Tất cả các quốc gia có thế mạnh nông nghiệp trên thế giới hiện nay (Trung Quốc,
Thái Lan, Israel, Ba Lan) đều đã và đang thực thi các chính sách hỗ trợ nông nghiệp
nông thôn một cách tích cực. Đó là các chính sách trợ giá cho nông dân sản xuất các
mặt hàng nông sản chủ yếu; Chính sách công nghiệp hóa nông thôn và phát triển nông
nghiệp bền vững, hiện đại; chính sách mở cửa thị trường để thu hút đầu tư mạnh cùa
nước ngoài cho nông nghiệp của Thái Lan. Chính sách nhanh chóng giảm thuế, miễn
thuế để thu hút vốn đầu tư vào nông nghiệp; Chính sách phát triển ngành chế biến
nông sản, hỗ trợ tài chính cho nông dân nhằm đạt các mục tiêu “Nông nghiệp gia tăng
sản xuất, nông thôn phát triển, nông dân tăng thu nhập” của Trung Quốc. Kinh nghiệm
của Israel, Ba Lan đã chỉ ra, để nền nông nghiệp phát triển, cần phải đi lên bằng nền
sản xuất lớn, bằng các hợp tác xã kiểu mới. Nghĩa là, ngoài việc tổ chức lại sản xuất
theo hướng đa ngành, giải pháp tốt cho cả sản phẩm đầu vào và đầu ra, điều quan
trọng nhất là không được thủ tiêu động lực kinh tế hộ. Bên cạnh đó, nhà nước phải
nâng cao vốn đầu tư cho nông nghiệp, bởi vốn đầu tư cho nông nghiệp hiện ở Việt
Nam ngày càng ít.
Trong giai đoạn hơn 30 năm chuyển đổi Việt Nam đã đạt được nhiều thành tự to
lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Những năm đầu thế kỉ 21,
Việt Nam có mức tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp hết sức ấn tượng
và đã trở thành nước xuất khẩu lớn nhất thế giới về hạt điều và hạt tiêu đen, lớn thứ hai
về cà phê và sắn, lớn thứ ba về gạo và thủy sản, và lớn thứ 5 về cao su. Tuy nhiên
nông nghiệp Việt Nam nói chung và chính sách phát triển bền vững còn bộc lộ hàng
loạt các khiếm khuyết. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp trong những
năm qua diễn ra chậm do các hạn chế và yếu kém của từng nhóm ngành. Việc quy
hoạch và thực hiện quy hoạch phát triển cây trồng công nghiệp lâu năm, cây ăn quả
không thành công như mong đợi (nơi phát triển quá nhanh, nơi phát triển quá chậm)
dẫn đến tình trạng vỡ quy hoạch và phát triển tự phát, gây lãng phí, kém hiệu quả
trong sử dụng các nguồn lực nông nghiệp: đất đai, nước, hạ tầng. Đối với tiểu ngành
chăn nuôi mặc dù đã phát triển đa dạng các loại sản phẩm truyền thống và sản phẩm
mới nhưng chưa hình thành được các phương thức sản xuất tập trung một cách hợp lý,
có hiệu quả và bền vững nên hầu hết các sản phẩm của tiểu ngành này có năng lực
cạnh tranh thấp so với các sản phẩm nhập khẩu.
Việc nghiên cứu các chính sách phát triển NNBV của một số quốc gia như đã giới
thiệu và từ đó rút ra những gợi mở cho Việt Nam trên cơ sở so sánh thực tiễn tương
đồng và khác biệt giữa Việt Nam với các nước cho thấy có nhiều bài học kinh nghiệm
nhưng việc áp dụng không hề đơn giản vì còn phụ thuộc vào trình độ phát triển, điều
kiện hội nhập, vào các cải cách thị trường, triết lý phát triển đến văn hóa, truyền thống
v.v.Tuy vậy các gợi mở về xây dựng và triển khai chính sách phát triển NNBV cần
phải dựa trên qui hoạch vừa tổng thể, vừa chi tiết, dài hạn, có điều chỉnh theo các cơ
hội và thách thức từ các yếu tố bên ngoài như biến động của thị trường toàn cầu, của
các thách thức an ninh phi truyền thống, của ứng phó với biến đổi khí hậu, trong điều
kiện gia tăng hội nhập khu vực luôn có ý nghĩa đối với Việt Nam.
44 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tài liệu Chính sách phát triển nông nghiệp bền vững của một số quốc gia và một số khuyến nghị cho Việt Nam trong bối cảnh mới, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
u cải tổ. Trong nông nghiệp và nông thôn, thực hiện chính
sách tư nhân hóa nhằm mục đích tái cơ cấu và hiện đại hóa hướng tới mô hình "trang
trại hữu hiệu và các công ty có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trong
nước". Tư nhân hóa đất đai bắt đầu vào tháng 01 năm 1992 và được thực thị bởi APA.
Cơ quan này có trách nhiệm quản lý, tái cơ cấu và tư nhân hóa các tài sản và nợ tích
lũy của 1.667 nông trường quốc doanh trước đây và tổng diện tích đất lên đến
4.480.000 ha. Khu vực tư nhân chiếm ưu thế về sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là do di
sản của các trang trại tư nhân với quy mô nhỏ chiếm 75% quyền sở hữu đất đai và
80% sản xuất từ trước khi bắt đầu cải cách kinh tế thị trường ở Ba Lan.
Như vậy cho đến trước khi gia nhập EU năm 2004, các chính sách trong nông
nghiệp của Ba Lan cũng hướng theo cải cách kinh tế thị trường, tư nhân hóa, tự do
hóa, và thực thi các yêu cầu của hội nhập vào Liên minh châu Âu và có những chính
sách bảo hộ, trợ giá, cấp tín dụng hợp lý theo các yêu cầu của EU cũng như WTO, chú
trọng tới phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững đồng thời chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng hiện đại.
4.1.2. Giai đoạn sau hội nhập EU từ 2004 đến nay
Sang giai đoạn từ 2004 đến nay, Ba Lan chủ yếu triển khai các qui định của EU
vào chính sách của mình, trong lĩnh vực nông nghiệp tuân thủ các yêu cầu cũng như
được sự trợ giúp của chính sách Nông nghiệp chung châu Âu (CAP) và đạt được khá
nhiều thành tựu.
Chính sách phát triển nông nghiệp Ba Lan giai đoạn 2007-2013 được chia làm 4 trụ
cột chính.
Trụ cột thứ nhất: Cải thiện khả năng cạnh tranh của lĩnh vực nông nghiệp và
lâm nghiệp
Các nội dung hoạt động trong chính sách của giai đoạn trước thường chỉ tập trung
vào dịch vụ tư vấn cho nông dân và cư dân nông thôn những điều kiện cần thiết để hội
nhập vào EU và nhận được tài trợ từ các quỹ của EU. Giai đoạn này Ba Lan tập trung
29
tư vấn cách nâng cao tay nghề và kiến thức về hiện đại hóa nông trại, các giải pháp
thân thiện môi trường, kĩ năng quản trị nông trang như doanh nghiệp, ứng dụng các
nguyên tắc tuân thủ toàn diện, tiêu chuẩn sản xuất, chất lượng thực phẩm cũng như y
tế, thú ý và các hoạt động bảo vệ môi trường thiên nhiên.
Mặt khác để đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hợp lý, công cụ chính sách hỗ trợ có
mục tiêu cho các nông dân trẻ sẽ được triển khai. Như vậy trong trụ cột thứ nhất cần
cân đối trong các công cụ cải thiện khả năng cạnh tranh trong nông nghiệp tập trung
vào các hoạt động liên quan tới hiện đại hóa các trang trại và công nghiệp thực phẩm
(40%), việc điều chỉnh cơ cấu tuổi nông dân và cơ cấu diện tích trang trại (45%), các
giải pháp khác liên quan tới phát triển nguồn nhân lực, chất lượng thực phẩm (15%).
