Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
và nhận thức
Quản trị
Hình thành các phương pháp quản lý riêng
cho CNNN: phương pháp quản lý đa cơ
quan từ dưới lên, đánh giá lợi ích đa bên,
phát triển kịch bản
Đặt ra các nguyên tắc và tổ chức mới để
quản lý rủi ro đối với các thế hệ sản phẩm
và quy trình CNNN mới có sự gia tăng về
tính phức tạp, động lực, nội dung sinh học
và tính không chắc chắn.
Hình thành cộng đồng chuyên gia và tổ
chức quốc tế, trong đó có cộng đồng vì môi
trường, sức khỏe và an toàn của CNNN
(EHS) và ELSI
Chuẩn bị năng lực pháp lý, kiến thức và
con người tập trung vào việc sử dụng rộng
rãi CNNN vào năm 2020
Phát triển về thuật ngữ, sáng chế, tiêu chuẩn
và các tài liệu chuẩn
Tạo ra các tài liệu tham khảo được quốc tế
công nhận, thuật ngữ, chứng chỉ vật liệu, và
các tiêu chuẩn đo lường cho vật liệu nano
Tạo ra các chương trình đầu tư liên ngành,
các lĩnh vực ứng dụng và các cơ quan tài
trợ
Thể chế hóa các chương trình tài trợ cho
nghiên cứu, giáo dục và chế tạo CNNN,
EHS và ELSI công nghệ nano, có thể áp
dụng từ các cấu trúc nano thụ động đến các
hệ thống nano chủ động
Thành lập mạng lưới "CNNN trong Xã hội"
với tài trợ tương đương với các dự án khoa
học cơ bản
Thể chế hóa sự lồng ghép ban đầu những
chương trình liên quan xã hội với các
chương trình khoa học cơ bản và của các
cơ quan nghiên cứu, sản xuất và quản lý
Hình thành ngành tin học nano
(nanoinformatics) là một lĩnh vực mới cho
thông tin liên lạc, thiết kế, chế tạo, và y tế
trong CNNN
Phát triển mạng lưới quốc gia và quốc tế về
tin học nano
Phát triển "cách tiếp cận kịch bản" để cảnh
báo và quản lý công nghệ nano
Tăng các cơ chế tài trợ quốc tế cho các lĩnh
vực CNNN để sử dụng và lợi ích chung sao
cho CNNN trở thành hoạt động kinh tế-xã
hội ngày càng tăng
Khởi xướng các chương trình tài trợ cho
nghiên cứu cơ bản phục vụ công nghiệp với
các ngành công nghiệp dùng Ủy ban hợp
tác vì tiến bộ CNNN
Tích hợp khám phá và các chương trình đổi
mới vào cơ chế đối tác công-tư, trong đó
các cơ sở nghiên cứu, công nghiệp, nhà
kinh tế, và nhà quản lý tham gia ở tất cả
các giai đoạn của quá trình đổi mới
48 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tài liệu Định hướng nghiên cứu công nghệ Nano đến năm 2020 nhằm giải quyết các nhu cầu xã hội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
mới để phổ biến cho công chúng, về
nhận thức của công chúng và sự tham gia vào NC&PT công nghệ nano, đột phá các rào cản
về giới, thu nhập và sắc tộc. Đây là một thách thức lớn trong 10 năm tới.
• Thể chế hóa - thiết lập các tổ chức thường trực và các chương trình để tài trợ và
quản lý các hoạt động về công nghệ nano, trong NC&PT, đào tạo, chế tạo, y học, môi
trường, sức khỏe và an toàn, các vấn đề liên quan đến đạo đức, pháp luật và xã hội và
các chương trình quốc tế về công nghệ nano. Các hợp phần quan trọng là các chương
trình từ dưới lên, có biện pháp khuyến khích cho công tác nghiên cứu, đào tạo và sự
tham gia của công chúng.
3. Xếp hạng các quốc gia về công nghệ nano
Sự phát triển công nghệ nano trên phạm vi toàn thế giới là không đồng đều. Các chính
phủ hỗ trợ cho công nghệ nano với các mức độ khác nhau, lợi ích doanh nghiệp và khả
năng trụ vững về kinh tế có thể thúc đẩy nhanh và cũng có thể gây cản trở sự phát triển và
thương mại hóa công nghệ nano. Các chính phủ và các công ty đều dựa vào thế mạnh của
các quốc gia khác để bổ sung cho các hoạt động và tri thức chuyên môn riêng của mình.
