2. Các chiến lược thích ứng đối với từng lĩnh vực nông nghiệp
Phần dưới đây của tài liệu đề cập tới một loạt các chiến lược thích ứng nhằm ứng phó với
nguy cơ biến đổi khí hậu trong bốn lĩnh vực nông nghiệp chủ đạo, gồm: trồng trọt, chăn
nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản/nuôi trồng thuỷ sản. Các phương án quản lý chi tiết dưới đây
được minh hoạ trong bối cảnh tự nhiên, nhưng đòi hỏi cần được nghiên cứu sâu hơn trong
từng bối cảnh đánh giá chiến lược chi tiết nhằm xác định khả năng thích ứng và hiệu quả
khả thi ở mỗi một quy mô. Các chiến lược thích ứng có thể được phân loại như sau:
- Những chiến lược chủ yếu nhằm cải thiện việc quản lý một nguồn tài nguyên hữu hạn,
ví dụ như nước; những phương thức sửa lỗi công nghệ dựa trên phân tích của các
chuyên gia giản lược, các quy tắc thiết kế kỹ thuật, hoặc các mô hình hỗ trợ bằng máy
tính;
- Thay đổi hệ thống thiết kế và quản lý (thường yêu cầu thay đổi ở thái độ và/hoặc hành
vi, được gọi là các phương thức sửa lỗi thái độ);
- Các công cụ ra quyết định (bao gồm sử dụng các công cụ dự báo khí hậu và các
nguồn thông tin);
- Những biến đổi về thể chế.
Những đánh giá thích ứng cho tới nay phần lớn đều tập trung vào thay đổi hệ thống thiết
kế và quản lý thông qua mở rộng hoặc tăng cường các công tác quản lý rủi ro biến đổi khí
hậu hiện có hoặc các hoạt động tăng cường sản xuất nhằm đáp ứng với một biến đổi tiềm
năng tương đối nhỏ trong những nguy cơ biến đổi khí hậu. Thích ứng với những biến đổi
lớn và đang diễn ra của khí hậu sẽ đòi hỏi khả năng thích ứng của những chiến lược mang
tính chuyển đổi và sáng tạo hơn. Thiết kế và thực hiện những chiến lược thích ứng mang
tính chuyển đổi lớn hơn vẫn là một thách thức lớn đối với cộng đồng khoa học, các nhà
hoạch định chính sách, đầu tư và những thành phần có liên quan.
Hệ thống canh tác
Các hệ thống canh tác có thể được biến đổi theo nhiều cách để quản lý một cách hiệu quả
hơn những nguy cơ biến đổi khí hậu và khí quyển được dự báo. Những phương án bao
gồm:
41
- Thay đổi các yếu tố đầu vào như giống cây trồng và các loài đối với những loài có yêu
cầu về thời gian nhiệt và xuân hoá thích hợp hơn (ví dụ, nhu cầu về mùa đông lạnh)
và/hoặc có sức đề kháng tăng cao với shock nhiệt và hạn hán, biến đổi lượng phân
bón để duy trì chất lượng hạt và quả; biến đổi lượng và thời điểm tưới tiêu và các hoạt
động quản lý nước khác;
- Cải thiện công tác quản lý nước thông qua việc sử dụng công nghệ để “thu hoạch”
nước, duy trì độ ẩm đất (ví dụ, thông qua việc duy trì các chất dư thừa của cây trồng)
sử dụng và vận chuyển nước một cách hiệu quả hơn; cũng như ngăn ngừa hiện tượng
ngập nước, xói mòn, trôi đi chất dinh dưỡng và trầm tích xảy ra do những trận mưa có
lượng mưa cực lớn;
- Thay đổi thời gian hoặc địa điểm của các hoạt động trồng trọt;
- Đa dạng hoá chiến lược sinh kế bao hàm thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp và
phi nông nghiệp khác;
- Cải thiện hiệu quả của các hoạt động quản lý thiên địch, bệnh dịch và cỏ dại thông qua
sử dụng rộng hơn công tác quản lý thiên địch và mầm bệnh tích hợp, phát triển và sử
dụng các giống và các loài có sức đề kháng với thiên địch và bệnh dịch; và duy trì
hoặc cải thiện các năng lực kiểm dịch và các chương trình giám sát;
- Sử dụng các công cụ dự báo thời tiết để làm giảm rủi do sản xuất.