Trụ cột 2: Cải thiện môi trường và cảnh quan thiên nhiên
Theo quan điểm hiện đại về mô hình phát triển nông nghiệp, như Hội đồng châu
Âu đề ra, vấn đề phát triển bền vững là một điều kiện tiên quyết để có thể đạt được các
mục tiêu phát triển kinh tế trong đó sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn đóng
vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường bao gồm nguồn nước và đất trồng trọt,
quản lý đất đai, bảo vệ và gìn giữ đa dạng sinh học. Hàng loạt các giải pháp đưa ra
nhằm khuyến khích các trang trại thực hiện các mục tiêu này. Chương trình 2007-2013
cung cấp các giải pháp “Bù đắp thiên nhiên và các khoản thanh toán liên quan tới chỉ
thị về nguồn nước”.
Trụ cột 3: chất lượng cuộc sống ở nông thôn và đa dạng hóa kinh tế nông thôn
Việc cải thiện chất lượng cuộc sống ở nông thôn là mục tiêu liên quan tới cả việc
phát triển kinh tế xã hội của các trang trại thông qua việc củng cố tiềm lực, cải cách cơ
cấu và hiện đại hóa lẫn việc có điều kiện sống tốt liên quan tới chất lượng môi trường,
hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Việc khuyến khích các hoạt động kinh tế ở nông thôn sẽ có
ảnh hưởng gián tiếp tới khả năng tập trung sản xuất nông nghiệp, và dịch chuyển dân
số liên quan tới nông nghiệp sang các lĩnh vực kinh tế khác, làm giảm bớt tỷ lệ thất
nghiệp, chuyển dịch nông trại theo hướng hiện đại, cải thiện khả năng cạnh tranh và
định hướng thị trường của sản xuất.
Nhiệm vụ quan trọng bao gồm tăng giá trị gia tăng của sản phẩm như tạo điều kiện
khuyến khích thị trường về sản xuất của vùng và địa phương, gắn du lịch, thương mại,
tư vấn và các dịch vụ khác. Trong trụ cột này ở Ba Lan các công cụ liên quan tới tạo ra
việc làm mới chiếm khoảng 40% quỹ phân bổ, cải thiện đời sống cư dân chiếm 60%
và liên quan tới các giải pháp được triển khai từ các quỹ khác.
Trụ cột 4: năng lực lãnh đạo, mục tiêu chính của trụ côt này là việc huy động
nguồn lực trong dân cư nông thôn thông qua xây dựng vốn xã hội, nâng cao khả
năng thu hút và sử dụng vốn cũng như quản trị các nguồn lực địa phương.
Để khuyến khích các cộng đồng nông thôn, các đối tác xã hội cần phải tham gia
vào quá trình hoạch định kế hoạch cũng như thực thi các sáng kiến cộng đồng, tiếp cận
lãnh đạo sẽ hỗ trợ cho mục tiêu này. Chương trình Lãnh đạo sẽ tổ hợp các nguồn lực
có thể, tri thức và kỹ năng của các đại diện trong cả ba lĩnh vực công cộng, kinh tế và
xã hội trong các dự án thuộc các chương trình hành động. Cách tiếp cận từ dưới lên sẽ
củng cố sự kết nối trong việc ra quyết định ở cấp độ địa phương. Nó sẽ làm tăng chất
lượng quản trị và đóng góp cho việc tăng cường vốn xã hội ở các cộng đồng nông thôn
và sẽ khuyến khích áp dụng các giải pháp đổi mới trong phát triển vùng.
30
4.2. Chính sách phát triển NNBV Ba Lan
4.2.1. Chính sách NNBV về kinh tế
Tài chính cho nông nghiệp
Sự hỗ trợ nhà nước cho đầu tư trong nông nghiệp chủ yếu là việc trợ cấp tín dụng
đầu tư. Những khoản tín dụng này dược cung cấp từ các ngân hàng thương mại qua
các hợp đồng đặc biệt kí với ARMA (cơ quan cải cách và hiện đại hóa nông nghiệp),
là đại diện của nhà nước trong các chương trình hỗ trợ. Việc hỗ trợ chủ yếu là tín dụng
lãi suất thấp, ARMA đảm bảo lãi suất thấp hơn 3% năm.
Chương trình phát triển nông thôn, chi trả trực tiếp và những thay đổi trong nền
kinh tế đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp. Trước tiên là sự tích tụ
tập trung trong sản xuất, số lượng các nông trại đã giảm 20% trong giai đoạn từ 2001 -
2010; số các nông trại nhỏ (1-5 ha) giảm tới 25% và số trang trại lớn tăng lên đáng kể.
Diện tích trung bình của các trang trại nhỏ tăng 13% lên 9,5 ha. Các khoản tín dụng hỗ
trợ chủ yếu tập trung vào việc mua đất nông nghiệp và mua các thiết bị đối với các
nông hộ trẻ.
Chuyển dịch cơ cấu đất đai
Chính sách đất đai của Ba Lan đã tác động tới sự thay đổi cơ cấu sở hữu đất trong
nông nghiệp và sự thay đổi quy mô của các trang trại. Cùng với quá trình tư nhân hóa
của giai đoạn trước hội nhập 2004, các khoản hỗ trợ cho nông dân không chỉ đầu tư
vào thiết bị mà còn vào tích tụ ruộng đất, và các chính sách khuyến khích tập trung sản
xuất cùng với những hỗ trợ của EU làm cho quá trình tích tụ ruộng đất, chuyển đổi cơ
cấu các trang trại theo diện tích đất thay đổi nhanh. Trong những năm gần đây số hộ
có đất trên 20 ha tăng lên và làm giảm số hộ có diện tích đất nhỏ hơn. Điều này góp
phần làm tăng năng suất lao động và cải thiện khả năng cạnh tranh của lĩnh vực nông
nghiệp trên trường quốc tế.
Xu thế chung trong chính sách đất nông nghiệp của Ba Lan là cần có những giải
pháp tiếp tục cải thiện cơ cấu nông nghiệp tức là chuyển đất của các nông hộ nhỏ cho
các trang trại có khả năng phát triển.
Phát triển công nghiệp thực phẩm
Công nghiệp chế biến thực phẩm của Ba Lan trước năm 2004 đặc trưng bởi mức độ
gián đoạn cao, phân tán do phụ thuộc vào mức độ phát triển công nghệ thấp và bản
chất của lao động cũng như sự khác biệt trong sản xuất nông nghiệp. Một đặc tính nữa
là công nghiệp thực phẩm phụ thuộc rất nhiều vào thị trường trong nước cũng như khu
vực, đa dạng về chủng loại và thời gian sống của sản phẩm tương đối ngắn.
Trước khi gia nhập EU công nghiệp thực phẩm của Ba Lan suy giảm cả về thu
nhập và việc làm. Tuy nhiên sau khi gia nhập EU việc gia tăng cầu thực phẩm xuất
khẩu cũng như tăng đầu tư và tiêu dùng đã làm cho việc làm hồi phục lại. Năng suất
lao động trong công nghiệp chế biến thực phẩm cũng được cải thiện trong giai đoạn
2000 - 2011. Trong những năm gần đây khoảng 20% nhân lực làm việc trong lĩnh vực
này liên quan tới chế biến thịt, khoảng 20% tới bánh mì và 10% tới chế biến sữa.
Xuất nhập khẩu trong nông nghiệp
Trong nhiều năm xuất khẩu thực phẩm nông sản chiếm tỷ trọng cao là thịt gia cầm,
bò lợn và sản phẩm sữa sau đó là socola bánh kẹo, nước trái cây, thuốc lá, siro, hoa
31
quả đông lạnh và cá hun khói, đường và cá hộp. Năm 2012 xuất khẩu nông sản thực
phẩm Ba Lan đạt 18,79 tỷ EUR tăng hơn 20,4% so với năm 2011 (đặc biệt, năm 2000
chỉ xuất khẩu 2.89 tỷ EUR).
