Tài liệu Công nghệ sinh học thực phẩm hiện đại: Lợi ích và nguy cơ rủi ro tiềm tàng

Dưới đây là một số khuyến nghị về phát triển cây trồng GM ở Việt Nam: - Tạo hành lang pháp lý đối với các sản phẩm biến đổi gen là một vấn đề cấp thiết hiện nay, nhằm tạo cơ sở phục vụ cho sự quản lý của nhà nước đồng thời thúc đẩy hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ sản xuất an toàn để làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi trong ngành nông nghiệp Việt Nam. - Nhà nước có chính sách phù hợp để khuyến khích nghiên cứu và ứng dụng cây trồng GM. Điều này góp phần đảm bảo an toàn thực phẩm và tạo điều kiện cho công nghệ sinh học phát triển, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu cây trồng và bước đầu thực hiện đề tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với thực hiện đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trong đó giảm dần sự phụ thuộc vào nhập khẩu của một số loại cây trồng như ngô, đậu tương. - Tiếp tục có nhiều nghiên cứu sâu hơn về sinh vật GM. Triển khai thử nghiệm ở quy mô rộng hơn về diện tích, phong phú hơn về chủng loại giống cây trồng GM để đánh giá đúng tiềm năng và những nguy cơ có thể xảy ra - Tiếp nhận công nghệ biến đổi gen và mở rộng diện tích trồng GM ở Việt Nam cần cân nhắc rất cẩn thận, đầu tư nghiên cứu toàn diện để phát hiện đầy đủ lợi ích và hiểm họa. Lựa chọn phương pháp tiếp cận thông minh, tuần tự và thận trọng, cần có55 thời gian để nghiên cứu phát hiện đầy đủ hơn những hiểm họa tiềm ẩn là mặt trái của công nghệ, đảm bảo cho nền nông nghiệp nước nhà an toàn bền vững và không bị lệ thuộc. Trước mắt, nên tập trung nội lực nghiên cứu phát triển các cây lương thực, thực phẩm có lợi thế, đồng thời tập trung đầu tư để nâng cao giá trị xuất khẩu của lúa gạo, cà phê, rau, hoa, quả, thủy sản.bù cho việc nhập khẩu ngô, đậu tương làm thức ăn chăn nuôi và bông cho công nghiệp dệt. Đầu tư nghiên cứu tạo giống hoặc nhập giống GM dùng làm nhiên liệu, để sản xuất xăng sinh học hoặc để trồng rừng làm nguyên liệu gỗ, giấy, cao su nhưng phải đảm bảo các quy định về an toàn sinh học, để không ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và sinh vật. - Với những hiểm họa đã được cảnh báo qua các nghiên cứu quốc tế, Việt nam cần lựa chọn đối tượng cây trồng phù hợp, đối với những giống cây dùng trong chuỗi thực phẩm, trước mắt chỉ nên nghiên cứu giải quyết công nghệ gen trong phòng thí nghiệm cho đến khi có những kết quả nghiên cứu toàn diện chắc chắn về độ an toàn. Khi các nhà làm công nghệ sinh học Việt Nam hoàn toàn chủ động tạo ra được giống GM phục vụ đại trà đáp ứng được yêu cầu sản xuất thì khảo nghiệm để phát triển. - Những gống GM cho hạt, chất bột hay tinh dầu để sản xuất xăng sinh học hoặc những giống cây rừng để trồng rừng phòng hộ, làm nguyên liệu gỗ, giấy, cao su, làm nhiên liệu có thể nghiên cứu biến đổi gen vì nó không ảnh hưởng đến hệ thống sống của con người, vì lương thực hay thực phẩm biến đổi gen sẽ rất khó được chấp nhận khi mức sống cùng với sự hiểu biết của người dân ngày càng nâng cao. Với khả năng tạo ra những giống cây trồng mới có giá trị kinh tế cao, công nghệ tạo giống GM cũng như các giống GM đã được trồng ở nhiều nơi trên thế giới có vai trò không thể phủ nhận. Tuy vậy vẫn còn tiềm ẩn những hiểm hoạ chưa được làm sáng tỏ. Để giải quyết những vấn đề này thì những kết luận thu được phải dựa trên những thông tin khách quan đáng tin cậy, có cơ sở khoa học, có đủ thời gian cần thiết để kiểm chứng. Vì tầm quan trọng của lương thực thực phẩm cho con người, nên các chính sách liên quan tới cây trồng GM cần phải dựa trên những cuộc tranh luận cởi mở và trung thực có sự tham gia của mọi thành phần trong xã hội và cần có các chương trình truyền thông phổ biến sâu rộng cho người dân hiểu đúng về cây trồng GM.

pdf56 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 9 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tài liệu Công nghệ sinh học thực phẩm hiện đại: Lợi ích và nguy cơ rủi ro tiềm tàng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ệu hiện có cần được đánh giá về chất lượng và giá trị sử dụng trong phân tích thành phần so sánh. 2.6. Các khía cạnh an toàn của thực phẩm có nguồn gốc hoặc được sản xuất bằng vi sinh vật GM Sản xuất phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến sử dụng vi sinh vật GM, trong đó vi sinh vật không phải là một phần thực phẩm đã trở thành một công nghệ quan trọng và ngày càng được chấp nhận, các sản phẩm như vậy có mặt trên thị trường đã đạt số lượng lớn. Kinh nghiệm tinh chế protein trong lĩnh vực y sinh cho thấy các thủ tục tinh chế theo tiêu chuẩn hóa có tầm quan trọng đối với độ an toàn của các sản phẩm này. Việc đánh giá rủi ro liên quan đến thực phẩm sử dụng vi sinh vật GM chú trọng đến phân tích các cấu trúc di truyền (vector) sử dụng trong các vi sinh vật GM, khả năng gây bệnh của GMM, và các tác động có hại của một chuyển gen tiềm năng (xem xét phạm vi ảnh hưởng lớn hơn đối với chuyển gen (Salyers et al. 2004) và các cơ chế tham gia khác nhau). Đối với vi sinh vật GM sử dụng trong thực phẩm (ví dụ như thực phẩm lên men hoặc các chế phẩm thực phẩm chức năng), việc đảm bảo đánh giá rủi ro cần chú trọng vào những ảnh hưởng của mối tương tác có thể xảy ra giữa vi sinh vật GM và các vi khuẩn đường ruột nội sinh và những tác động kích thích miễn dịch hoặc điều chỉnh miễn dịch tiềm năng của các vi sinh vật trong đường tiêu hóa (FAO / WHO 2001b). Các yếu tố điều hòa nhỏ có nguồn gốc từ ADN virus thường được sử dụng để điều khiển sự biểu hiện gen chuyển trong các GMO. Các cấu trúc ADN của virus đôi khi được sử dụng như những gen chuyển nhằm thiết lập tính kháng chống sâu bệnh virus, do chúng biểu hiện protein virus có khả năng đề kháng virus trên thực vật. Một số các nhà khoa học chỉ ra rằng, mối tương tác tiềm năng của các cấu trúc virus GM với các virus hoang dã liên quan cần được coi là một phần của đánh giá rủi ro xác định khả năng tiến hóa của các chủng virus gây hại mới thông qua các cơ chế tái tổ hợp (Frischmuth and Stanley 2000). Việc chèn các vectơ truyền nhiễm virus vào các gen chức năng quan trọng của người nhận là bệnh nhân trong lĩnh vực y sinh đã được thông báo, và trong khi những vector như vậy không được sử dụng thường xuyên trong sản xuất thực phẩm, bằng chứng này cho thấy sự hiểu biết còn hạn chế về các cơ chế điều khiển chèn cấu trúc di truyền. Các khía cạnh an toàn của thực phẩm có nguồn gốc từ nông nghiệp- dược- sinh học (biopharming) Tiềm năng sản sinh protein người trên động vật đã dẫn đến mối quan tâm lớn đến các cơ hội mới cải thiện sức khỏe con người, nhưng cũng dẫn đến những nỗ lực thiết lập các phương pháp đánh giá rủi ro thích hợp. Các khía cạnh an toàn