Các mô hình sinh thái cung cấp một công cụ hữu ích để định lượng các tác động của biến
đổi khí hậu và hiệu quả của các chiến lược thích ứng. Tổng hợp các mô phỏng tác động
biến đổi khí hậu của Báo cáo AR4 của IPCC gần đây, trong đó trình bày về các cây ngũ cốc
chính như lúa mì, lúa gạo và ngô sinh trưởng ở một loạt các vùng khí hậu nông nghiệp và
các phương án quản lý, cho thấy những ích lợi của việc thích nghi thay đổi theo các giống
cây trồng, biến đổi nhiệt độ và lượng mưa. Ví dụ, các ích lợi tiềm năng của việc thích ứng
quản lý đối với cây lúa mì là giống như nhau ở các hệ ôn đới và nhiệt đới (17,9% so với
18,6%), trong khi đó ích lợi đối với cây lúa và ngô tương đối nhỏ hơn so với lúa mì, ở mức
10%. Những cải tiến đối với sản lượng này được chuyển hoá thành việc tránh sự thiệt hại
của việc tăng từ 1 đến 2oC ở các vùng ôn đới và từ 1,5 đến 3oC ở các vùng nhiệt đới, có thể
làm trì hoãn các tác động tiêu cực tới nhiều thập kỷ. Hầu hết các ích lợi của thích nghi có xu
hướng chung là có thể đạt được trong phạm vi độ ấm vừa phải (chưa tới 2 C), lợi ích gần
như không có với những biến đổi ngày càng tăng ở nhiệt độ trung bình. Các ích lợi sản
lượng nhờ thích ứng có xu hướng đạt lớn hơn ở các kịch bản có lượng mưa tăng hơn so với
lượng mưa giảm.
Mặc dù việc phân tích này mang lại ước tính định lượng các tác động và các thích ứng,
nhưng những nghiên cứu mô phỏng cần được xem xét trong bối cảnh của một số lượng hạn
chế. Mặc dù có những hạn chế, việc mô hình hoá đưa ra một công cụ hữu ích để tích hợp
những kiến thức hiện tại của các ngành khoa học về khí hậu, động vật và nông nghiệp sinh
thái lại với nhau.
Chăn nuôi
Thích ứng với biến đổi khí hậu trong trường hợp chăn nuôi trên đồng ruộng bao gồm
chăm sóc bổ sung để thường xuyên làm cho tỷ lệ vật nuôi phù hợp với sản lượng cỏ, thay
42
đổi chăn nuôi quay vòng, thay đổi thời gian chăn thả, biến đổi thức ăn và giống/loài động
vật, làm biến đổi việc tích hợp trong các hệ chăn nuôi và cây trồng hỗn hợp bao gồm việc
sử dụng các loại cây thích ứng làm thức ăn cho động vật, tái đánh giá việc sử dụng phân
bón, đảm bảo nguồn cung nước đầy đủ và sử dụng các nguồn thức ăn tập trung và bổ sung.
Tuy nhiên, một điểm quan trọng đáng lưu ý là những nguồn thích ứng này thường có các
mặt hạn chế, ví dụ những giống vật nuôi có sức chịu nhiệt hơn thường đạt mức sản lượng
thấp hơn. Cũng như vậy, các ngành nông nghiệp chuyên về chăn nuôi ở những vùng khí
hậu lạnh có thể ít có nhu cầu về khu chăn nuôi mùa đông và về thức ăn chăn nuôi tập trung,
trong khi đó ở những vùng khí hậu ấm hơn có thể lại cần quản lý và cơ sở hạ tầng hơn để
cải thiện các mức giảm do stress nhiệt ở năng suất, khả năng sinh sản và mức tử vong tăng.
Ngoài ra, năng lực thực hiện các biện pháp thích ứng cơ sở hạ tầng có thể rất yếu kém ở
nhiều vùng nhiệt đới, trong khi đó ở những vùng vĩ độ trung bình, nguy cơ mức khả dụng
nước trong nông nghiệp giảm có thể làm hạn chế các phương án thích ứng yêu cầu sử dụng
nước để làm mát.