Thuế nông nghiệp
Thuế nông nghiệp được xem như là gánh nặng thuế khóa quan trọng nhất đối với
các nông dân trong suốt thời kỳ chuyển đổi, kể từ năm 1985 đến nay. Thuế nông
nghiệp được đưa ra trong đạo luật 15/11/1994 chủ yếu dựa trên diện tích đất, cho đến
năm 2003 đất trang trại thuộc diện điều tiết của thuế nông nghiệp trong khi đất khác
thuộc thuế sở hữu. Các quy định của Đạo luật năm 2003 đưa ra các yêu cầu đánh thuế
tất cả đất canh tác thuộc thuế nông nghiệp, không phụ thuộc vào diện tích bề mặt, lợi
nhuận và địa điểm. Quy định này là thuận lợi cho các chủ trang trại lớn không đáp ứng
các tiêu chí của tiêu chuẩn khu vực, người trước đó đã được nghĩa vụ nộp thuế bất
động sản cao.
Hình thức hiện nay của thuế nông nghiệp thực hiện không chỉ đóng vai trò đối với
thu ngân sách, mà quan trọng hơn còn phải thực hiện chức năng phân phối lại. Các
nghiên cứu ở Ba Lan cho thấy rõ ràng rằng gánh nặng thuế nông nghiệp lớn nhất xảy
ra đối với các trang trại vừa và nhỏ, và chia sẻ của họ về thu nhập được giảm cùng với
sự gia tăng diện tích nông trại.
Bảo hiểm nông nghiệp
Theo quy định các hoạt động bảo hiểm nông nghiệp của Ba Lan được chia thành
hai loại: Bảo hiểm bắt buộc (Compulsory insurance) áp dụng đối với hình thức bảo
hiểm trang trại (Các tài sản trang trại như máy móc thiết bị sản xuất nông nghiệp, tòa
nhà và trách nhiệm thực hiện bảo hiểm với bên thứ ba) và bảo hiểm tự nguyện
(Voluntary insurance) áp dụng đối với các loại bảo hiểm cây trồng, vật nuôi và các
hình thức hỗ trợ của nhà nước cho hoạt động sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi
các yếu tố thiên tai, thảm họa.
Đến nay, sau khá nhiều cuộc chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện, luật bảo hiểm nông
nghiệp của Ba Lan đã quy định cụ thể về những nội dung như: Phạm vi bảo hiểm,
Nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm; Làm rõ các khái niệm rủi ro trong
bảo hiểm; Bổ sung các điều khoản can thiệp của nhà nước đối với việc bồi thường
trong trường hợp hạn hán với khái niệm về hạn hán được bổ sung chi tiết hơn; Bổ sung
các điều khoản thanh toán, giải quyết bồi thường giữa các doanh nghiệp bảo hiểm với
Bộ NN&PTNT và các quy định áp dụng dành cho các doanh nghiệp tham gia bảo
hiểm nông nghiệp...
4.2.2. Chính sách NNBV về xã hội
Thu nhập trong nông nghiệp tăng nhanh sau khi Ba Lan gia nhập EU, thu nhập của
lao động trong nông nghiệp năm 2014 tăng gần gấp đôi so với năm 2005. Ở Ba Lan tỷ
lệ việc làm trong nông nghiệp cũng giảm dần đến năm 2011 còn 14,6%. Theo con số
thống kê của EU trong giai đoạn từ 2000 đến 2011, số nông dân trong 27 nước thành
viên giảm đi 2,95 triệu người trong đó Ba Lan chiếm 19,4%. Năm 2010 có 2.407 ngàn
hộ làm việc trong nông nghiệp và 117,5 ngàn hộ làm bán nông nghiệp.
An sinh xã hội trong nông nghiệp
Chính sách an sinh xã hội cho nông dân đã được đưa ra từ đạo luật 20/12/1990 và
cho đến nay đã được sửa đổi nhiều lần và ảnh hưởng tới số người được bảo hiểm cũng
32
như thụ hưởng chính sách này. Tốc độ tăng số người thụ hưởng chính sách này được
ghi nhận cao nhất vào những năm đầu chuyển đổi, tuy nhiên sau đó giảm dần. Đến
năm 2014 chỉ còn 1,43 triệu người bảo hiểm trong KRUS trong đó khoảng 1,2 triệu
người thụ hưởng.
Nguồn tài chính cho KRUS được góp từ năm quỹ quản lý tài chính là quỹ hưu trí
và người cao tuổi, quỹ đóng góp, quỹ hành chính, quỹ phòng ngừa và phục hồi chức
năng và quỹ khuyến khích.
Phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp
Giáo dục được xem là một nhân tố chính trong chính sách phát triển nguồn nhân
lực Quốc gia, góp phần hoàn thiện quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
của Ba Lan. Gia nhập Liên minh Châu Âu từ năm 2004, Các mục tiêu chính của chính
sách phát triển nguồn nhân lực ở Ba Lan tập trung vào phát triển dịch vụ thông tin,
hướng dẫn và tư vấn nghề nghiệp để phù hợp với mô hình đào tạo và phát triển quốc
gia. Mục tiêu chính của chính sách là sự tham gia mạnh mẽ của người dân trong lực
lượng lao động. Cụ thể:
- Thứ nhất, Tăng trưởng việc làm bằng cách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
- Thứ hai, Thúc đẩy phát triển doanh nghiệp. Trong đó, các chương trình cụ thể
được triển khai như chương trình “Việc làm đầu tiên” và chương trình “Khởi nghiệp
đầu tiên” đã cung cấp các kĩ năng và đào tạo hướng nghiệp cho người lao động;
- Thứ ba, Cải thiện năng lực của doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả làm việc của
nhân viên để bắt kịp sự thay đổi của thị trường;
- Thứ tư, Thực thi các chính sách giúp mang lại cơ hội bình đẳng trên thị trường
lao động.
4.2.3. Chính sách NNBV về môi trường
* Môi trường ứng phó với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp
Chiến lược giảm hiệu ứng nhà kính ở Ba Lan đến năm 2020 đã được thông qua
năm 2003 nhằm mục đích mang đến chính sách quốc gia phù hợp với chính sách biến
đổi khí hậu EU và là một phần các yêu cầu đối với việc tham gia vào Nghị định thư
Kyoto được phê chuẩn vào năm 2002 và Hiệp định khung của Liên Hợp Quốc về biến
đổi khí hậu (UNFCCC) được Ba Lan phê chuẩn năm 2014. Theo các cam kết Ba Lan
giảm phát thải nhà kính xuống 6% từ năm 2008-2012 so với năm 1988, trong đó tỷ lệ
này đã đạt vào thời gian này. Tuy nhiên, Ba Lan vẫn đứng đầu ở Châu Âu về tỷ lệ phát
thải khí nhà kính lớn so với tăng trưởng GDP, điều này phần lớn do việc sản xuất năng
lượng bằng than đá.
Ba Lan không có chính sách biến đổi khí hậu quốc gia cụ thể ngoài chính sách
của EU. Chính sách Năng lượng năm 2009 của Ba Lan đến năm 2030, hiện đang được
sửa đổi, nhằm đa dạng hóa các nguồn năng lượng đối với khí gas, điện hạt nhân và
năng lượng tái tạo. Chương trình quốc gia cho sự phát triển một nền kinh tế phát thải
thấp sẽ được hoàn thành. Như ở hầu hết các nước EU, mức trợ cấp quá thấp để khuyến
khích đầu tư vào các nguồn năng lượng cacbon thấp.
* Phát triển năng lượng tái tạo trong nông nghiệp
Một trong những thành công trong nông nghiệp ở Ba Lan, đó là đã triển khai và sử
dụng năng lượng sạch như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, đặc biệt sử dụng năng
33
lượng sinh khối. Sinh khối là một nguồn năng lượng sơ cấp, bao gồm tất cả các chất có
nguồn gốc từ thực vật và/hoặc động vật, có thể phân hủy sinh học và có thể được sử
dụng không giới hạn cho những mục đích năng lượng. Năng lượng sinh khối được sử
dụng chủ yếu để sản xuất nhiệt và nhiên liệu sinh học cũng như nhiệt điện.