sinh học của 41 nông nghiệp phân tử (hay nông nghiệp-dược phẩm) có thể chia thành hai nhóm chính: Khả năng lây lan gen chuyển; và những tác động bất lợi tiềm năng của protein biểu hiện đối với môi trường và người tiêu dùng (Mascia and Flavell 2004). Theo tư vấn chuyên gia, đánh giá rủi ro cần đảm bảo rằng các protein được thiết kế để sản xuất các sản phẩm dược, ví dụ như trong sữa động vật, không thể tìm được đường dẫn đến các bộ phận khác của cơ thể động vật, bởi điều đó có khả năng dẫn đến những tác động bật lợi. 2.7. Tác động tiềm năng của GMO đến sức khỏe con người thông qua các tác động môi trường Nghiên cứu về các chỉ số sức khỏe môi trường chỉ ra rằng, các thực hành nông nghiệp khác nhau gây ra những tác động trực tiếp và gián tiếp đến sức khỏe con người và phát triển. Các tác hại có thể dưới nhiều hình thức - hoàn toàn có nguồn gốc tự nhiên, hay xuất phát từ các hoạt động và can thiệp của con người. Sự cần thiết phải đánh giá những tác động gián tiếp của việc sử dụng GMO trong sản xuất thực phẩm đang được nhiều nước chú trọng. Các tác hại sức khỏe môi trường tiềm năng từ sự giải phóng GMO vào môi trường đã được WHO và các cơ quan bảo vệ môi trường đề cập đến, trong đó ảnh hưởng sức khỏe được phân tích dưới dạng một chỉ số kết hợp về bền vững sinh thái và xã hội (WHO/EURO-ANPA 2000). Ví dụ việc sản xuất các hóa chất hay các enzym có chứa các vi sinh vật GM (hóa chất, dược phẩm và phụ gia thực phẩm) đã góp phần đáng kể làm giảm sử dụng năng lượng, giảm khối lượng các chất thải rắn và độc hại vào môi trường, qua đó góp phần tăng cường sức khỏe con người và phát triển. Một ví dụ khác về các kết quả có lợi đối với con người/môi trường từ việc áp dụng cây trồng GM đó là việc làm giảm sử dụng thuốc trừ sâu, sự ô nhiễm môi trường và phơi nhiễm của người với thuốc trừ sâu trong một số lĩnh vực. Lợi ích này đặc biệt rõ ràng thông qua sử dụng giống bông Bt kháng thuốc trừ sâu, làm giảm sử dụng thuốc trừ sâu gây độc hại cho nông dân (Pray et el. 2002). Sự lai chéo cây trồng GM với cây trồng thông thường hay với các loài hoang dã, cũng như cây trồng thông thường bị nhiễm vật liệu GM, cả hai sự kiện này đều có tác động gián tiếp đến an toàn thực phẩm và an ninh lương thực do tạp nhiễm tài nguyên di truyền. Mặc dù đã nảy sinh những lo ngại ban đầu về việc đưa ADN chuyển gen vào các giống ngô truyền thống ở Mehico do kết quả của những phát hiện ra ADN chuyển gen trong các giống ngô như vậy vào năm 2000, những kết quả công bố gần đây từ các mẫu được lấy trong một khảo sát diện rộng, có hệ thống vào các năm 2003 và 2004 trong cùng khu vực cho thấy không có các gen chuyển trong các giống bản địa này (giới hạn phát hiện xấp xỉ 0,01%). Tuy nhiên, xác suất đưa một gen vào gen một loài khác vẫn tồn tại và cần có các biện pháp giảm nhẹ rủi ro. Các hai đặc điểm lai chéo và tạp nhiễm đều phụ thuộc vào các đặc điểm thụ phấn và phân bố phấn hoa và hạt của cây trồng cụ thể. Tại Hoa Kỳ, giống ngô GM mang tên "Starlink" đã không được phê chuẩn cho sử dụng thực phẩm, nhưng vô tình đã bắt đầu 42 xuất hiện trong các sản phẩm thực phẩm ngô. Ví dụ này chỉ ra vấn đề tạp nhiễm và nhấn mạnh đến tiềm năng của những tác động không mong muốn đối với sức khỏe con người và an toàn (Macilwain 2005). Trong trường hợp ngô Starlink, sự tách biệt hoàn toàn các giống GM không dành cho sử dụng thực phẩm với các giống cây trồng cùng loài khác có thể không thực hiện được. Các phương pháp phân tử cải tiến để ngăn chặn các gen chuyển, cũng như các biện pháp quản lý trang trại đang được thảo luận, ví dụ như khoảng cách cô lập, vùng đệm, rào cản phấn hoa, kiểm soát cây mọc tự nhiên, luân canh cây trồng và sắp xếp thời gian trồng tương ứng với thời kỳ ra hoa khác nhau, và giám sát các quá trình trồng trọt, thu hoạch, bảo quản, vận chuyển và chế biến. Khả năng động vật GM bước vào và tồn tại dai dẳng trong môi trường sẽ khác nhau tùy thuộc vào các đơn vị phân loại, các hệ thống sản xuất, các tính trạng được biến đổi, và các môi trường nhận. Sự phổ biến và tồn tại của cá và loài có vỏ GM, hay các gen chuyển của chúng trong môi trường có thể dẫn đến một con đường gián tiếp để các sản phẩm động vật biến đổi gen bước vào nguồn cung ứng thực phẩm cho người. Điều này là do các cá thể đã thoát ra hay thế hệ con cháu của chúng về sau có thể bị đánh bắt. Các cơ chế tương tự cũng có thể xảy ra đối với gia cầm như vịt và chim cút, những sinh vật cho thấy có sự biến đổi đáng kể so với loại bình thường hoặc so với bố mẹ và thường là kết quả của đột biến. Vận chuyển động vật sống và bán ra thị trường cá và gia cầm GM làm phát sinh thêm một con đường động vật GM có thể thoát và bước vào môi trường. 3. GMO và an toàn môi trường Tác động tiềm năng không lường trước của GMO đến các sinh vật không chủ đích, các hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học. Các yếu tố đánh giá rủi ro môi trường (ERA) đối với sinh vật GM bao gồm mô tả đặc điểm sinh học và phân tử của phần tử di truyền đưa vào, bản chất và bối cảnh môi trường của sinh vật nhận, tầm quan trọng của các tính trạng mới trong GMO đối với môi trường, và thông tin về các đặc điểm địa lý và sinh thái của môi trường nơi diễn ra việc đưa vào. Đánh giá rủi ro chú trọng đặc biệt đến các hậu quả tiềm tàng đối với tính ổn định và đa dạng của các hệ sinh thái, bao gồm cả sự xâm lấn giả định, dòng chảy của gen theo chiều ngang hay chiều dọc, các tác động sinh thái khác, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và tác động của sự hiện diện của vật liệu GM trong các sản phẩm khác. Sử dụng GMO trong sản xuất thực phẩm có thể dẫn đến những tác động môi trường, trong một đánh giá toàn diện về sản xuất thực phẩm GM, các tác động môi trường có thể ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe con người và phát triển theo nhiều cách như đã đề cập đến ở phần trên. Rủi ro tiềm tàng đối với môi trường bao gồm các tác động không mong muốn đến sinh vật không chủ đích, các hệ sinh thái và tính đa dạng sinh học. Cây trồng GM 43 kháng sâu hại đã được phát triển bằng biểu hiện của nhiều loại chất độc trừ sâu khác nhau như vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt). Những tác động có hại đến côn trùng có ích, hay sự cảm ứng nhanh hơn của các côn trùng có tính kháng hóa chất diệt (phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của protein Bt, biểu hiện trong phấn hoa và diện tích trồng) đã được xem xét trong ERA về một số cây trồng GM được bảo vệ chống sâu bệnh. Các nghiên cứu về tính độc hại của giống ngô Bt đối với loài bướm chúa ở Hoa Kỳ chỉ ra rằng, đối với hầu hết các giống lai thương mại, các biểu hiện Bt trong phấn hoa là thấp và các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên đồng cho thấy không có tác