Lâm nghiệp
Rất nhiều chiến lược thích ứng đã được đề ra cho trồng rừng, bao gồm những biến đổi ở
cường độ quản lý, trồng hỗn hợp các loài gỗ cứng/gỗ mềm, trồng rừng và các mô hình thu
hoạch trong và giữa các vùng, các giai đoạn quay vòng, đốn gỗ chết, chuyển sang các giống
hoặc các vùng đạt sản lượng tốt hơn dưới những điều kiện khí hậu mới, quy hoạch địa hình
để giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng hoặc côn trùng, điều chỉnh chất lượng và kích cỡ gỗ và
điều chỉnh các hệ thống quản lý chống cháy. Các chiến lược thích ứng để kiểm soát thiệt hại
do côn trùng có thể bao gồm đốt rừng theo quy định để làm giảm mức độ tổn thương của
rừng do các đợt dịch côn trùng bùng phát, sử dụng các cơ chế kiểm soát côn trùng phi hoá
chất (ví dụ các virut bacilo), và điều chỉnh lịch thu hoạch theo đó những loại cây dễ bị côn
trùng tấn công nhất sẽ được thu hoạch trước. Với những biến đổi khí hậu nhỏ nhất, những
biện pháp chủ động này sẽ có tiềm năng làm giảm những hậu quả tiêu cực do biến đổi khí
hậu gây ra đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, giống như với những ngành công nghiệp thứ cấp
khác, sẽ rất dễ có một khoảng cách giữa các biện pháp thích ứng tiềm năng với các hoạt
động thực hành. Ví dụ, những vùng rừng lớn, đặc biệt ở những nước đang phát triển, chịu
sự quản lý trực tiếp của con người rất ít, làm hạn chế các phương án thích ứng. Thậm chí ở
những cánh rừng được quản lý chặt chẽ hơn, nơi mà các hoạt động thích ứng có thể khả thi,
thì những khoảng thời gian chậm chễ kéo dài giữa trồng và thu hoạch cây sẽ làm phức tạp
các quyết định do việc thích ứng có thể diễn ra ở nhiều thời điểm trong chu trình quay vòng
của rừng.
huỷ sản
Xét từ cấp độ địa phương tới toàn cầu, thuỷ sản và nông nghiệp đều rất thiết yếu đối với
cung ứng thực phẩm, an ninh lương thực và tạo ra thu nhập. Quản lý tốt thuỷ sản được coi
là có tiềm năng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo. Khoảng 42 triệu
người đang trực tiếp làm việc trong ngành này, với phần lớn là ở các nước đang phát triển.
Nếu tính cả những người làm trong các lĩnh vực liên quan như công nghiệp chế biến,
marketing, phân phối và cung ứng, thì ngành này hỗ trợ cho sinh kế của hàng trăm triệu
người. Thực phẩm thuỷ sản có chất lượng dinh dưỡng cao và đóng góp tối thiểu 20% mức
43
tiêu thụ protein động vật/người trung bình cho hơn 2,8 tỷ người, hầu hết từ các nước đang
phát triển. Chúng cũng là những loại thực phẩm được mua bán rộng rãi và là các thành phần
cơ bản của kim ngạch xuất khẩu của nhiều nước nghèo. Ngành này có tầm quan trọng đặc
biệt đối với các quốc đảo nhỏ.
Có ba con đường chính thông qua đó biến đổi khí hậu sẽ tác động tới thuỷ sản và nuôi
trồng thuỷ sản, cũng như các cộng đồng phụ thuộc và các hoạt động kinh tế của chúng:
1. Những biến đổi vật lý và hoá học ở đại dương và nước ngọt, bao gồm mức tăng
nhiệt độ nước và những biến đổi ở độ mặn;
2. Những biến đổi ở sản lượng cá, thành phần đánh bắt, và phân bố các loài do tác
động qua lại phức hợp của những biến đổi sinh thái;
3. Những biến đổi vật lý đối với bờ biển, cửa sông, đầm lầy, ao hồ và các con sông do
những biến đổi thời tiết, các thiên tai tự nhiên do thời tiết gây ra, và mực nước biển
tăng.
Biến đổi khí hậu tự nhiên trong môi trường biển xảy ra leo thang theo thời gian và các
quy mô không gian mà theo đó các hệ sinh thái biển phản ứng theo rất nhiều cách. Vai trò
làm biến đổi khí hậu của con người được cho là lớn hơn sự biến đổi tự nhiên trong suốt thế
kỷ 21, và phi tuyến tính, những biến đổi đột ngột ở các hệ sinh thái biển được cho là diễn ra
ngày càng tăng khi biến đổi khí hậu do con người gây ra cũng tăng.
Các nguồn thuỷ sản rất nhạy cảm với những biến đổi môi trường, có thể là những dao
động ở dòng hải lưu, dòng chảy sông, và các mực nước hồ, hoặc những biến đổi liên quan ở
đại dương, ven biển hoặc năng suất của vùng đồng bằng ngập lũ. Thuỷ sản luôn luôn phải
đối phó với sự biến đổi của sản xuất và những biến động khó lường của thời tiết, nhưng
biến đổi khí hậu trong tương lai có khả năng làm tăng mức biến đổi và đặc biệt sẽ bị tác
động bởi các sự kiện thời tiết cực đoan.