Năng lượng sinh khối của Ba Lan có thể được sản sinh trong chăn nuôi, phế phẩm
trong nông nghiệp như rơm, rạ, các sản phẩm từ rừng như củi khô Ba Lan đã nén các
sản phẩm rác nông nghiệp từ cây, rơm, rạ ...thành những viên đốt, dùng cung cấp cho
các nhà máy nhiệt điện hoặc để cung cấp nhiệt, đốt sưởi ở các hộ gia đình v.v...
34
PHẦN III. CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở VIỆT
NAM VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC TỪ CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
1. Chính sách phát triển NNBV của Việt Nam
1.1. Quan điểm chiến lược phát triển nông nghiệp của Việt Nam
Nông nghiệp Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, góp
phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn.
Nông nghiệp đã trở thành ngành sản xuất hàng hoá quan trọng, tham gia ngày càng sâu
sắc vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn
luôn là vấn đề trọng tâm mà Đảng và Chính phủ Việt Nam quan tâm và được thể hiện
bằng nhiều chủ trương, chính sách của Đảng. Các quan điểm phát triển nông nghiệp
tập trung vào những lĩnh vực:
Thứ nhất, phát triển nông nghiệp hàng hoá có năng suất, chất lượng và đạt hiệu quả
kinh tế cao, xây dựng các vùng sản xuất hàng hoá tập trung.
Thứ hai, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo chiều sâu trên cơ sở ứng dụng tích
cực các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới, tiên tiến. Phát triển nền nông nghiệp đô thị,
nông nghiệp sạch. Trong đó tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn với
nhu cầu thị trường, coi nông nghiệp công nghệ cao là khâu đột phá để phát triển nông
nghiệp chất lượng cao, hiệu quả và bền vững.
Phát triển NNBV là một nhiệm vụ trọng yếu trong công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, tiến lên kinh tế tri thức và xã hội thông tin. Nhiệm vụ đó đặt ra cho mọi
quốc gia, trong đó có Việt Nam cần phải có một sự thay đổi trong nhận thức và trong
hành động để xây dựng quan điểm chiến lược đúng đắn về phát triển nông nghiệp theo
hướng bền vững.
Mục tiêu trong chiến lược phát triển nông nghiệp giai đoạn (2016-2020) là: “Xây
dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn,
giá trị gia tăng cao, bền vững, đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước và thúc đẩy xuất
khẩu; đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, nâng cao nhanh thu nhập và cải thiện đời
sống của dân cư nông thôn; quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng” . Tốc độ
tăng trưởng nông lâm thủy sản cho chỉ tiêu kế hoạch 2016 là 3% và kế hoạch 2016-
2020 từ 2,5-3%; tỷ lệ hộ nghèo nông thôn cho chỉ tiêu kế hoạch 2016 là 7,5% và kế
hoạch 2016-2020 giảm bình quân 2%/năm; tỷ lệ xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới cho
chỉ tiêu kế hoạch 2016 là từ 23-25% và kế hoạch 2016-2020 là 50%.
Định hướng phát triển NNBV được xây dựng dựa vào những Chủ trương, chính
sách phát triển của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Để phát triển NNBV thì phát triển
nông nghiệp trong giai đoạn 2015- 2020 tập trung vào những mục tiêu chính sau:
Một là, tăng tỷ lệ hộ nông dân áp dụng KHCN vào sản xuất, đạt tỷ lệ ít nhất là 50%
hộ áp dụng; Tăng tỷ lệ hộ nông dân áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng vào sản
xuất, đạt tỷ lệ ít nhất là 50% hộ áp dụng;
Hai là, hình thành một số thương hiệu nông sản chủ lực tại một số khu vực; Bước
đầu chủ động các loại nông sản phục vụ thị trường trong nước để thay thế hoặc hạn
chế các nông sản nhập từ Trung Quốc, Thái Lan,...;
35
Ba là, tăng và ổn định thị trường tiêu thụ nông sản; Tăng doanh thu trên một đơn vị
diện tích canh tác, mục tiêu đạt 100 triệu đồng/ha cho khu vực Tây Nguyên và điều
chỉnh cho các khu vực khác.
Bốn là, tăng GDP bình quân đầu người cho khu vực nông thôn, có thể tham khảo
đặt mục tiêu cụ thể đạt trên 46 triệu đồng.
Tóm lại, trong xu thế hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu cũng như với đặc điểm
tự nhiên, kinh tế, xã hội đặc thù của Việt Nam thì đẩy mạnh phát triển nông nghiệp là
một hướng phát triển phù hợp. Thêm vào đó, để phát triển nông nghiệp có lợi thế cạnh
tranh nhằm phát triển bền vững thì định hướng chiến lược cần đẩy mạnh phát triển
nông nghiệp công nghệ cao và xây dựng thương hiệu nông sản. Hai định hướng chiến
lược cơ bản này sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và tạo lợi thế cạnh tranh
cho nông sản nhằm góp phần nâng cao doanh thu trong sản xuất nông nghiệp và thu
nhập cho nông dân một cách bền vững.
1.2. Chính sách phát triển NNBV của Việt Nam
1.2.1. Chính sách đất đai, hướng tới sử dụng đất bền vững
Việt Nam tương đối phong phú về tài nguyên nước, nhưng đất nông nghiệp lại
khan hiếm, chỉ với 0,25 ha đất nông nghiệp bình quân đầu người, bằng 1/2 mức trung
bình của thế giới, thấp hơn so với Trung Quốc, Thái Lan và Indonesia.
Tổng diện tích đất nông nghiệp tăng 61% giai đoạn 1990 - 2012 (chủ yếu do
chuyển đổi đất rừng). Từ năm 2012-2015 diện tích đất canh tác tương đối ổn định.
Trong bối cảnh diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm, Việt Nam là một trong
những quốc gia có mức độ phân mảnh đất đai cao nhất so với khu vực và thế giới.
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người trên thế giới là 0,52 hecta,
trong khu vực là 0,36 hecta thì ở Việt Nam là 0,25 hecta. Đất sản xuất nông nghiệp
ngày càng bị thu hẹp. Mỗi năm có khoảng 70.000 hecta đất nông nghiệp bị lấy để xây
dựng đô thị, phát triển công nghiệp trong giai đoạn 1996-2010. Vì vậy, đất nông
nghiệp tính bình quân đầu người đã bị giảm xuống còn 900m2, trong đó đất trồng lúa
chỉ còn 465m2 (2011). Đất đai nông nghiệp bị chia nhỏ rất manh mún khó sử dụng
máy móc kỹ thuật hiện đại, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm đem lại năng suất, chất
lượng và hiệu quả cho nông nghiệp;
Chính sách kiểm soát hành chính về đất đai, sự can dự trực tiếp của nhà nước vào
cả thị trường đầu vào và đầu ra và một số thể chế cũ đã trở thành lực cản kìm hãm và
hạn chế quá trình chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam. Điều này đã làm cho nông
nghiệp không theo được những hướng đi mới cần thiết để có thể tiếp tục đảm nhiệm
vai trò quan trọng trong công cuộc hiện đại hóa đất nước khi Việt Nam đã là một nước
có thu nhập trung bình.Thu nhập bình quân đầu người là 2.587 USD năm 2018.
1.2.2. Chính sách ứng dụng khoa học và công nghệ trong phát triển nông nghiệp
Khoa học công nghệ (KHCN) trở thành yếu tố chính giúp tăng năng suất, giảm giá
thành, nâng cao chất lượng nông sản đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập ngày
càng sâu rộng. Các chuyên gia kinh tế khẳng định, nếu ví thương mại là “đôi chân”
đưa nông sản Việt Nam tiến xa trên thị trường thì khoa học công nghệ được coi là
“xương sống” để ngành nông nghiệp nâng cao giá trị cho nông sản. Khoa học công
nghệ tạo sự bứt phá trong nông nghiệp.