dụng độc hại cấp ở bất kỳ mật độ phấn hoa nào trên đồng (Sears et al. 2001). Những câu hỏi này đã được coi là một vấn đề trong các chiến lược giám sát và quản lý kháng sâu bệnh. Tăng liều thuốc diệt cỏ sau nảy mầm có thể áp dụng đối với cây trồng kháng thuốc diệt cỏ, như vậy có thể tránh được việc thường xuyên dùng thuốc diệt cỏ tiền nảy mầm và làm giảm số lần sử dụng thuốc cần thiết. Ngoài ra, yêu cầu cày bừa có thể giảm theo điều kiện trạng thái tới hạn của đất. Trong các tình huống sinh thái nông nghiệp nhất định, như áp lực kiểm soát cỏ dại cao, việc sử dụng cây trồng kháng thuốc diệt cỏ đã dẫn đến giảm lượng thuốc diệt cỏ cần sử dụng. Tuy nhiên, trong các trường hợp khác, sử dụng thuốc diệt cỏ vẫn không thay đổi thậm chí có phần tăng thêm. Trong các trường hợp khác, cần nghiên cứu các tình trạng: những hậu quả bất lợi tiềm năng đối với đa dạng sinh học thực vật, cỏ biến đổi thành loài ít nhạy cảm và phát triển tính kháng thuốc diệt cỏ, giảm sinh khối, ảnh hưởng xấu đến động vật hoang dã như động vật chân đốt hay chim, hay những hậu quả đối với thực hành nông nghiệp, ví dụ như việc luân canh cây trồng quan trọng về mặt sinh thái (Hauge Madsen và Streibig 2003). Lai chéo. Lai chéo gen chuyển đã được thông báo từ việc canh tác cây trồng GM thương mại, bao gồm cải dầu và củ cải đường, và đã được chứng minh trong các khảo nghiệm về một số cây trồng, trong đó có cây lúa và ngô. Lai chéo có thể dẫn đến sự chuyển gen không mong muốn như chuyển gen kháng thuốc diệt cỏ sang cây trồng hoặc không chủ đích, làm nảy sinh các vấn đề quản lý cỏ dại mới. Có thể dự báo hậu quả của lai chéo tại các vùng, nơi cây trồng GM có sự phân bố cùng khu vực và có giai đoạn ra hoa trùng với các loài cây và cỏ dại, như đối với trường hợp cây lúa. Dưới góc độ hậu quả có khả năng do dòng chảy gen từ các GMO, việc sử dụng các phương pháp phân tử để ức chế dòng chảy gen đã được cân nhắc và đang được phát triển. Khoảng cách cô lập hay các chiến lược phân tử tương lai về giới hạn gen chuyển chỉ trong cây trồng chuyển gen có thể làm giảm được dòng chảy của gen (Daniell 2003). Các biện pháp cô lập nghiêm ngặt có thể là cần thiết do các cơ chế phát tán phức tạp đối với một số cây trồng nhất định. Các Kỹ thuật giới hạn gen, ví dụ như đưa vào gen chuyển ở thể hạt không kế thừa di truyền từ đằng cha, đều không có hiệu quả do dòng chảy gen thông qua hạt hoặc do chúng vẫn còn ở giai đoạn phát triển sớm. Động vật GM. Khả năng cá và các động vật biến đổi gen khác có thể thất thoát và tái sinh sản trong môi trường tự nhiên và việc đưa các gen tái tổ hợp vào quần thể 44 hoang dã đã được đưa vào một báo cáo của Viện Hàn lâm khoa học Hoa Kỳ (Board on Agriculture and Natural Resources 2002). Côn trùng, động vật có vỏ, cá và các loài đột vật biến đổi gen khác (PIFB 2004) có thể dễ dàng thất thoát, có tính biến đổi cao và điều đáng quan tâm là chúng có thể dễ dàng tạo thành các quần thể hoang, đặc biệt là khi chúng tái sinh sản thành công hơn các đồng loại tự nhiên. Ví dụ, điều có khả năng xảy ra là nếu thất thoát vào môi trường tự nhiên, cá hồi biến đổi gen, có gen được thiết kế để tăng trưởng nhanh có thể cạnh tranh để tìm thức ăn và giao phối thành công hơn cá hồi hoang dã, như vậy gây nguy hiểm cho quần thể hoang dã. Việc sử dụng cá biến đổi gen vô sinh và toàn cái có thể làm giảm sự giao phối giữa các quần thể tự nhiên và quần thể nuôi (Muir and Howard 2002), một vấn đề nảy sinh với việc sử dụng cá không biến đổi gen trong nuôi lồng lưới trên biển. Tính không sinh sản loại trừ khả năng lan truyền gen chuyển trong môi trường, nhưng không loại bỏ được tất cả tiềm năng hây hại sinh thái. Tam bội đơn tính (Monosex triploidy) là phương pháp tốt nhất hiện nay để làm mất khả năng sinh sản của cá và loài có vỏ, mặc dù các thủ tục xác minh tam bội mạnh mẽ là cần thiết (FAO/WHO 2003). Vi sinh vật GM. Chuyển gen từ vi khuẩn sang vi khuẩn trong đất đã được chứng thực trong một số hệ thống, ví dụ như đối với gen kháng kháng sinh, và chỉ có một số lượng rất hạn chế vi sinh vật GM được phép giải phóng (ví dụ như Pseudomonas and Rhizobium); chủ yếu là để khám phá sự lan truyền và phát triển của vi sinh vật trong tự nhiên. Đánh giá rủi ro trong lĩnh vực này gặp trở ngại do một số yếu tố, như do kiến thức còn hạn chế về các vi sinh vật trong môi trường (cho đến nay chỉ có gần 1% vi khuẩn trong đất được mô tả), sự hiện diện của các cơ chế chuyển giao tự nhiên giữa các vi sinh vật, và những khó khăn trong việc kiểm soát sự lan truyền của chúng. Các phương pháp mô tả đặc trưng khả năng thâm nhập môi trường cho đến nay vẫn chưa được chuẩn hóa. Phương pháp net-fitness (phù hợp thực) (Muir and Howard 2002) cung cấp một cách tiếp cận hệ thống và toàn diện dựa trên sự tiến hóa hiện đại và sinh học quần thể. Phương pháp này là một quy trình gồm hai bước: (1) đo các tính trạng thành phần khả dụng bao trùm toàn bộ vòng đời đối với động vật GM, động vật thông thường cùng chủng loại và những tạp giao giữa hai loại; (2) đưa các dữ liệu khả dụng từ bước 1 vào một mô hình mô phỏng để dự báo về số phận của gen chuyển qua nhiều thế hệ. Ở đây cần có sự xác nhận tính hợp lệ của các dự báo dựa trên phương pháp này. 4. Phát triển các hệ thống kiểm soát và an toàn đối với công nghệ sinh học thực phẩm Điều được thừa nhận rộng rãi là việc ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại có thể đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế, nhưng cũng liên quan đến những rủi ro tiềm tàng (UNECA 2002, CBD 2005). Do đó, tất cả các nước, dù là nhà phát triển hay người nhập khẩu ròng các sản phẩm có nguồn gốc công nghệ sinh học hiện đại, đều cần áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe con người và sự an toàn môi trường. Trên thực tế, nhiều chính phủ trên thế giới đang xúc tiến xây dựng các công cụ pháp 45 lý/hệ thống các quy định nhằm bảo vệ sức khỏe con người và an toàn môi trường. Tính hiệu quả của các biện pháp như vậy phụ thuộc vào năng lực của một quốc gia (cả về nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng) trong việc nhanh chóng thực hiện công tác đánh giá, quản lý và truyền thông rủi ro về từng sản phẩm mới của công nghệ sinh học hiện đại. Trong khi đánh giá và quản lý rủi ro có thể thực hiện trên cơ sở từng trường hợp cụ thể (case-by-case), các hoạt động truyền thông về rủi ro do các chính phủ thực hiện cần tuân theo quy trình thực hiện các quyết định. Kể từ những năm 1970, NC&PT trong lĩnh vực công nghệ sinh học đóng vai trò quan trọng đối với sự hợp tác phát triển. Xu hướng này được hỗ trợ bằng sự thông qua vào năm 1992 Chương trình Nghị sự 21 (UNDESA 1992) và gần đây hơn là Công ước về đa dạng sinh học (CBD 2005). Hai hiệp định này đều bao gồm các phần cụ thể về ứng