Nghiên cứu Lux Research được tiến hành nhằm đánh giá sự phát triển công nghệ nano trên
phạm vi thế giới tại 19 quốc gia bằng cách đánh giá thành tích của họ theo hai khía cạnh:
đổi mới sáng tạo công nghệ nano và phát triển công nghệ.
- Hoạt động công nghệ nano, đo lường khối lượng tuyệt đối về phát triển công
nghệ nano. Yếu tố này xem xét năng lực và động cơ nguồn lực của một quốc gia về
đổi mới sáng tạo công nghệ nano, dựa trên 8 thông số đo (bảng 5). Các thông số này
được sử dụng để đánh giá Hoạt động công nghệ nano và so sánh dựa trên cơ sở giá trị
tuyệt đối, điều đó có nghĩa là các quốc gia nhỏ hơn thường có thứ hạng thấp hơn.
Bảng 5: Các thông số đo phản ánh hoạt động công nghệ nano
Hạng mục Tỷ
trọng
điểm số
Mô tả Nội dung
Xúc tiến
công nghệ
nano
15% Đánh giá định tính về hiệu quả
và phối hợp các xúc tiến công
nghệ nano ở các cấp quốc gia,
khu vực và địa phương trong
những năm gần đây
Cho thấy mức độ lên kế
hoạch và cảnh báo đối với
sự phát triển công nghệ
nano
29
Trung tâm
công nghệ
nano
15% Đánh giá số lượng và chất
lượng của các phương tiện công
nghệ nano của chính phủ và
trường đại học với sự chú trọng
vào cả NC&PT và thương mại
hóa trong những năm gần đây
Cho thấy thế mạnh của cơ
sở hạ tầng dùng để hỗ trợ
NC&PT công nghệ nano.
Tài trợ chính
phủ
10% Khối lượng tài trợ ở cấp khu
vực và quốc gia phân bổ riêng
cho công nghệ nano trong
những năm gần đây tính theo
USD ppp
Cho thấy sự sẵn sàng và
năng lực của chính phủ
đối với việc thúc đẩy đổi
mới sáng tạo công nghệ
nano và phát triển sản
phẩm
Vốn rủi ro 10% Đánh giá định tính sự sẵn có
của nguồn vốn rủi ro để cấp
kinh phí cho các dự án mạo
hiểm mới, bao gồm vốn mạo
hiểm, trợ cấp chính phủ và các
khoản cho vay trợ cấp
Đánh giá sự hỗ trợ đối với
các doanh nghiệp thương
mại hóa công nghệ nano
để có thể vượt qua giai
đoạn "thung lũng chết":
Chi tiêu
doanh
nghiệp
10% Ước tính chi tiêu cho NC&PT
công nghệ nano của các doanh
nghiệp theo đơn vị USD ppp
Cho thấy sự sẵn sàng và
năng lực của ngành công
nghiệp trong thúc đẩy đổi
mới sáng tạo công nghệ
nano và phát triển sản
phẩm
Công trình
công bố
công nghệ
nano
15% Số các bài báo về công nghệ
nano trên các tạp chí khoa học
xuất bản quốc tế
Đánh giá hoạt động
nghiên cứu công nghệ
nano và nguyên liệu thô
cho đổi mới sáng tạo
Patent công
nghệ nano
15% Số các bằng sáng chế công
nghệ nano từ một quốc gia
được công bố toàn cầu
Chỉ số về số lượng các
công nghệ có giá trị và dự
định thương mại hóa
Các công ty
hoạt động
10% Đánh giá định tính về thế mạnh
và số các công ty hoạt động
trong lĩnh vực công nghệ nano,
bao gồm doanh nghiệp lớn, vừa
và nhỏ, và mới khởi sự
Cho thấy khối lượng hoạt
động công nghệ nano
thương mại
30
- Thế mạnh phát triển công nghệ, là phép đo năng lực thương mại hóa công nghệ.
Yếu tố này đánh giá năng lực của một quốc gia phát triển nền kinh tế thông qua đổi
mới sáng tạo công nghệ, không chỉ riêng về công nghệ nano, bằng cách xem xét cường
độ công nghệ liên quan của nền kinh tế, được tính theo 6 thông số (bảng 6). Các thông
số này thực chất không liên quan đến riêng công nghệ nano, nhưng chỉ tiêu Thế mạnh
phát triển công nghệ được xác định theo cách tương quan đến dân số hay GDP của mỗi
nước, để sao cho các quốc gia nhỏ không bị bất lợi so với các nước lớn.