36
Việt Nam rất coi trọng thu hút đầu tư và công nghệ nước ngoài trong lĩnh vực nông
nghiệp, coi ứng dụng khoa học công nghệ là đòn bẩy quan trọng, góp phần chuyển
dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa
nông sản có chất lượng và hiệu quả, gắn sản xuất với thị trường trong nước và quốc tế
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, nâng cao thu nhập trên một đơn vị ha đất
canh tác, cải thiện đời sống của nông dân. Mức chi đầu tư ngân sách cho khoa học
công nghệ đã tăng từ 1,36% lên 2,01% (2018) , vẫn thấp hơn nhiều so với các nước
thành viên CPTPP với mức huy động lên tới 70% nguồn vốn xã hội đầu tư cho phát
triển khoa học công nghệ.
Hiện Việt Nam có 29 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoạt động tại 12
tỉnh, thành phố, một số mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đầu tư có hiệu
quả, đem lại lợi nhuận khá cao. như sản xuất cây giống tại Tổng công ty Giống cây
trồng Thái Bình, mô hình cánh đồng lớn ở Công ty Bảo vệ thực vật An Giang; mô
hình nuôi bò và chế biến sữa của Công ty TH True Milk. Đặc biệt, Trung tâm Phát
triển Nông lâm nghiệp công nghệ Hải Phòng với hệ thống nhà kính, nhà lưới hiện đại
từ công nghệ của Israel, ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm và bón phân có kiểm soát
qua ống tưới của Israel cho năng suất cao gấp 3 lần so với phương pháp truyền thống.
1.2.3. Chính sách tái cơ cấu nông nghiệp
Mục tiêu của chính sách tái cơ cấu nông nghiệp là đẩy mạnh đầu tư vào khoa học
công nghệ và quản lý trong nông nghiệp, chuyển cạnh tranh bằng giá thấp với những
hàng hóa chất lượng thấp, khối lượng nhiều sang cạnh tranh bằng giá cao hơn với chất
lượng cao hơn và giá trị gia tăng cao hơn. Tái cơ cấu nông nghiệp là bước chuyển vô
cùng quan trọng.
Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát
triển bền vững đã đưa ra 5 quan điểm tổng quát về tái cơ cấu ngành nông nghiệp
những năm tới, bao gồm:
Một là, tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền
kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của
Việt Nam; gắn với phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường để bảo đảm phát
triển bền vững;
Hai là, thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa
phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng;
chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng lấy số lượng làm mục tiêu phấn đấu sang
nâng cao chất lượng, hiệu quả thể hiện bằng giá trị, lợi nhuận; đồng thời, chú trọng
đáp ứng các yêu cầu về xã hội;
Ba là, Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của các
thành phần kinh tế; tập trung hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và chuyển giao khoa học,
công nghệ, phát triển thị trường, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, cung cấp
thông tin, dịch vụ;
Bốn là, tăng cường sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế, xã hội từ trung
ương đến địa phương trong quá trình tái cơ cấu ngành; đẩy mạnh phát triển đối tác
công tư (PPP) và cơ chế đồng quản lý, phát huy vai trò của các tổ chức cộng đồng.
Nông dân và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư đổi mới quy trình sản xuất, công nghệ và
thiêt bị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn;
37
Năm là, tái cơ cấu là một quá trình phức tạp, khó khăn và lâu dài cần được thường
xuyên đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm để điều chỉnh phù hợp với thực tế trên cơ sở
xây dựng một hệ thống giám sát, đánh giá và tham vấn thông tin phản hồi từ các bên
liên quan.
1.2.4. Các chính sách khác hướng đến phát triển nông nghiệp bền vững.
* Chính sách thu hút đầu tư phát triển nông nghiệp.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp. Ngành Nông
nghiệp Việt Nam kể từ sau đổi mới đã phát triển mạnh mẽ, với giá trị sản xuất đóng
góp khoảng 25% - 30% GDP/năm. Thành quả này có sự đóng góp không nhỏ của việc
huy động nguồn vốn FDI vào lĩnh vực nông nghiệp. Tính đến ngày 20/11/2018, tổng
vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 3.462,107 triệu
USD, xếp thứ 10 trong 19 ngành nghề, lĩnh vực thu hút vốn FDI của Việt Nam; chiếm
1,02% tổng vốn FDI.
- Xét theo cơ cấu: Vốn FDI trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản phân bố không đều,
các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực chế biến gỗ và lâm sản, chăn nuôi và chế
biến thức ăn gia súc. Những năm gần đây, cơ cấu vốn FDI có xu hướng chuyển sang
lĩnh vực trồng trọt, chế biến nông lâm thủy sản. Về cơ cấu vùng, các dự án chủ yếu tập
trung ở khu vực Đồng bằng Nam Bộ với trên 50% số dự án còn tiếp đến là khu vực
Đồng bằng sông Cửu Long, Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Xét theo đối tác đầu tư: Hiện nay, có trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào
lĩnh vực nông nghiệp, với các quốc gia đi đầu là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Malaysia. Đã có một số dự án FDI vào nông nghiệp của Nhật Bản tại Việt Nam đạt
hiệu quả cao như: Các dự án trồng hoa, rau sạch tại Lâm Đồng; dự án chăn nuôi tại
TP. Hồ Chí Minh
Các chính sách ưu đãi thu hút vốn FDI vào lĩnh vực nông nghiệp, nhất là từ năm
2016 trở lại đây được đánh giá là có nhiều đổi mới về chính sách, trong đó, phải kể
đến các chính sách về hỗ trợ cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên,
các chính sách này hiện chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước,
chưa áp dụng cho các dự án FDI.
* Chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng cho nông nghiệp
Theo Nghị định về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn,
7 lĩnh vực cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn cần được ưu tiên trong
chính sách tín dụng, bao gồm:
1. Cho vay các chi phí phát sinh phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh sản phẩm
nông nghiệp từ khâu sản xuất đến thu mua, chế biến và tiêu thụ.
2. Cho vay phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại và cung ứng các dịch vụ trên
địa bàn nông thôn.
3. Cho vay để sản xuất giống trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, trồng rừng và
cung ứng các sản phẩm, dịch vụ phục vụ quá trình sản xuất nông nghiệp.
4. Cho vay phát triển ngành nghề tại địa bàn nông thôn.
5. Cho vay phục vụ Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
6. Cho vay các nhu cầu phục vụ đời sống của cư dân trên địa bàn nông thôn.
38
7. Cho vay theo các chương trình kinh tế liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông
thôn của Chính phủ.
Trong lĩnh vực cho vay tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, chính
phủ đưa ra 8 mức cho vay không tài sản bảo đảm. Các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác,
hộ kinh doanh, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và chủ trang trại được tổ chức tín dụng
cho vay không có tài sản bảo đảm theo 8 mức.
* Chính sách bảo hiểm nông nghiệp.
Mặc dù là nước nông nghiệp nhưng bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam lại chỉ
chiếm tỉ trọng nhỏ. Được khởi động từ sớm (1982) song cho đến nay phí bảo hiểm
nông nghiệp của Việt Nam chỉ chiếm tỉ trọng rất ít trong doanh thu phí bảo hiểm phi
nhân thọ, chiếm 0,069% (2004); khoảng 0,008% (2005), gần 0,012% (2006) và
0,01%/năm (2007-2010). Năm 2013, chương trình bảo hiểm nông nghiệp được triển
khai rộng trên cây lúa, vật nuôi (trâu, bò, lợn, gia cầm) và thuỷ sản (cá tra, tôm sú, tôm
chân trắng) ở 20 tỉnh, thành phố. Rất ít doanh nghiệp tham gia bảo hiểm nông nghiệp.
Hầu như các loại cây trồng, vật nuôi, thủy sản đều không được bảo hiểm. Thực tế này
khiến cho bảo hiểm nông nghiệp hiện chưa đóng góp nhiều cho sản xuất nông nghiệp.
Để từng bước đưa bảo hiểm nông nghiệp trở thành “chỗ dựa” của người làm nông
nghiệp, ngày 18/4/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về Bảo
hiểm nông nghiệp. Theo đó, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận
nghèo được Nhà nước hỗ trợ cao nhất 90% phí bảo hiểm nông nghiệp.
Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ
cao nhất 20% phí bảo hiểm nông nghiệp. Tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình
sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn có ứng dụng khoa học công nghệ và
các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công
nghệ cao, thân thiện với môi trường được hỗ trợ cao nhất 20% phí bảo hiểm nông
nghiệp
1.3. Đánh giá thực thi chính sách: Thành tựu và hạn chế
1.3.1. Thành tựu
Nông nghiệp Việt Nam được ghi nhận có sự tiến bộ vượt bậc. Việt Nam đã trở
thành nước xuất khẩu hàng đầu các mặt hàng nông sản, lương thực và nằm trong nhóm
5 nước xuất khẩu lớn nhất. Những thành tựu cơ bản nhất của ngành nông nghiệp Việt
Nam, đó là:
Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng nông nghiệp liên tục tăng.
Giá trị sản xuất nông nghiệp của Việt Nam tăng trưởng trung bình với tốc độ
4,06%/ năm giai đoạn (1986-2015). Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, mặc dù kinh
tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn nhưng nông nghiệp, nông thôn vẫn là ngành giữ được tốc
độ tăng trưởng tương đối ổn định, đảm bảo cân bằng cho nền kinh tế. Nông nghiệp
cung cấp sinh kế cho 9,53 triệu hộ dân nông thôn và 68,2% số dân (60 triệu người),
đóng góp 18%-22% GDP cho nền kinh tế và 23%-35% giá trị xuất khẩu. Trong mức
tăng trưởng của toàn nền kinh tế năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
tăng 3,76% so với năm 2017, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung và đạt mức
tăng trưởng cao nhất trong 7 năm qua, khẳng định chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát
huy hiệu quả, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Cơ cấu cây
trồng được chuyển dịch theo hướng tích cực, giống lúa mới chất lượng cao đang dần
39
thay thế giống lúa truyền thống, phát triển mô hình theo tiêu chuẩn VietGap cho giá trị
kinh tế cao. Mặc dù diện tích gieo trồng lúa trên cả nước năm nay giảm nhưng năng
suất tăng cao nên sản lượng lúa cả năm 2018 ước tính đạt 43,98 triệu tấn, tăng 1,24
triệu tấn so với năm 2017. Nuôi trồng thủy sản tăng khá, sản lượng thủy sản nuôi trồng
ước tính cả năm đạt 4,2 triệu tấn, tăng 6,7%.
Thứ hai, chương trình xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh.
Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào rộng khắp trong cả nước, nhờ đó
nhiều vùng nông thôn đã đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của người dân đã
tăng. Theo Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương, tính đến hết tháng
2/2019, cả nước có 4.144 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tăng 306 xã so với cuối năm
2018. Đáng chú ý, 3 địa phương có 100% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn
mới là Đồng Nai (133/133 xã); Nam Định (193/193 xã) và Đà Nẵng (11/11 xã); bình
quân cả nước đạt 14,61 tiêu chí/xã, tăng 0,04 tiêu chí so với cuối năm 2018 và còn 2
xã dưới 5 tiêu chí thuộc tỉnh Kon Tum, giảm 8 xã so với cuối năm 2018. Đến nay, cả
nước có 61 đơn vị cấp huyện thuộc 31 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được
Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn
mới.
Theo báo cáo của các địa phương, đến hết tháng 2/2019, cả nước đã có 2.579 thôn,
bản ấp được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; trong đó, có 709 thôn, bản nông thôn
mới thuộc các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven
biển và hải đảo...
Nhiều địa phương đã tạo được chuyển biến rõ nét trong việc lựa chọn cây, con chủ
lực để tập trung đầu tư phát triển; tổ chức liên kết theo chuỗi giá trị từ sản xuất nguyên
liệu, đến chế biến và tiêu thụ với quy mô lớn hơn; chú trọng quy hoạch và phát triển
nông nghiệp công nghệ cao. Tỷ lệ và tốc độ cơ giới hóa sản xuất đã tăng nhanh, giảm
được khá nhiều tổn thất và chi phí.
Thứ ba, hệ thống thủy lợi, đê điều tiếp tục được nâng câp, đầu tư.
Hệ thống thủy lợi, đê điều được phát triển theo hướng đa mục tiêu và tăng cường
năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu; kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp
tiếp tục được nâng cấp và hiện đại hóa; công tác quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn
thực phẩm đã được quan tâm chỉ đạo; hoạt động hợp tác quốc tế được tăng cường;
tham gia tích cực đàm phán và tổ chức thực hiện các Hiệp định thương mại và tháo gỡ
rào cản, phát triển thị trường. Với hơn 2,7 tỷ USD nguồn vốn ODA đầu tư cho phát
triển nông nghiệp-mức kỷ lục trong giai đoạn 2010-2015, nhiều công trình thủy lợi,
giao thông nông thôn được xây dựng, nâng cấp, sửa chữa.
Thứ tư, tái cơ cấu nông nghiệp đã đạt được thành công bước đầu.
Hàng loạt chính sách mới của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ra đời đã kịp thời
bổ sung về nguồn lực cho phát triển các lĩnh vực then chốt của ngành Nông nghiệp
như: Chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản; chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa;
tái canh cà phê; bảo vệ và phát triển rừng gắn với xóa đói giảm nghèo ở các vùng đồng
bào dân tộc thiểu số; chính sách tín dụng, thuế, nông nghiệp công nghệ cao với nhiều
ưu đãi cho nông nghiệp, nông thôn; sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động
của Cty nông lâm nghiệp Kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được
nâng cấp và ngày càng hiện đại, phục vụ hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp, công
40
nghiệp và dân sinh; năng lực phòng chống với diễn biến khí hậu, thiên tai ngày càng
được nâng cao, bảo vệ cuộc sống và cơ sở vật chất của nhân dân.
Theo đó, số DN hoạt động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản đã tăng từ 3.517 DN
năm 2012 lên 4.500 DN năm 2016 và 5.661 DN năm 2017. Thủ tướng Chính phủ cũng
đã giao Ngân hàng Nhà nước triển khai gói tín dụng ưu đãi 100 nghìn tỷ đồng cho
nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch. Đến nay đã có khoảng 6.400 khách hàng
được vay khoảng 40.000 tỷ đồng
1.3.2. Hạn chế
Tuy đã gặt hái nhiều thành công nhưng ngành nông nghiệp cũng đang phải đối mặt
với những thách thức lớn về dân số, kinh tế và môi trường. Phát triển nông nghiệp Việt
Nam vẫn còn một số những hạn chế, đó là:
Một là, hạn chế trong cải cách đất đai và quyền sử dụng đất: Luật Đất đai năm
2013 ban hành nhằm tăng cường sự phát triển của thị trường đất đai, duy trì thời hạn
quyền sử dụng đất, diện tích đất cho mỗi hộ gia đình, sự lựa chọn các loại cây trồng,
chuyển giao và trao đổi đất. Những quy định này nhằm đảm bảo bình đẳng về tiếp cận
đất đai giữa những người dân nông thôn, nhưng dẫn đến hạn chế khả năng tích tụ đất
đai và gây trở ngại cho đầu tư dài hạn.
Thứ hai, khoa học công nghệ trong nông nghiệp vừa thiếu lại vừa lạc hậu.
Mức độ đầu tư toàn xã hội cho nông nghiệp thấp mặc dù một số doanh nghiệp lớn
đã bắt đầu chuyển sang đầu tư vào nông nghiệp, nhưng nhìn chung rất ít, chỉ khoảng
vài phần trăm. Trong khi đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp không đáng kể. Việc xây
dựng nền nông nghiệp công nghệ cao chậm chuyển biến, chưa tạo đột phá để nâng cao
giá trị gia tăng, tạo cơ sở vững chắc cho chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo
hướng hiệu quả bền vững, gắn theo chuỗi giá trị. Thiết bị và công nghệ chế biến sau
thu hoạch còn lạc hậu, kết cấu hạ tầng phục vụ bảo quản chế biến còn chưa phát triển,
quy mô nhỏ, tỷ lệ hao hụt thất thoát cao. Phần lớn vật tư, thiết bị nông nghiệp dựa vào
nguồn nhập khẩu từ nước ngoài.