Cộng đồng ngư dân và sinh kế của họ, đặc biệt ở các nước đang phát triển, là đối tượng
dễ chịu tác động của những tác động tiềm tàng này nhất, vì họ phải đối mặt với thách thức
kép của việc phân bổ và mức độ phong phú của nguồn cá, cũng như những nguy cơ đe doạ
của nạn lụt lội do mực nước biển dâng cao và cường độ ngày càng tăng của các sự kiện thời
tiết xấu. Sự thực là ngư dân của nhiều nước đang phát triển nằm trong số những người
nghèo nhất, họ thường có rất ít kỹ năng được truyền lại, và thường là không có các lưới an
toàn, có nghĩa là những mức giảm ở nguồn cá sẽ có tác động tiêu cực rõ rệt tới đời sống của
họ và gia đình họ.
Với nguy cơ chịu những rủi ro liên quan tới khí hậu cao như vậy, thích ứng với biến đổi
khí hậu là sự ưu tiên hàng đầu đối với chính sách ngành thuỷ sản. Cải thiện việc quản lý
thuỷ sản để làm tăng khả năng phục hồi của các quần thể cá và các cộng đồng ngư dân đối
với biến đổi khí hậu, và đặc biệt là các sự kiện khí hậu khắc nghiệt, là mục tiêu chính của
chính sách như vậy.
3. Sự phối hợp giữa thích ứng và giảm thiểu
Các hoạt động làm hạn chế thiệt hại từ biến đổi khí hậu cần phải được thực hiện ngay lập
tức nhằm đạt được hiệu quả. Cần có các hoạt động giảm thiểu liên quan tới việc giảm trực
tiếp những phát thải do con người gây ra hoặc tăng cường các bể chứa cacbon để hạn chế
44
thiệt hại dài hạn do khí hậu. Rất cần có các biện pháp thích nghi để hạn chế các rủi ro tiềm
tàng của biến đổi khí hậu hiện tại và trong các thập kỷ tới. Quan trọng là bản chất của các
chính sách về các hoạt động thích ứng và các hoạt động giảm thiểu có sự khác biệt lớn. Ích
lợi của các biện pháp thích nghi sẽ có thể biểu hiện ngay lập tức nhưng khác biệt rõ nhất ở
sự biến đổi khí hậu nhẹ - có lẽ là tới giữa thế kỷ. Ngược lại, những ích lợi của việc giảm
thiểu chỉ có thể biểu hiện trong hàng thế kỷ kể từ bây giờ, và trở nên thích hợp chỉ cho tới
cuối thế kỷ này.
Vậy thì một thử thách lớn của chính sách khí hậu là xác định và sau đó phát triển các
công cụ cho phép có một danh mục các chiến ược thích ứng và giảm thiểu có hiệu lực về
thời gian và không gian và chú trọng tới các hoạt động cân bằng giữa các khu vực thích hợp
nhất, và nội bên trong một loạt các chính sách chuyên biệt được lựa chọn để đáp ứng với
biến đổi khí hậu.
Đã có những kết hợp hữu ích giữa thích ứng và giảm thiểu trong lĩnh vực nông nghiệp,
liên quan tới với an ninh lương thực. Chúng sẽ hình thành nên cốt lõi cho việc hoạch định
và thực hiện chính sách khí hậu ở cấp độ quốc gia và quốc tế. Chúng bao gồm: tránh nạn
phá rừng, bảo tồn và quản lý rừng, nông lâm nghiệp cho thực phẩm năng lượng, phục hồi
đất, thu hồi khí biogas và chất thải, và nói chung một loạt các chiến lược thúc đẩy bảo tồn
các nguồn tài nguyên đất và nước bằng cách cải thiện chất lượng, độ khả dụng và hiệu quả
sử dụng của chúng.