dụng và sử dụng công nghệ sinh học trong các lĩnh vực kinh tế chính như nông nghiệp, công nghiệp và năng lượng. Để bổ sung thêm, nhiều cơ quan tài trợ, các tổ chức NGO, khu vực tư nhân và các chính phủ thuộc các nước công nghiệp hóa đã tập trung các chính sách và mục tiêu xây dựng năng lực của mình vào việc làm tối đa hóa ích lợi của công nghệ sinh học tại các nước đang phát triển thông qua chuyển giao và mở rộng ứng dụng công nghệ. Cơ sở dữ liệu về các xúc tiến xây dựng năng lực của Nhà khai báo an toàn sinh học của CBD (CBD Biosafety Clearing House) thể hiện các chiến lược nhằm mục tiêu hướng tới các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (WB 2000). Chương trình nghị sự 21 (UNDESA 1992) là một kế hoạch hành động toàn diện của các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, các chính phủ và các nhóm cộng đồng, được thực hiện trên phạm vi toàn cầu, tại các quốc gia và các địa phương trong tất cả các lĩnh vực nơi con người có thể gây gánh nặng đối với môi trường. Cách tiếp cận này nhằm vào một lĩnh vực cụ thể (phát triển công nghệ) nhưng đã không thành công trong việc phổ biến các kỹ năng và kiến thức cần thiết cho việc tiến hành các hoạt động liên quan như phát triển và thực hiện các khuôn khổ pháp lý quy định và an toàn thực phẩm. Các vấn đề an toàn liên quan đến bảo vệ môi trường và sức khỏe con người mang khía cạnh khác và yêu cầu chuyên môn khác. An toàn sinh học có xu hướng thuộc về trách nhiệm của cơ quan môi trường và nông nghiệp, trong khi cơ quan quản lý về an toàn thực phẩm thường trực thuộc Bộ y tế. Vì vậy các công cụ luật pháp để quản lý có thể khác. Ở cấp quốc tế, có 15 công cụ ràng buộc về mặt pháp lý và các điều lệ không ràng buộc về thực hành một số khía cạnh liên quan đến GMO, nhưng không có điều lệ nào tích hợp các quy định về công nghệ sinh học của tất cả các lĩnh vực. Sự gia tăng các quy định và quyền hạn ngành như vậy đã kéo căng năng lực cần thiết của các nước đang phát triển, và những thách thức hiện tại đối với việc triển khai một chính sách hoàn toàn nhất quán và một khuôn khổ luật pháp về công nghệ sinh học hiện đại (FAO 2002): Thách thức đối với các nước đang phát triển đó là đạt được sự nhất quán trong luật pháp quốc gia về cây trồng, vật nuôi, cá, cây rừng và các vi sinh vật, trong khi đáp 46 ứng các nghĩa vụ quốc tế và đảm bảo sự hài hòa. Một chương trình xây dựng năng lực sáng suốt được quyết định bởi khả năng tập trung vào sự phát triển con người để nhằm thúc đẩy kỹ năng và nguồn lực cần thiết để duy trì sự tiến bộ riêng. Một xúc tiến xây dựng năng lực cần hành động như công cụ hỗ trợ và là tác nhân xúc tác cho việc tự chủ và khai thác năng lực của đất nước để làm chủ sự phát triển riêng của đất nước trong sự hài hòa với môi trường thiên nhiên và với các yêu cầu hành động quốc gia bất kỳ khác, ví dụ như bền vững kinh tế chẳng hạn (ECDPM 2003). Các xúc tiến xây dựng năng lực cần được duy trì ngoài đời sống hoạt động, như một bộ phận tích hợp của chương trình phát triển và không nên coi đó chỉ là hoạt động thực hiện có một lần. Đổi lại, các nước đang phát triển cần tham gia vào và nắm quyền sở hữu một hoạt động và được khuyến khích để có trách nhiệm về sự phát triển riêng của mình. Sự phát triển kiến thức theo nhu cầu có khả năng được tiếp thu nếu nó phản ánh hiện trạng địa phương và có khả năng được áp dụng bởi xã hội. An toàn thực phẩm thu hút sự chú ý ngày càng tăng do những ảnh hưởng của nó đối với sức khỏe cộng đồng. Nói chung, các hệ thống kiểm soát thực phẩm tại các nước đang phát triển vẫn còn kém phát triển và kém tổ chức hơn so với ở các nước phát triển. Các yêu cầu năng lực tổng thể tại các nước này bao gồm: cơ sở hạ tầng cơ bản; chiến lược quản lý thực phẩm quốc gia; khuôn khổ luật pháp và quy định về thực phẩm; các dịch vụ thanh tra thực phẩm; các phòng thí nghiệm và thiết bị kiểm tra thực phẩm; và các hệ thống thực thi chất lượng thực phẩm và bảo đảm an toàn. Công tác an toàn thực phẩm mang nhiều khía cạnh, và nhiều điều luật về thực phẩm được ban hành thuộc các bộ khác nhau (WHO 2002). Tại nhiều nước, kiểm soát thực phẩm hiệu quả bị ảnh hưởng bởi sự tồn tại của phân mảng pháp luật, nhiều quyền tài phán và sự yếu kém trong các cơ chế theo dõi, giám sát, và thực thi. Luật an toàn thực phẩm liên quan đặc biệt đến an toàn thực phẩm GM cần được lồng ghép vào các bộ luật hiện hành về thực phẩm, trong đó cân nhắc đến các yêu cầu quản lý rủi ro đặc biệt. Để có thể đưa ra các quyết định am hiểu về an toàn GMO và thực phẩm GM, các chính phủ cần các nguồn lực đáng kể về con người và thể chế tuân theo các nguyên tắc cần thiết để đánh giá rủi ro đối với môi trường và thực phẩm dành cho người có nguồn gốc từ GMO. Các nước đang phát triển có kinh nghiệm còn hạn chế trong các lĩnh vực khoa học cần thiết, do các nhà công nghệ sinh học tại các nước này thường tập trung trong lĩnh vực nghiên cứu và hầu như không tham gia vào các cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách. Tại hầu hết các nước đang phát triển, cũng chính những nhà khoa học đó lại ngồi ở ghế thuộc Ủy ban an toàn thực phẩm quốc gia, và liên quan đến cả đánh giá rủi ro lẫn hoạch định chính sách. Trong kịch bản này tồn tại ba lỗ hổng, đó là: (a) khi chính các nhà phát triển lại là những người đánh giá rủi ro, nguy cơ xung đột lợi ích tăng thêm; (b) do hầu hết các thành viên của ủy ban an toàn sinh học quốc gia được tuyển chọn trên cơ sở tự nguyện, nên họ sẽ không dành quá nhiều thời gian 47 cho trách nhiệm này; và (c) do thành viên ủy ban an toàn sinh học quốc gia thường là luân phiên nên không bảo đảm được tính liên tục trong năng lực đạt được bằng kinh nghiệm. Trong khi nhiều nước phát triển đã thông qua các cơ chế quản lý công nghệ sinh học hiện đại, hầu hết các nước đang phát triển đều hoặc là trong quá trình phát triển khuôn khổ an toàn sinh học quốc gia hoặc là chỉ mới bắt đầu quá trình này. Cho đến nay, chỉ có trên 10 quốc gia đang phát triển đã thực hiện luật định về an toàn sinh học quốc gia (CBD 2005). Khoảng 20-30 quốc gia khác đang trong giai đoạn chuyển tiếp trong đó một số hoặc tất cả các bộ phận đang ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Một vài nước đang phát triển cho phép canh tác thương mại cây trồng có nguồn gốc từ công nghệ sinh học hiện đại có năng lực còn hạn chế trong thực hiện một khuôn khổ luật pháp. Các khuôn khổ luật pháp quốc gia về an toàn sinh học của các nước rất khác nhau phụ thuộc vào các lĩnh vực ưu tiên và cơ cấu thể chế. Ngoài ra, các điều kiện xã hội khác nhau phổ biến tại các nước gây khó khăn cho việc quyết định các hệ thống luật pháp thích hợp cần được thực thi bởi các nước đang phát triển. Mặc dù có sự đa dạng, một số cấu phần cần thiết và tạo nên cốt