Thứ ba, hạn chế tiếp cận tín dụng nông nghiệp: Thị trường tài chính nông thôn bao
gồm một số tổ chức, trong đó Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam (VBARD) và Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (VBSP) có vị trí hàng đầu,
đại diện cho 66% của nguồn tín dụng nông thôn. Mặc dù các ngân hàng hợp tác xã là
các Quỹ tín dụng nhân dân (PCFs) và các tổ chức tài chính tư nhân khác đã được thành
lập, đến nay các tổ chức này không chiếm được vai trò đáng kể về tài chính nông thôn.
Thực tế này hạn chế tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng chính thức ở khu vực nông
thôn và lãi suất cao. Thiếu tài sản thế chấp cũng hạn chế tiêp cận tín dụng của các hộ
nông dân quy mô nhỏ. Kêt quả là, một nửa số hộ gia đình nông thôn vẫn không thể
tiếp cận các dịch vụ ngân hàng và tín dụng phi chính thức vẫn là nguồn tín dụng quan
trọng nhất ở nông thôn.
Thứ tư, thiếu cơ sở hạ tầng ở các khu vực nông thôn. Mặc dù Việt Nam đã có
những tiến bộ ấn tượng trong phát triển cơ sở hạ tầng, hiện có hơn 90% dân số nông
thôn được tiếp cận vói điện và hơn 98,5% tiếp cận các tuyến đường. Tuy nhiên, tăng
trưởng kinh tế nhanh đã dẫn đến tắc nghẽn nghiêm trọng về cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ
tầng nông thôn ở Việt Nam nhìn chung vẫn lạc hậu. Hệ thống đường trục chính, đường
vận tải còn thiếu. Hầu như không có đường sắt, đường cao tốc để phục vụ vận chuyển
41
hàng nông sản xuất khẩu. Cơ sở hạ tầng mới thường nằm trong các khu vực đô thị để
kết nối các thành phố lớn, sân bay, cảng biển, khu công nghiệp, trong khi cơ sở hạ tầng
nông thôn thường là trong điều kiện nghèo nàn và không được bảo dưỡng đúng mức.
2. Một số bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới
Từ thực tế nghiên cứu chính sách phát triển nông nghiệp của Trung Quốc, Thái
Lan, Israel và Ba Lan có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho phát triển nông
nghiệp Việt Nam:
2.1. Bài học về qui hoạch và quản lý sử dụng đất nông nghiệp để bảo vệ nông dân
Đất là nguồn tài nguyên rất lớn. Kinh nghiệm của Trung Quốc, Thái Lan và Israel,
Ba Lan đã chỉ ra rằng, cần hạn chế tối đa lấy đất nông nghiệp trồng lúa cho mục đích
công nghiệp, đánh thuế mạnh vào chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp nhằm
ngăn chặn việc nông dân mất đất do đô thị hóa tạo nên. Ban hành chính sách và giám
sát chặt chẽ việc qui hoạch sử dụng đất đai nông nghiệp trên cả nước nhằm quản lý, sử
dụng đất nông nghiệp, có tầm nhìn xa về xây dựng và phát triển nông thôn. Kiên quyết
giữ các vùng đất tốt chuyên canh ở đồng bằng, sông Cửu Long và đồng bằng sông
Hồng.
Khi cần thu hồi đất của nông dân phải đền bù thỏa đáng và bố trí công ăn việc làm
thích hợp cho người nông dân. Phần lợi nhuận thu từ đất thu hồi trích theo tỷ lệ nộp lại
cho địa phương sử dụng cho mục đích công cộng và xã hội. Nới rộng thời gian giao
quyền sử dụng đất từ 50 đến 100 năm để người dân an tâm đầu tư lâu dài. Trong
trường hợp người dân chuyển sang các ngành nghề khác thì nhà nước đứng mua và
cho thuê nhằm bảo đảm diện tích đất nông nghiệp, thúc đẩy tích tụ đất ruộng ở nông
thôn.
Phương án quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam đến năm 2020 là
26.732 nghìn hecta. Năm 2015, chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể khu và
vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
với mục tiêu góp phần đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, sản
xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng hiệu quả và sức cạnh tranh cao, đảm bảo
vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia và gia tăng xuất khẩu.
2.2. Bài học về nâng cao ứng dụng khoa học công nghệ cao trong nông nghiệp,
phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản
Những hạn chế trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam vẫn là khó
khăn về vốn, về điều kiện đất đai manh mún, nhỏ lẻ. Nếu không chuyển đổi nông
nghiệp sang sản xuất quy mô lớn, có sự bảo hộ của Nhà nước đối với sản phẩm nông
nghiệp thì rất khó để đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển nông nghiệp. Vì chỉ
có phát triển sản xuất lớn dưới sự điều hành của doanh nghiệp hoặc hợp tác xã thì KH
- CN mới có cơ hội đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các khâu, từ cơ giới hóa đến làm
đất, lịch trình gieo trồng, chế biến và thu hoạch. Còn nếu không, như hiện nay, dù có
đưa KH - CN vào thì cũng rất tốn kém và không thật sự hiệu quả.
2.3. Bài học về phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với bảo vệ tài nguyên môi
trường
Do chạy theo các lợi ích trước mắt mà hoạt động sản xuất nông nghiệp đang lệ
thuộc quá nhiều vào các loại hoá chất. Lạm dụng hoá chất trong sản xuất nông nghiệp
đang làm ô nhiễm và suy kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hầu như trong tất cả
42
các khâu của quá trình sản xuất đều có sự tham gia của các loại hoá chất ngày từ khâu
làm giống cho đến khi thu hoạch. Việc lạm dụng hoá chất quá mức đang làm cho môi
trường bị ô nhiễm, các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị suy kiệt.
Bởi vậy, để hạn chế tác hại này và đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững
nên hạn chế dùng các loại hóa chất cho nông nghiệp, áp dụng phương pháp canh tác và
sử dụng các loại phân bón hữu cơ thân thiện, kể cả những chế phẩm từ nông nghiệp để
làm giàu đất và cung cấp chất dinh dưỡng hữu ích cho cây trồng.
2.4. Bài học về hỗ trợ tài chính có hiệu quả cho nông nghiệp và nâng cao mức
sống của cư dân nông thôn
Trong sản xuất nông nghiệp, nông dân luôn là người chịu thiệt và yếu thế vì sự
cạnh tranh khốc liệt. Bản thân sản xuất nông nghiệp lại luôn hàm chứa rủi ro vì biến
động giá cả và thời tiết, việc đầu tư cho nông nghiệp mang lại lợi nhuận thấp ít hấp
dẫn các nhà đầu tư nhưng sản xuất nông nghiệp và sản phẩm của nông dân lại là bắt
buộc và không thể thiếu đối với xã hội. Các nước nông nghiệp phát triển rất quan tâm
và có điều kiện tài chính để trợ cấp, bảo hộ rất mạnh cho nông nghiệp và luôn dựng
lên hàng rào bảo hộ ở mức cao gây khó khăn cho hàng nông sản Việt Nam thâm nhập
vào thị trường các nước.
Việt Nam là nước đang phát triển, vừa chưa đủ điều kiện lại vừa chưa nhận thức
đúng vai trò của sự hỗ trợ cho nông nghiệp. Hỗ trợ có hiệu quả cho nông dân là một
thực tế đặt ra và cũng là bài học rút kinh nghiệm từ các nước.
2.5. Bài học về tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) vào phát
triển nông nghiệp
Một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến thu hút FDI nói chung và FDI vào
lĩnh vực nông nghiệp nói riêng là thủ tục hành chính đối với hoạt động đầu tư nước
ngoài như thủ tục đăng kí, cấp giấy phép đầu tư cần phải được đơn giản hóa tối đa bởi
đây là rào cản lớn nhất đối với nguồn vốn FDI. Bên cạnh đó, cần nâng cấp hạ tầng cơ
sở nông thôn. Nâng cấp hạ tầng cơ sở nông thôn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến
thu hút vốn FDI. Kinh nghiệm của Thái Lan là phát triển hệ thống vận tải hàng không
với hệ thống sân bay thương mại rộng khắp, biến tất cả các vùng của Thái Lan chỉ
cách thủ đô Bangkok khoảng 1 giờ bay.