Những chiến lược này thường có gốc rễ sâu từ văn hoá và tri thức địa phương và là trọng
tâm của phần lớn các nỗ lực nghiên cứu, hỗ trợ và thực hiện của các cơ quan quốc tế và các
tổ chức phi chính phủ (NGO). Chúng có xu hướng tăng tính phục hồi của các hệ thống sản
xuất trong khi đối phó với những áp lực càng tăng của khí hậu, và cung cấp khả năng hấp
thụ cácbon hoặc làm giảm phát thải khí nhà kính trên đất liền. Nhiều trong số những sự kết
hợp này cũng rất tương thích với sự bền vững kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên,
quan trọng là cần nhận ra rằng những sự kết hợp này thường là chuyên biệt theo vùng và hệ
thống, và cần được đánh giá trong từng trường hợp.
Mặc dù tồn tại những cân bằng giữa các phương pháp giảm thiểu và thích ứng, ví dụ, các
chương trình năng lượng sinh học và bảo tồn những vùng đất nhất định có thể bao gồm một
số hoạt động mang lại sự cạnh tranh mới về các nguồn tài nguyên đất và nước mà trong
trường hợp khác cần thiết để nâng cao sự hồi phục của hệ thống và đảm bảo an toàn cho sản
xuất lương thực dưới sự biến đổi của khí hậu, thêm nhiều các phương thức thích ứng khác
cũng tồn tại để có thể tích cực củng cố những tiềm năng giảm thiểu đất theo những điều
kiện chuyên biệt. Ví dụ, các hệ thống tưới tiêu và bón phân cần thiết để duy trì sản lượng ở
những vùng bán khô cằn cận biên trong những điều kiện biến đổi khí hậu cũng có thể tăng
cường mạnh khả năng của đất ở những khu vực hấp thụ cacbon này. Điều này đặc biệt đúng
đối với vùng châu Phi cận Sahara nơi mà chỉ những cải thiện rất nhỏ ở việc tưới tiêu và bón
phân cũng có thể có những hiệu ứng rất lớn lên sản xuất sinh khối từ cây trồng và vì thế đến
đầu vào nguồn đất của chúng.
Theo những kịch bản với lượng mưa tăng lên, đặc biệt là ở các vùng vĩ độ trung bình, sự
chuyển đổi từ các hệ thống đất hoang hoá thành canh tác liên tục sẽ tối đa hoá sản xuất trong
những điều kiện mới về lượng mưa và đồng thời, làm tăng tiềm năng hấp thụ cacbon đất.
45
4. Các cơ chế tài chính đối với giảm thiểu và thích ứng
Lộ trình Bali về biến đổi khí hậu cho thấy các hành động nhằm đảm bảo an ninh lương
thực và sinh kế nông thôn dưới sự biến đổi của khí hậu trong những thập niên tới phải nhất
thiết tập trung vào việc phối hợp giữa các chiến lược thích ứng và giảm thiểu cho người
nghèo ở nông thôn, nhằm giải quyết những mối quan ngại về khí hậu, môi trường, xã hội và
kinh tế được thể hiện trong cả UNFCCC và mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Đặc biệt,
trọng tâm nhằm vào nông nghiệp, sử dụng đất, biến đổi sử dụng đất, và lâm nghiệp ở các
nước đang phát triển sẽ mang lại cơ hội để giải quyết những vấn đề này từ ngay trong các
ngành kinh tế nổi trội của hầu hết các nước đang phát triển, củng cố nền tảng phát triển bền
vững của chúng.
Nghiên cứu mới đây của FAO và Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD) chỉ ra
rằng có thể tăng cường năng lực của các thị trường cacbon để tới được các cộng đồng nông
thôn bằng cách tăng cường số lượng các loại dự án này cũng như mở rộng phân bổ địa lý
của chúng. Quan trọng hơn, tiềm năng kinh tế của các hoạt động hấp thụ cacbon bổ sung,
phần lớn không chỉ liên quan tới giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng và các hoạt
động quản lý rừng bền vững, mà còn bao gồm cả các kỹ thuật nông lâm nghiệp, bảo tồn đất
nông nghiệp và năng lượng tái tạo từ sinh khối, tương ứng với 5-10 tỷ tấn CO2/năm tới
2030 ở thị trường cacbon, giá dao động từ 4 đến 10 USD/tấn CO2. Các luồng tài chính hàng
năm từ những hoạt động hấp thụ cacbon này có thể góp phần đáp ứng được chi phí dự kiến
của việc thích ứng với biến đổi khí hậu ở các nước đang phát triển.