lõi của nhiều khuôn khổ luật pháp quy định của các quốc gia gồm:  Chính sách và chiến lược quốc gia;  Khuôn khổ luật pháp bao gồm các quy định và hướng dẫn;  Cơ chế đăng ký và cấp phép;  Hệ thống thực thi;  Hệ thống phổ biến thông tin. Động lực để thiết lập khuôn khổ luật pháp về an toàn sinh học là một yếu tố quan trọng trong việc quyết định quá trình phát triển. Trong một số trường hợp, các nhà khoa học đề cập đến mối quan tâm đến việc quản lý nghiên cứu địa phương, trong khi những khởi động khác có thể xuất phát từ các công ty đa quốc gia muốn tiếp tục được phép sản xuất hạt giống tại phía Nam bán cầu trong những tháng đang là mùa đông ở phương Bắc. Gần đây, việc nhập khẩu viện trợ thực phẩm đã dẫn đến hình thức quy định tại các nước đang đối mặt với khan hiếm lương thực. Nhiều nước đã xây dựng các hệ thống pháp luật đã phát triển và thực thi các hệ thống này từng bước một, thường là để đáp ứng nhu cầu trước mắt (Cohen 2001). Bước đi đầu tiên liên quan đến việc thiết lập các hướng dẫn tự nguyện trong quá trình phát triển về mặt cơ cấu của khuôn khổ pháp lý. Các hướng dẫn chỉ đạo ban đầu đề ra các nguyên tắc về an toàn thực hành trong phòng thí nghiệm, sau đó được điều chỉnh để đảm bảo an toàn môi trường đối với các khảo nghiệm trên thực địa. Lợi thế của hướng dẫn ở chỗ nó có thể được sửa đổi và đưa thêm vào các yêu cầu thông tin mới cho phù hợp với sự tiến bộ công nghệ, điều đó có thể thực hiện một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, hướng dẫn mang tính tình nguyện và sự tuân thủ không thể bắt buộc thực thi nếu không được hỗ trợ bởi luật pháp. 48 5. Dán nhãn thực phẩm biến đổi gen và sự lựa chọn của người tiêu dùng Việc thiết lập các chính sách ghi nhãn thực phẩm biến đổi gen nhằm đảm bảo rằng người tiêu dùng nhận được thông tin hữu ích cần thiết, các cơ quan quản lý phải giải quyết một loạt các vấn đề liên quan đến biến đổi gen. Đó là những vấn đề liên quan đến khoa học, y tế, môi trường, chính trị, văn hóa và kinh tế, cũng như các yêu cầu tuân thủ và thực thi. Nằm ở trọng tâm của tranh luận quốc tế về lĩnh vực này là hai cách ghi nhãn khác nhau, đó là: (a) yêu cầu truyền tải những thông tin liên quan đến sức khỏe (ví dụ như sự hiện diện của một chất gây dị ứng hoặc một thành phần đã bị thay đổi); và (b) một cơ chế truyền đạt thông tin về phương pháp sản xuất. Trong khi (a) về cơ bản được thừa nhận ở tất cả các khu vực, thì việc ghi nhãn theo phương án (b) chỉ được sử dụng ở một số nước. Mặc dù các cơ quan có thẩm quyền tại hầu hết các nước đều nhất trí rằng thực phẩm GM được cho phép lưu hành trên thị trường chỉ sau khi đã được đánh giá đầy đủ là an toàn như các sản phẩm truyền thống, các hệ thống quốc gia khác nhau phản ánh những quan điểm khác nhau liên quan đến việc sử dụng dán nhãn để truyền tải thông tin về phương pháp sản xuất, mà trong trường hợp này là công nghệ biến đổi gen. Điều đáng chú ý là cách ghi nhãn (b) có vẻ như được thực hiện chỉ liên quan chủ yếu đến thực phẩm GM, mặc dù có một số điểm tương tự với các hệ thống ghi nhãn thực phẩm được sản xuất theo phương pháp sản xuất hữu cơ. Các cơ quan quản lý quốc gia đã phát triển nhiều cách tiếp cận đối với việc ghi nhãn thực phẩm có chứa hoặc có nguồn gốc từ GMO. Hiện nay trên thế giới có 2 hướng xử lý khác nhau. Hướng buộc phải dán nhãn khi hàm lượng thành phần GM trên ngưỡng nhất định như Úc trên 1%, Nhật Bản trên 5%, Inđônêxia trên 5%, Ả Rập Xê-út trên 1%, Hàn Quốc trên 3%, Đài Loan trên 5%, Thái Lan trên 5%, Châu Âu trên 0,9%, Braxin trên 1%. Hướng chấp thuận không phải dán nhãn gồm Hoa Kỳ, Canada, Philipin, Nam Phi, Achentina. Các loại thực phẩm được tuyên bố là không biến đổi gen cần được phân tích kỹ lưỡng để chứng tỏ rằng không liên quan đến vật liệu hay quy trình GM. Trong quy định ghi nhãn thực phẩm GM, có hai cách tiếp cận mở rộng gồm:  Ghi nhãn tình nguyện, bị chi phối bởi các tác động thị trường, không có yêu cầu pháp lý để thông báo về việc sử dụng GMO trong sản xuất thực phẩm.  Ghi nhãn bắt buộc, trong đó yêu cầu thông báo về các đặc điểm của thực phẩm có sử dụng công nghệ di truyền (an toàn, lành mạnh và/hoặc quy trình liên quan), hoặc thông báo về việc sử dụng công nghệ gen trong sản xuất thực phẩm. Hiện nay đã có trên 30 quốc gia trên thế giới đã thông qua hoặc có kế hoạch ban hành các tiêu chuẩn ghi nhãn bắt buộc. Các tiêu chuẩn này thường yêu cầu thông báo về các đặc điểm an toàn và sức khỏe của mặt hàng GM, và xác nhận việc sử dụng công nghệ gen trong sản xuất thực phẩm đó. Yêu cầu thường xuyên nhất đã được pháp lý hóa đó là thuật ngữ "biến đổi gen" được sử dụng kết hợp với tên thực phẩm hay các 49 thành phần có liên quan. Bảng 4 : Một số ví dụ về quy định ghi nhãn thực phẩm GM Các phần chính trong quy định ghi nhãn Tên nước Quy định ghi nhãn đầy đủ bắt buộc Ghi nhãn phương pháp sản xuất. Bắt buộc ghi nhãn đối với tất cả các thực phẩm có nguồn gốc hoặc có chứa các thành phần có nguồn gốc từ sinh vật được sản xuất bằng công nghệ biến đổi gen. Ghi nhãn thành phần thực phẩm. Bắt buộc ghi nhãn đối với tất cả các thực phẩm và thành phần GM có chứa ADN và/hoặc protein mới lạ trong thành phẩm cuối cùng. Ghi nhãn thành phần thực phẩm. Bắt buộc ghi nhãn các mặt hàng thực phẩm chỉ định có chứa thực phẩm hay các thành phần GM là thành phần chính của thực phẩm chỉ khi có ADN và/hoặc protein lạ được đưa vào thành phẩm cuối cùng. EU Úc, Niu Zilan, LB Nga Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia Kết hợp giữa quy định và tự nguyện ghi nhãn Ghi nhãn tương đương. Chỉ bắt buộc ghi nhãn thực phẩm GM khi sản phẩm khác biệt đáng kể so với cùng loại thông thường. Ghi nhãn tự nguyện. Chế độ tự nguyện (khi thực phẩm GM tương tự như đồng loại thông thường) dựa vào các quy định chung của luật thương mại công bằng liên quan đến sai phạm, gây hiểu lầm và dán nhãn hay quảng cáo lừa đảo và một tiêu chuẩn ngành hỗ trợ thực thi. Canada, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hồng Kong, Nam Phi Canada, Hoa Kỳ Không quy định Không áp dụng quy định. Có thể cho phép ghi nhãn tự nguyện nhưng không có các hướng dẫn hay tiêu chuẩn kỹ thuật. Nhiều nước đang phát triển Nguồn: FSANZ (2003) Phạm vi quy định (hay kiến nghị) ghi nhãn thực phẩm GM thực tế bao gồm:  Ghi nhãn tự nguyện chỉ ra một sản phẩm có thể chứa GMO hay các sản phẩm có nguồn gốc từ GMO (được áp dụng tại Canada và Nam Phi);  Ghi nhãn bắt buộc đối với sản phẩm có nguồn gốc từ các phương pháp công nghệ sinh học hiện đại hoặc có chứa các sản phẩm từ GMO (áp dụng tại EU, Úc, Nhật Bản và Niu Zilan);  Quy định thực hiện ghi nhãn khi một sản phẩm có khả năng chứa các thành phần có nguồn gốc từ biến đổi gen (EU);  Ghi nhãn sản phẩm để thông báo với người tiêu dùng rằng các phương pháp sản