Mục tiêu thu hút vốn FDI vào ngành nông nghiệp Việt Nam được kỳ vọng nâng lên
mức 4,5 tỷ USD vào năm 2020 và 6 tỷ USD vào năm 2030. Đồng thời, nâng tỷ trọng
vốn đầu tư FDI trong nông nghiệp trên tổng vốn đầu tư FDI trong toàn bộ nền kinh tế
lên mức 4% - 5% sau năm 2020. Nông nghiệp của Việt Nam mặc dù không được đầu
tư mạnh nhưng nhiều sản phẩm nông nghiệp vẫn vươn lên đứng hàng đầu thế giới về
xuất khẩu. Đây là lý do các tập đoàn quốc tế muốn đầu tư vào Việt Nam trong tương
lai.
43
KẾT LUẬN
Tất cả các quốc gia có thế mạnh nông nghiệp trên thế giới hiện nay (Trung Quốc,
Thái Lan, Israel, Ba Lan) đều đã và đang thực thi các chính sách hỗ trợ nông nghiệp
nông thôn một cách tích cực. Đó là các chính sách trợ giá cho nông dân sản xuất các
mặt hàng nông sản chủ yếu; Chính sách công nghiệp hóa nông thôn và phát triển nông
nghiệp bền vững, hiện đại; chính sách mở cửa thị trường để thu hút đầu tư mạnh cùa
nước ngoài cho nông nghiệp của Thái Lan. Chính sách nhanh chóng giảm thuế, miễn
thuế để thu hút vốn đầu tư vào nông nghiệp; Chính sách phát triển ngành chế biến
nông sản, hỗ trợ tài chính cho nông dân nhằm đạt các mục tiêu “Nông nghiệp gia tăng
sản xuất, nông thôn phát triển, nông dân tăng thu nhập” của Trung Quốc. Kinh nghiệm
của Israel, Ba Lan đã chỉ ra, để nền nông nghiệp phát triển, cần phải đi lên bằng nền
sản xuất lớn, bằng các hợp tác xã kiểu mới. Nghĩa là, ngoài việc tổ chức lại sản xuất
theo hướng đa ngành, giải pháp tốt cho cả sản phẩm đầu vào và đầu ra, điều quan
trọng nhất là không được thủ tiêu động lực kinh tế hộ. Bên cạnh đó, nhà nước phải
nâng cao vốn đầu tư cho nông nghiệp, bởi vốn đầu tư cho nông nghiệp hiện ở Việt
Nam ngày càng ít.
Trong giai đoạn hơn 30 năm chuyển đổi Việt Nam đã đạt được nhiều thành tự to
lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Những năm đầu thế kỉ 21,
Việt Nam có mức tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp hết sức ấn tượng
và đã trở thành nước xuất khẩu lớn nhất thế giới về hạt điều và hạt tiêu đen, lớn thứ hai
về cà phê và sắn, lớn thứ ba về gạo và thủy sản, và lớn thứ 5 về cao su. Tuy nhiên
nông nghiệp Việt Nam nói chung và chính sách phát triển bền vững còn bộc lộ hàng
loạt các khiếm khuyết. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp trong những
năm qua diễn ra chậm do các hạn chế và yếu kém của từng nhóm ngành. Việc quy
hoạch và thực hiện quy hoạch phát triển cây trồng công nghiệp lâu năm, cây ăn quả
không thành công như mong đợi (nơi phát triển quá nhanh, nơi phát triển quá chậm)
dẫn đến tình trạng vỡ quy hoạch và phát triển tự phát, gây lãng phí, kém hiệu quả
trong sử dụng các nguồn lực nông nghiệp: đất đai, nước, hạ tầng. Đối với tiểu ngành
chăn nuôi mặc dù đã phát triển đa dạng các loại sản phẩm truyền thống và sản phẩm
mới nhưng chưa hình thành được các phương thức sản xuất tập trung một cách hợp lý,
có hiệu quả và bền vững nên hầu hết các sản phẩm của tiểu ngành này có năng lực
cạnh tranh thấp so với các sản phẩm nhập khẩu.
Việc nghiên cứu các chính sách phát triển NNBV của một số quốc gia như đã giới
thiệu và từ đó rút ra những gợi mở cho Việt Nam trên cơ sở so sánh thực tiễn tương
đồng và khác biệt giữa Việt Nam với các nước cho thấy có nhiều bài học kinh nghiệm
nhưng việc áp dụng không hề đơn giản vì còn phụ thuộc vào trình độ phát triển, điều
kiện hội nhập, vào các cải cách thị trường, triết lý phát triển đến văn hóa, truyền thống
v.v..Tuy vậy các gợi mở về xây dựng và triển khai chính sách phát triển NNBV cần
phải dựa trên qui hoạch vừa tổng thể, vừa chi tiết, dài hạn, có điều chỉnh theo các cơ
hội và thách thức từ các yếu tố bên ngoài như biến động của thị trường toàn cầu, của
các thách thức an ninh phi truyền thống, của ứng phó với biến đổi khí hậu, trong điều
kiện gia tăng hội nhập khu vực luôn có ý nghĩa đối với Việt Nam.
Biên soạn: Nguyễn Thị Minh Phượng
TT Thông tin và Thống kê KH&CN
44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Mạnh Dũng (2015). Hợp tác xã nông nghiệp trên thế giới - nhân tố quan
trọng trong liên kết phát triển sản xuất của nông dân. Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, Bản tin Lãnh đạo, tháng 10/2015.
2. Cục Thông tin Khoa học & Công nghệ Quốc gia (2016). Thành tựu phát triển nông
nghiệp công nghệ cao của Israel - Một số giải pháp rút ra cho ngành nông nghiệp Việt
Nam.
3. Chính sách nông nghiệp Việt Nam 2015, Báo cáo rà soát nông nghiệp và lương thực
của OECD, OECD 2015.
4. Lê Xuân Cử, 2015. Một số chính sách của Trung Quốc đối với nông dân và tham
chiếu kinh nghiệm cho Việt Nam. Tạp chí Cộng sản Điện tử ngày 12/11/2015.
5. Phạm Thăng (2012), “Kinh nghiệm của thế giới về phát triển nông nghiệp nông
thôn”-Tạp chí Phát triển & Hội nhập.
6. Trần Thùy Phương (2013), Chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở
Israel. Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, số tháng 11/2013.
7. Thái Lan - bài học xuất khẩu nông sản, Tạp chí Nông nghiệp và Nông thôn Vĩnh
Long, Số 28, 01/2004.
8. Ngọc Yến (2014), Triển vọng hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và
Israel” Tạp chí Khoa học và công nghệ, số 35, 11/2014, tr. 44-46)
9. OECD (2013), Israel - Agricultural Policy: Monitoring and Evaluation 2013, OECD
Publications.
10. Thailand Considers Making Crop Insurance Mandatory. Insurance Asia News,
March 11, 2016.
11. Zhi-Zhuan Zhou, 2014. Analysis of the Structure of Foreign Direct Investment in
China’s Agriculture. International Conference on Economic Management and Trade
Cooperation (EMTC 2014).
12. Krzysztof Lyskawa (2011), Application of insurance-based support of agriculture
by the state - the Polish experience and the EU guidelines
13. Ministry of Agriculture and Rural Development (2014), Agriculture and Rural
Economy in Ponland, Warsaw, 2014
14. Phạm Thị Thanh Bình và Vũ Thị Phương Dung (2015), Bảo hiểm nông nghiệp
Trung Quốc:Tiến trình hình thành và triển vọng, TC Nghiên cứu Trung Quốc N
9/2015
15. Phạm Thị Thanh Bình (2015), Chính sách phát triển NNBV của Israel, TC Nghiên
cứu Châu Phi và Trung Đông, 6/2015
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tai_lieu_chinh_sach_phat_trien_nong_nghiep_ben_vung_cua_mot.pdf