Nhiều trong số những hoạt động này hiện đang được cho phép thực hiện theo một số đề
án tự nguyện và các quỹ thí điểm, nhưng bị loại trừ khỏi cơ chế phát triển sạch hơn, thị
trường lớn nhất của các thị trường cacbon lớn nhất. Đặc biệt, cho phép tín dụng từ REDD
(Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng), cũng như từ một loạt các hoạt động nông
lâm nghiệp, sẽ có tiềm năng làm tăng mạnh các luồng các-bon tới dân nghèo nông thôn ở
các nước đang phát triển. Những nỗ lực lớn sẽ vì thế mà được hướng tới việc thực hiện tăng
cường các cơ chế trên đất liền để sử dụng trong các thị trường cacbon tự nguyện và hậu
2012 Kyoto. Đặc biệt, FAO đang đề xuất các cơ chế “bảo hiểm tín dụng cacbon”, được
thiết kế để thanh toán cho các dự án bổ sung cho việc cung cấp cacbon, đồng thời các đền
bù cacbon có thể dẫn tới việc thích nghi hệ thống. Ngoài ra,WB đã chính thức thông qua
việc hình thành nên Quỹ Đầu tư Khí hậu (CIF), được thành lập để cấp tài trợ giúp cho các
nước đang phát triển nỗ lực giảm thiểu các mức tăng phát thải khí nhà kính và thích ứng với
biến đổi khí hậu.
46
Kết luận
Việc hiểu được các quá trình và động lực học đặc trưng cho mối tương tác giữa các tác
nhân chính về môi trường và khí hậu gây ảnh hưởng như thế nào đến năng suất và tính dễ
tổn thương của hệ sinh thái vẫn là một vấn đề ưu tiên để nhằm định lượng tốt hơn về các tác
động tương lai của biến đổi khí hậu đến các hệ sinh thái nông nghiệp. Ví dụ về các tác động
bao gồm hiệu ứng của nồng độ CO2 khí quyển tăng cao trong điều kiện biến đổi khí hậu và
các biến cố thời tiết khắc nghiệt, những hạn chế về chất lượng đất và nước, và sản lượng
hoa màu suy giảm do phạm vi hoạt động gia tăng của các loại sâu hại, côn trùng và sự
hoành hành của bệnh tật.
Thách thức chủ yếu đối với các nghiên cứu về biến đổi khí hậu đó là hiểu sâu hơn về
biến đổi khí hậu sẽ tác động như thế nào đến sản lượng cây trồng, sự gia tăng quy mô của
các ảnh hưởng cũng như sự tương tác với các tác nhân kinh tế xã hội then chốt khác, để có
thể ra các quyết định về sản xuất và cung ứng lương thực ở cấp khu vực, quốc gia và quốc
tế, bao gồm cả các vấn đề then chốt về an ninh lương thực. Điều chắc chắn là biến đổi khí
hậu sẽ ảnh hưởng đến tất cả bốn phương diện của an ninh lương thực, đó là sự sẵn có lương
thực (sản xuất và thương mại), khả năng tiếp cận lương thực, tính ổn định của cung ứng
lương thực và sử dụng lương thực. Tầm quan trọng của các khía cạnh khác nhau này và tác
động tổng thể của biến đổi khí hậu đối với an ninh lương thực sẽ khác nhau giữa các khu
vực, và điều quan trọng nhất là nó sẽ phụ thuộc vào hiện trạng kinh tế xã hội tổng thể của
một quốc gia.
Tất cả các đánh giá định lượng gần đây chỉ ra rằng, sự biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng bất
lợi đến an ninh lương thực. Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng sự phụ thuộc của các nước đang phát
triển vào nhập khẩu và làm nổi bật sự chú trọng hiện tại vào tình trạng bấp bênh về lương
thực ở khu vực châu Phi cận Sahara và ở vùng Nam Á với một mức độ thấp hơn. Trong thế
giới đang phát triển, các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng một cách không
cân xứng đến người nghèo. Nhiều đánh giá định lượng cũng chỉ ra rằng, môi trường kinh tế
xã hội trong bối cảnh diễn ra biến đổi khí hậu còn quan trọng hơn chính những tác động từ
những biến đổi về lý sinh do biến đổi khí hậu gây ra. Sự khác nhau ở các con đường phát triển
kinh tế xã hội sẽ là yếu tố quan trọng đối với sử dụng lương thực về dài hạn và nó cũng đóng
vai trò quyết định khả năng của một khu vực đối phó với các vấn đề bất ổn định lương thực,
bất kể nó có liên quan đến khí hậu hay do các yếu tố khác gây nên.