xuất không có công đoạn nào liên quan đến biến đổi gen (còn gọi là "thông báo phủ định"). Đối với một số quốc gia, lý do ghi nhãn thực phẩm biến đổi gen (và thực phẩm nói chung) là để cung cấp cho người tiêu dùng thông tin về độ an toàn của các thành phần liên quan. Tại Hoa Kỳ, ghi nhãn thực phẩm thường không được coi là bắt buộc đối với các lý do không an toàn. Tuy nhiên, tại các nước khác các nhóm người tiêu dùng chỉ ra 50 quyền được thông báo của người tiêu dùng, cho rằng việc ghi nhãn thực phẩm GM là để cho phép người tiêu dùng có quyết định lựa chọn những sản phẩm theo sở thích của mình. Các phương thức và kiến nghị khác nhau phản ánh nền văn hóa và xã hội của các quốc gia, do đó sự hài hòa quốc tế là điều xem ra khó có thể đạt được. Một số nhóm cũng nhấn mạnh rằng việc ghi nhãn không gánh tránh nhiệm thay cho các cơ quan thẩm quyền trong việc đánh giá rủi ro và ra quyết định. Một số quy định ghi nhãn yêu cầu sử dụng các phương pháp phân tích để phát hiện protein hay ADN tái tổ hợp như một tiêu chuẩn dán nhãn. Các phương pháp phân tích như vậy, đặc biệt là phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR) rất nhạy để có thể phát hiện sự lây nhiễm biên ADN tái tổ hợp, vì vậy giới hạn ngưỡng về lây nhiễm không mong muốn được áp dụng. Kết luận Thực phẩm GM có khả năng giải quyết phần lớn các vấn đề về đói kém và suy dinh dưỡng trên thế giới. Đồng thời nó có thể bảo vệ, giừ gìn môi trường thông qua nâng cao sản lượng của cây trồng và giảm bớt sự phụ thuộc vào thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ hóa học. Tuy nhiên, thực phẩm GM cũng đặt ra nhiều thách thức cho chính phủ các nước, đặc biệt là về mặt kiểm định an toàn, chính sách quốc tế và dán nhãn thực phẩm. Công nghệ biến đổi gen mang lại nguồn lợi ích khổng lồ, là xu hướng không thể tránh khỏi của tương lai, nhưng việc ứng dụng cũng cần hết sức thận trọng để không gây ra những tác hại ngoài ý muốn cho sức khỏe người tiêu dùng lẫn môi trường. Thực phẩm GM có mặt trên các thị trường quốc tế hiện nay trước khi được đưa ra thị trường đều phải trải qua đánh giá rủi ro, so sánh với các sản phẩm cùng loại truyền thống để đảm bảo không gây bất cứ nguy hiểm nào đối với sức khỏe con người. Các tổ chức và quốc gia ủng hộ giống cây trồng GM theo nguyên tắc tuân thủ luật an toàn sinh học của mỗi quốc gia đối với sinh vật GM cũng như các định ước quốc tế có liên quan đến sinh vật GM như CODEX (Codex Alimentarius Commission), Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học để đảm bảo việc sử dụng giống cây trồng GM an toàn. Việc xét phê chuẩn một giống cây trồng GM cụ thể có được trồng trong sản xuất hay không phải căn cứ vào kết quả đánh giá tính toán đối với môi trường, sức khỏe con người và động vật của giống đó. Các mối nguy cơ tiềm ẩn liên quan đến GMO và thực phẩm GM cần được đánh giá trên cơ sở từng trường hợp cụ thể, có tính đến các đặc điểm của GMO hay thực phẩm GM và những khác biệt có thể xảy ra ở môi trường nhận. Đối với lĩnh vực có rủi ro tiềm tàng phát sinh do lai chéo hay lây nhiễm từ cây trồng GM, cần nghiên cứu những hậu quả liên quan đối với các cây trồng cụ thể và cần có các chiến lược quản lý rủi ro. Hướng dẫn đánh giá rủi ro theo quy định của CAC được cho là phù hợp với việc đánh giá an toàn thực phẩm GM hiện nay trên thị trường quốc tế. Hướng dẫn đánh giá rủi ro môi trường đã được phát triển theo Công ước về Đa dạng sinh học. Như đã được nhấn mạnh trong các Nguyên tắc của Codex về phân tích đánh giá rủi 51 ro đối với thực phẩm có nguồn gốc từ công nghệ sinh học hiện đại (CAC 2003), việc đánh giá khả năng thực phẩm GM có thể gây ra các phản ứng mẫn cảm cần phải là một phần của đánh giá rủi ro đối với thực phẩm GM. Phần này bao gồm một phân tích tổng hợp về các protein biểu hiện và đánh giá các đặc tính cụ thể của thực phẩm GM liên quan đến khả năng gây ra các phản ứng mẫn cảm. Sự hiểu biết tốt hơn về tác động và mối tương tác của thực phẩm với hệ miễn dịch là cần thiết để giải thích về khả năng và bằng cách nào các loại thực phẩm thông thường và GM gây ra các vấn đề sức khỏe và an toàn. Ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại trong thực phẩm và nông nghiệp có khả năng làm giảm một số vấn đề liên quan đến an ninh lương thực. Tuy nhiên việc ứng dụng thành công còn phụ thuộc vào sự liên quan đến người nghèo, việc giải quyết những tranh chấp về sở hữu trí tuệ và các quy định pháp luật về kinh tế, thương mại, chính trị quốc gia và quốc tế. Nhiều nước đang phát triển sẽ cần phải vượt qua một số trở ngại trước khi có thể tận dụng đầy đủ tiềm năng của công nghệ sinh học hiện đại có thể mang lại. Chương trình nghiên cứu ở các nước đang phát triển nên tập trung vào việc mở rộng cơ sở giống cây trồng, nâng cao năng suất và giá trị dinh dưỡng của các loại cây trồng có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng nông thôn. Tính đến năng lực dự trữ quốc gia và hình thành các lĩnh vực nghiên cứu ưu tiên phù hợp với các mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững sẽ giúp đưa cơ hội thực tế thành triển vọng đối với cả các phương pháp nhân giống thông thường lẫn công nghệ sinh học hiện đại. Công nghệ định hướng nhu cầu là một công cụ tăng trưởng và phát triển mà khu vực tư nhân khó có thể đáp ứng bởi các cây trồng như vậy có giá trị thương mại thấp. Vì vậy chính phủ nên gánh trách nhiệm đầu tư vào những lĩnh vực nghiên cứu công có vai trò quan trọng trong việc làm giảm khoảng cách về lương thực giữa người giàu và người nghèo. Liên quan đến việc ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại, và dựa trên các định hướng và mục tiêu của mình, các quốc gia đang phát triển có những lựa chọn sau: (1) Phó thác sự phát triển của ngành này cho khu vực tư nhân; (2) Đẩy mạnh năng lực NC&PT quốc gia; và (3) Hình thành một môi trường thuận lợi để dựa vào đầu tư khu vực tư nhân trong các hợp tác công-tư. Việc các nước đang phát triển không tham gia vào thương mại quốc tế sẽ có tác động tiêu cực đến việc thông qua và áp dụng các công nghệ mới nổi, trong đó có công nghệ sinh học hiện đại. Vì vậy việc cân nhắc kỹ lưỡng tất cả các vấn đề có liên quan đến việc ứng dụng một công nghệ cụ thể có ý nghĩa quyết định đối với việc ra quyết định của các chính phủ thuộc các nước đang phát triển. Việc sử dụng các công nghệ mới trong lĩnh vực thực phẩm và nông nghiệp đã trở nên mang tính chính trị, cho nên các quy định thể chế cần đảm bảo rằng việc triển khai nghiên cứu công nghệ là để nhằm mục đích nâng cao dinh dưỡng và an ninh lương thực. Chính sách và luật pháp như vậy không thể phát triển trong sự cách ly và độc lập với các nghĩa vụ ràng buộc 52 quốc tế và quan điểm công chúng. Việt Nam có chú trương đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học