Mặc dù các kịch bản SRES về biến đổi khí hậu khác nhau liên quan đến các giả định về
dân số và chính sách, về bản chất tất cả các con đường phát triển theo các kịch bản SRES
đều mô tả một thế giới tăng trưởng kinh tế mạnh và dự đoán về dài hạn, tầm quan trọng của
nông nghiệp suy giảm nhanh, đây là sự tiếp diễn của một xu hướng đã xảy ra từ nhiều thập
kỷ tại nhiều khu vực đang phát triển. Đó là một thế giới, nơi mà tăng trưởng thu nhập sẽ cho
phép một bộ phận lớn dân số thế giới giải quyết vấn đề thiếu hụt sản lượng lương thực địa
phương bằng cách nhập khẩu và cùng lúc tìm cách đối phó với các vấn đề an toàn và ổn
định cung cấp lương thực. Đó cũng là một thế giới, nơi có thu nhập thực sẽ tăng nhanh hơn
thực giá lương thực, điều đó nói lên rằng phần thu nhập dành cho lương thực sẽ giảm và giá
lương thực cao hơn cũng không tạo ra được tác động đáng kể trong chi tiêu lương thực của
người nghèo. Tuy nhiên, không phải tất cả các nơi trên thế giới đều thực hiện tốt như nhau
47
trong khi đi theo những con đường phát triển khác nhau và không phải là tất cả các con
đường phát triển đều dẫn tới tăng trưởng lành mạnh. Ở nơi nào có mức thu nhập thấp và
phần chi tiêu cho lương thực cao, thì giá lương thực cao hơn có thể vẫn tạo nên hay làm
trầm trọng thêm vấn đề an ninh lương thực.
Tất cả các đánh giá định lượng được đề cập đến trong tài liệu này chỉ ra rằng các thập kỷ
đầu tiên của thế kỷ 21 được cho là sẽ chứng kiến những tác động vẫn còn thấp của biến đổi
khí hậu, cùng như thu nhập tổng thể thấp, vẫn còn phụ thuộc ở mức độ cao vào nông nghiệp.
Trong những thập kỷ đầu này, các tác động lý sinh của biến đổi khí hậu sẽ ít rõ rệt hơn so với
giai đoạn sau của thế kỷ, nhưng chúng sẽ ảnh hưởng đến các vùng đặc biệt dễ bị tổn thương
nhất, và cũng là những nơi phụ thuộc mạnh vào nông nghiệp và có thu nhập tổng thể thấp hơn
khi phải đối phó với các tác động của biến đổi khí hậu. Ngược lại, giai đoạn sau của thế kỷ
được cho là sẽ mang đến không chỉ những tác động lý sinh khốc liệt hơn mà còn cả khả năng
lớn hơn để đương đầu với chúng. Nền tảng cơ sở ở đây là sự thành công của quá trình chuyển
đổi thu nhập từ nông nghiệp hướng đến các ngành phi nông nghiệp.
Nói chung, mức độ của các tác động do biến đổi khí hậu xảy ra trong những thập kỷ tới
sẽ phụ thuộc mạnh vào môi trường chính sách tương lai đối với người nghèo. Việc làm
giảm các rào cản đối với mậu dịch tự do có thể giúp cải thiện cơ hội tiếp cận các nguồn
cung ứng thế giới; đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông và liên lạc sẽ giúp tạo ra các nguồn
cung ứng bảo đảm và hợp thời cho địa phương; những cải tiến về tưới tiêu; xúc tiến thực
hành nông nghiệp bền vững; và tiến bộ công nghệ liên tục tất cả đều có thể đóng một vai trò
quyết định trong việc mang đến các nguồn cung ứng an toàn địa phương và quốc tế trong
điều kiện biến đổi khí hậu.
Một thế giới nóng lên 4oC sẽ phải đương đầu với những thách thức lớn chưa từng thấy đối
với nhân loại. Điều rõ ràng là các thiệt hại lớn ở quy mô khu vực cũng như toàn cầu rất dễ xảy
ra ngay cả khi mức độ nóng lên này vẫn chưa đạt tới. Mặc dù chưa thể xác định rõ về số
lượng với quy mô đầy đủ của các thiệt hại đối với con người, nhưng bức tranh toàn cảnh về
tác động do biến đổi khí hậu gây ra làm lung lay giả thiết cho rằng, thay đổi khí hậu sẽ không
làm suy yếu đáng kể tăng trưởng kinh tế. Điều dường như đã rõ ràng, đó là biến đổi khí hậu
trong một thế giới ấm lên 4oC có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nỗ lực thanh toán
đói nghèo tại nhiều khu vực. Điều này có cơ sở từ các quan trắc về những tác động bất lợi của
biến đổi khí hậu đối với tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển. Trong khi các quốc
gia phát triển đã và đang được dự báo là sẽ phải chịu ảnh hưởng bất lợi bởi những tác động
gây ra do biến đổi khí hậu, thì khả năng thích nghi tại các khu vực đang phát triển lại yếu hơn.
Gánh nặng biến đổi khí hậu trong tương lai sẽ không đồng đều giữa các khu vực vốn đã rất dễ
bị tổn thương trước biến đổi khí hậu. Tuy vẫn còn chưa chắc chắn về việc liệu tiến triển thích
nghi và việc tiếp tục hướng tới các mục tiêu phát triển có thể thực hiện được hay không với
mức độ biến đổi khí hậu này, sự ấm lên 4oC theo dự báo cần phải ngăn chặn, và chỉ có những
hành động sớm, hợp tác ở quy mô quốc tế mới có thể thực hiện được.
Bi n soạn: Đặng Bảo H
Nguyễn Ph ơng Anh
Nguyễn L Hằng
48
Tài liệu tham khảo
1. Jon Padgham: AGRICULTURAL DEVELOPMENT UNDER A CHANGING
CLIMATE: Opportunities and Challenges for Adaptation. AGRICULTURE AND
RURAL DEVELOPMENT & ENVIRONMENT DEPARTMENTS. The International
Bank for Reconstruction and Development, The World Bank, 2009.
2. Climate Change Response Strategies for Agriculture: Challenges and Opportunities
for the 21st Century. Agriculture and Rural Development Department: Discussion
Paper 42. The International Bank for Reconstruction and Development/The World Bank.
2008.
3. Turn Down the Heat: Why a 4°C Warmer World Must Be Avoided. A Report for the
World Bank by the Potsdam Institute for Climate Impact Research and Climate
Analytics. International Bank for Reconstruction and Development/The World Bank.
11/2012.
4. Adaptation to Climate Change: International Policy Options. Ian Burton - University of
Toron to. Pew Center on Global Climate Change. 11/2006.
5. Asia's Response to Climate Change and Natural Disasters: Implications for an Evolving
Regional Architecture. A Report of the CSIS Asian Regionalism Initiative. CSIS, 7/2010.
6. Climate Change Strategy: Guiding Principles. The Global Environment Facility. 2004.
7. Gupta, S. et al.: Policies, Instruments and Co-operative Arrangements. In Climate Change
2007: Mitigation. Contribution of Working Group III to the Fourth Assessment Report of
the Intergovernmental Panel on Climate Change. Cambridge University Press,
Cambridge, United Kingdom and New York, NY, USA.
8. Tripati, A. K., Roberts, C. D., & Eagle, R. A. (2009). Coupling of CO2 and ice sheet
stability over major climate transitions of the last 20 million years. Science (New York,
N.Y.).
9. Ballantyne, A. P., Alden, C. B., Miller, J. B., Tans, P. P., & White, J. W. C. (2012).
Increase in observed net carbon dioxide uptake by land and oceans during the past 50
years. Nature, 488 (7409).
10. Foster, G., & Rahmstorf, S. (2011). Global temperature evolution 1979-2010.
Environmental Research Letters, 6 (4), 044022.
11. Wigley, T. M. L., & Santer, B. D. (2012). A probabilistic quantification of the
anthropogenic component of twentieth century global warming.. Climate Dynamics.
12. Levitus, S., Yarosh, E. S., Zweng, M. M., Antonov, J. I., Boyer, T. P., Baranova, O. K.,
Garcia, H. E., et al. (2012). World ocean heat content and thermosteric sea level change
(0-2000), 1955-2010. Geophysical Research Letters, m. doi:10.1029/2012GL051106
13. NOAA. (2012). National Climatic Data Center (NCDC), State of the Climate: Global
Hazards for July 2012. noaa.gov/sotc/national/2012/7, (published
online Aug 2012).
14. Rao, S., & Riahi, K. (2006). The role of non-CO2 greenhouse gases in climate change
mitigation: Long-term scenarios for the 21st century. The Energy Journal, IAEE, 27.
15. Nelson, G., Rosegrant, M., Koo, J., Robertson, R., Sulser, T., Zhu, T., Ringler, C., et al.
2010. The Costs of Agricultural Adaptation to Climate Change. International Food Policy
Research Institute (IFPRI).
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tai_lieu_chien_luoc_phat_trien_nong_nghiep_ung_pho_voi_bien.pdf