và xem đây là một công nghệ mũi nhọn phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 04 tháng 3 năm 2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước). Quy định pháp luật về ứng dụng sinh vật GM bao gồm giống cây trồng GM đã được thể hiện trong Luật Đa dạng sinh học năm 2008 (Điều 65, 66, 67, 68) và Luật An toàn thực phẩm năm 2010 (Điều 10, 15, 44). Đối với việc phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 14/2008/QĐ-TTg ngày 22/01/2008 phê duyệt “Kế hoạch tổng thể phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở Việt Nam đến năm 2020”. Riêng lĩnh vực nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thủ tướng đã phê duyệt “Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020” tại Quyết định số 11/2006/QĐ- TTg ngày 12/01/2006. Tại hai Quyết định trên, phát triển và ứng dụng cây trồng GM ở Việt Nam được xác định là nhiệm vụ quan trọng của chương trình công nghệ sinh học nông nghiệp quốc gia. Cơ sở luật pháp để một giống cây trồng GM được phép sử dụng ở Việt Nam được quy định bởi Nghị định số 69/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật GM, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật GM. Nghị định này đã quy định rất chi tiết về việc khảo nghiệm đánh giá an toàn sinh học đến sử dụng cây trồng GM. Quy định chi tiết về trình tự, nội dung khảo nghiệm đánh giá an toàn sinh học đối với môi trường đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành tại Thông tư số 69/2009/TT-BNNPTNT ngày 27 tháng 10 năm 2009 của về quy định khảo nghiệm đánh giá rủi ro đối với đa dạng sinh học và môi trường của cây trồng GM. Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ cho phép khảo nghiệm 3 loại cây trồng GM là ngô, đậu tương và bông vải (ba loại cây mà thế giới đang trồng nhiều nhất). Thực hiện chỉ đạo này, từ năm 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã bắt đầu thực hiện khảo nghiệm 7 giống ngô GM, trong đó 3 giống của công ty TNHH Syngenta, 3 giống của công ty TNHH Dekalb Việt Nam (công ty Monsanto) và 1 giống của công ty Pioneer Hibred Việt Nam. Việc khảo nghiệm được thực hiện theo các quy định pháp lý hiện hành của Việt Nam, đồng thời đảm bảo các yêu cầu chung của quốc tế về khảo nghiệm đánh giá rủi ro cây trồng GM. Đơn vị chủ trì khảo nghiệm được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ định là Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Bảo vệ thực vật là những cơ quan nghiên cứu triển khai có kinh nghiệm trong lĩnh vực công nghệ sinh học, các đơn vị này thực hiện nhiệm vụ khảo nghiệm độc lập, dưới sự giám sát và kiểm tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Các giống ngô GM đã qua 2 bước khảo nghiệm đồng ruộng diện hẹp và diện rộng 53 để đánh giá rủi ro đối với đa dạng sinh học và môi trường trên đồng ruộng. Tiếp theo, các đơn vị khảo nghiệm sẽ tổng hợp báo cáo chi tiết kết quả khảo nghiệm để trình Hội đồng an toàn sinh học Bộ xem xét, đánh giá tư vấn trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận kết quả khảo nghiệm nếu đạt yêu cầu. Sau đó, để các giống ngô GM được phép trồng trong sản xuất còn phải qua tiếp các bước được quy định tại Nghị định 69 gồm: a) Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận an toàn sinh học đối với các giống ngô GM đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận kết quả khảo nghiệm (căn cứ kết quả khảo nghiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). b) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp Giấy xác nhận sinh vật GM đủ điều kiện làm thức ăn chăn nuôi (điều kiện là giống đó đã có ít nhất 5 nước phát triển cho phép sử dụng làm thực phẩm và hoặc thức ăn chăn nuôi). c) Bộ Y tế cấp Giấy xác nhận sinh vật GM đủ điều kiện làm thức ăn chăn nuôi sử dụng làm thực phẩm (điều kiện là giống đó đã có ít nhất 5 nước phát triển cho phép sử dụng làm thực phẩm). d) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống cây trồng mới được phép sản xuất, kinh doanh (thông qua các bước khảo nghiệm quốc gia về đặc tính nông học và sản xuất thử đối với giống mới). Như vậy theo quy trình trên, từ việc khảo nghiệm giống cây trồng GM đến khi được phép sử dụng trong sản xuất phải trải qua nhiều bước rất chặt chẽ và được quy định của luật pháp. Việc quy định một giống cây trồng GM được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi hoặc làm thực phẩm phải là giống đã được 5 nước phát triển trên thế giới cho phép sử dụng. Việc kiểm tra, đánh giá sau khi một giống cây trồng GM được đưa vào sử dụng vẫn phải được thực hiện. Hướng đi lâu dài đối với Việt Nam là nâng cao tiềm lực khoa học quốc gia về lĩnh vực công nghệ sinh học để các tổ chức khoa học và các nhà khoa học trong nước làm chủ được công nghệ và tự chọn tạo được giống cây trồng GM của Việt Nam. Hiện nay, trong Chương trình Công nghệ sinh học nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho triển khai các đề tài nghiên cứu về tạo chọn giống cây trồng GM cũng như cử nhiều cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài về công nghệ gen. Nghiên cứu sinh vật GM ở Việt Nam tập trung vào phân lập, tuyển chọn các gen quý có giá trị ứng dụng cao tiến tới sử dụng để chuyển vào sinh vật nhận nhằm tạo nên những giống lý tưởng. Một số gen có giá trị nông nghiệp đã được tuyển chọn, bao gồm gen chịu hạn, lạnh, kháng bệnh ở lúa, gen cry và vip mã hóa các protein độc tố có hoạt tính diệt côn trùng của vi khuẩn Bt, gen mã hóa protein bất hoạt hóa ribosome ở cây mướp đắng và gen mã hóa -amylase của cây đậu cô ve có hoạt tính diệt côn trùng; gen mã hóa protein vỏ của virus gây bệnh đốm vòng ở cây đu đủ, gen mã hóa kháng nguyên vỏ của các chúng loại virus dại... Trên cơ sở đó, các nghiên cứu chuyển gen có giá trị vào sinh vật nói chung và cây trồng nói riêng được tiến hành trên nhiều đối 54 tượng với nhiều nguồn gen khác nhau. Đối với thực vật, gen Xa21 kháng bệnh bạc lá do vi khuẩn ở lúa gây ra và gen cry kháng côn trùng đã được chuyển vào lúa; gen kháng virus đốm vòng được chuyển vào cây đu đủ; gen cry và gen chịu hạn được chuyển vào cây bông, gen cry và gen bar kháng thuốc diệt cỏ được chuyển vào các cây thuốc lá, đậu xanh, cải, cà tím, cây bông, cây ngô. Việc đưa ngô biến đổi gen vào sản xuất thương mại tại Việt Nam được dự kiến triển khai vào năm 2012 sau hai đợt khảo nghiệm trên diện rộng. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, nhiều ý kiến trong nước cho rằng, việc triển khai cây trồng biến đổi gen cần phải nghiên cứu kỹ và có những bước đi thận trọng. Đến 2013, Bộ NN&PTNT đã công nhận kết quả khảo nghiệm 5 giống ngô biến đổi gen để trình Bộ Tài nguyên - Môi trường cấp phép an toàn sinh học. Tuy nhiên, cho tới hiện tại, Bộ NN&PTNN cũng chỉ mới triển khai một số mô hình trình diễn trồng bắp biến đổi gen tại 6 tỉnh thành với quy mô 1,5-2ha/giống/mô hình. Theo dự kiến, phải tới năm 2015, ngô biến đổi gen mới được đưa vào trồng đại trà. Trong khi đó, nhiều ý kiến vẫn tỏ ra nghi ngại về ảnh hưởng của cây trồng biến đổi gen với sức khỏe và môi trường một khi được triển khai đại trà tại Việt Nam. Đối với Việt Nam lợi ích từ cây trồng biến đổi gen đã rõ ràng, đảm bảo an ninh lương thực là một yêu cầu cấp bách trước dân số ngày một tăng. Hơn nữa công nghệ gen là sản phẩm của công nghệ tiên tiến và hiệu quả, người nông dân được hưởng lợi nhiều mặt (năng suất lao động, sức khỏe, môi trường ... ). Bước đầu có thể nhìn nhận cây trồng GM không gây hại. Tuy nhiên chúng ta cũng phải đề phòng những nguy cơ rủi ro do cây trồng GM gây ra, vì vậy cần đánh giá đúng về những nguy cơ đó và có biện pháp đề phòng thích hợp. Dưới đây là một số khuyến nghị về phát triển cây trồng GM ở Việt Nam: - Tạo hành lang pháp lý đối với các sản phẩm biến đổi gen là một vấn đề cấp thiết hiện nay, nhằm tạo cơ sở phục vụ cho sự quản lý của nhà nước đồng thời thúc đẩy hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ sản xuất an toàn để làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi trong ngành nông nghiệp Việt Nam. - Nhà nước có chính sách phù hợp để khuyến khích nghiên cứu và ứng dụng cây trồng GM. Điều này góp phần đảm bảo an toàn thực phẩm và tạo điều kiện cho công nghệ sinh học phát triển, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu cây trồng và bước đầu thực hiện đề tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với thực hiện đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trong đó giảm dần sự phụ thuộc vào nhập khẩu của một số loại cây trồng như ngô, đậu tương. - Tiếp tục có nhiều nghiên cứu sâu hơn về sinh vật GM. Triển khai thử nghiệm ở quy mô rộng hơn về diện tích, phong phú hơn về chủng loại giống cây trồng GM để đánh giá đúng tiềm năng và những nguy cơ có thể xảy ra - Tiếp nhận công nghệ biến đổi gen và mở rộng diện tích trồng GM ở Việt Nam cần cân nhắc rất cẩn thận, đầu tư nghiên cứu toàn diện để phát hiện đầy đủ lợi ích và hiểm họa. Lựa chọn phương pháp tiếp cận thông minh, tuần tự và thận trọng, cần có 55 thời gian để nghiên cứu phát hiện đầy đủ hơn những hiểm họa tiềm ẩn là mặt trái của công nghệ, đảm bảo cho nền nông nghiệp nước nhà an toàn bền vững và không bị lệ thuộc. Trước mắt, nên tập trung nội lực nghiên cứu phát triển các cây lương thực, thực phẩm có lợi thế, đồng thời tập trung đầu tư để nâng cao giá trị xuất khẩu của lúa gạo, cà phê, rau, hoa, quả, thủy sản...bù cho việc nhập khẩu ngô, đậu tương làm thức ăn chăn nuôi và bông cho công nghiệp dệt. Đầu tư nghiên cứu tạo giống hoặc nhập giống GM dùng làm nhiên liệu, để sản xuất xăng sinh học hoặc để trồng rừng làm nguyên liệu gỗ, giấy, cao su nhưng phải đảm bảo các quy định về an toàn sinh học, để không ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và sinh vật. - Với những hiểm họa đã được cảnh báo qua các nghiên cứu quốc tế, Việt nam cần lựa chọn đối tượng cây trồng phù hợp, đối với những giống cây dùng trong chuỗi thực phẩm, trước mắt chỉ nên nghiên cứu giải quyết công nghệ gen trong phòng thí nghiệm cho đến khi có những kết quả nghiên cứu toàn diện chắc chắn về độ an toàn. Khi các nhà làm công nghệ sinh học Việt Nam hoàn toàn chủ động tạo ra được giống GM phục vụ đại trà đáp ứng được yêu cầu sản xuất thì khảo nghiệm để phát triển. - Những gống GM cho hạt, chất bột hay tinh dầu để sản xuất xăng sinh học hoặc những giống cây rừng để trồng rừng phòng hộ, làm nguyên liệu gỗ, giấy, cao su, làm nhiên liệu có thể nghiên cứu biến đổi gen vì nó không ảnh hưởng đến hệ thống sống của con người, vì lương thực hay thực phẩm biến đổi gen sẽ rất khó được chấp nhận khi mức sống cùng với sự hiểu biết của người dân ngày càng nâng cao. Với khả năng tạo ra những giống cây trồng mới có giá trị kinh tế cao, công nghệ tạo giống GM cũng như các giống GM đã được trồng ở nhiều nơi trên thế giới có vai trò không thể phủ nhận. Tuy vậy vẫn còn tiềm ẩn những hiểm hoạ chưa được làm sáng tỏ. Để giải quyết những vấn đề này thì những kết luận thu được phải dựa trên những thông tin khách quan đáng tin cậy, có cơ sở khoa học, có đủ thời gian cần thiết để kiểm chứng. Vì tầm quan trọng của lương thực thực phẩm cho con người, nên các chính sách liên quan tới cây trồng GM cần phải dựa trên những cuộc tranh luận cởi mở và trung thực có sự tham gia của mọi thành phần trong xã hội và cần có các chương trình truyền thông phổ biến sâu rộng cho người dân hiểu đúng về cây trồng GM. Biên soạn: Đặng Bảo Hà Nguyễn Phương Dung 56 Tài liệu tham khảo 1. Modern food biotechnology, human health and development: an evidence-based study. Food Safety Department. WHO, 2005. 2. Clive James: Global Status of Commercialized Biotech/GM Crops: 2013. ISAAA. 3. Graham Brookes, Peter Barfoot: GM crops: global socio-economic and environmental impacts 1996-2011. PG Economics Ltd, UK. 4/2013. 4. Charu Verma et al.: A Review on Impacts of Genetically Modified Food on Human Health. The Open Nutraceuticals Journal, 2011. 5. FAO: Biotechnologies for agricultural development. (www.fao.org/docrep/014/ i2300e/i2300e00.htm) 6. Fred Gould, Michael B. Cohen: Sustainable Use of Genetically Modified Crops in Developing Countries. Agricultural Biotechnology and the Poor. 2002. 7. The use of genetically modified crops in developing countries. Nuffield council on Bioethics, 2003. 8. Deborah B. Whitman: Genetically Modified Foods: Harmful or Helpful? 4/2002. 9. Sven-Erik Jacobsen et al.: Feeding the world: genetically modified crops versus agricultural biodiversity. INRA and Springer-Verlag France 2013. 10. Magdalena Kropiwnicka: Biotechnology and food security in developing countries. Journal on Science and World Affairs, Vol. 1, No. 1, 2005. 11. Assuring food safety and quality: guidelines for strengthening national food control systems. FAO/WHO, 2003. 12. CAC (Codex Alimentarius Commission). Principles for the risk analysis of food derived from modern biotechnology. Food and Agriculture Organization of the United Nations/World Health Organization, Rome. CAC/GL 44-2003. 13. Biosafety Clearing House. National laws, regulations and guidelines. CBD (Convention on Biological Diversity), 2005. 14. Thông tư 72/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về danh mục loài cây trồng biến đổi gen được phép khảo nghiệm đánh giá rủi ro. 17/11/2009. 15. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, công văn số 2940/BNN-VP: Cây trồng biến đổi gen. 11/10/2011.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftai_lieu_cong_nghe_sinh_hoc_thuc_pham_hien_dai_loi_ich_va_ng.pdf
Tài liệu liên quan