Bảng 6: Các thông số đánh giá Thế mạnh phát triển công nghệ
Hạng mục Điểm
số
Mô tả Nội dung
Chế tạo công
nghệ cao
hoặc trung
cao
20% Tỷ trọng đóng góp GDP từ
các sản phẩm công nghệ cao
hoặc trung cao
Cho thấy hiện trạng phát triển
và năng lực của nền kinh tế
trong việc khai thác công
nghệ cao
Chi tiêu
NC&PT
25% GERD tính theo tỷ lệ phần
trăm GDP từ các nguồn công
cộng và tư nhân
Cho thấy sự dựa vào các công
nghệ mới để tăng trưởng kinh
tế
Vốn tri thức 15% Số người có bằng tốt nghiệp
đại học về khoa học và kỹ
thuật
Cho thấy năng lực thực hiện
các khám phá khoa học và đổi
mới sáng tạo
Nhân lực
KH&CN
20% Số các nhà nghiên cứu bình
quân trên tỷ USD GDP
Cho thấy năng lực chuyển
hóa các khám phá khoa học
và đổi mới sáng tạo thành các
sản phẩm và dịch vụ thương
mại
Di cư
chuyên gia
10% Tỷ lệ người có trình độ đại
học rời khỏi đất nước
Đo lường khối lượng tri thức
ra khỏi đất nước; một cách
gián tiếp cho thấy tính hấp
dẫn của nền kinh tế đối với
các doanh nhân
Cơ sở hạ
tầng
10% Phép đo tổng hợp bao gồm:
sản lượng điện năng bình
quân đầu người (20%), số
thuê bao điện thoại di động
bình quân đầu người (20%),
số máy chủ Internet bình
quân (20%), số người sử dụng
Internet bình quân (20%), tỷ
lệ lát đường (20%)
Đánh giá khả năng của cơ sở
hạ tầng hiện tại để hỗ trợ cho
phát triển công nghệ và
thương mại hóa
31
Lux Research đã sử dụng các thông số đo nêu trên để đánh giá được thành tích và tiến độ
phát triển của các quốc gia trong giai đoạn 2007 đến 2009, và đã phân nhóm các nước thành
bốn nhóm với vị trí xếp hạng theo sơ đồ tại hình 11:
Các quốc gia "nổi trội" được xếp ở góc trên bên phải. Đó là các nước có cả hai chỉ
tiêu cao về Hoạt động công nghệ nano và Thế mạnh phát triển công nghệ, cần thết
để tiến hành thương mại hóa;
Các quốc gia "tháp ngà" xếp tại góc trên bên trái. Đó là các nước có Hoạt động công
nghệ nano cao nhưng lại thiếu khả năng phát triển nền kinh tế dựa vào công nghệ
nano do chỉ tiêu Thế mạnh phát triển công nghệ tương đối thấp;
Các quốc gia "phù hợp" nằm ở góc dưới bên phải. Đó là các nước có sự phát triển
công nghệ mạnh, điểm số về Thế mạnh công nghệ cao nhưng thiếu quy mô để hỗ trợ
cho khả năng cạnh tranh quốc tế về Hoạt động công nghệ nano. Kết quả là các quốc
gia này tập trung vào các trung tâm phát triển năng lực trong những lĩnh vực cụ thể
như điện tử hay màng phủ.
Các quốc gia xếp hạng "yếu" được xếp ở góc dưới bên trái. Các nước này không đạt
các chỉ tiêu cao về cả Hoạt động công nghệ nano và thế mạnh phát triển công nghệ
và có năng lực yếu trong việc phát triển và thương mại hóa công nghệ nano toàn
cầu.
Hình 11: Sơ đồ hiện trạng hệ sinh thái công nghệ nano tại 19 nước/và vùng
lãnh thổ. Nguồn: Lux Research, 2012.
Thế mạnh phát triển công nghệ
32
Xếp hạng tổng thể quốc tế về công nghệ nano năm 2009 cho thấy một số quốc gia
nổi trội như sau:
Hoa Kỳ rơi vào vùng "tháp ngà": Đạt điểm số cao về các thống số đánh giá
Hoạt động công nghệ nano, có kết quả cao nhất. Chương trình Xúc tiến công
nghệ nano (NNI) của Hoa Kỳ đã được điều phối tốt và được tài trợ mạnh, giúp
hỗ trợ hoạt động khởi sự doanh nghiệp và hệ sinh thái nghiên cứu học thuật. Các
doanh nghiệp như 3M và IBM, các nhà nghiên cứu và các nhà đầu tư tư nhân
đóng một vai trò quan trọng, họ đã đầu tư hàng tỷ đôla cho công nghệ nano và
đăng ký hàng nghìn sáng chế trong năm 2009. Tuy nhiên, chỉ số về Thế mạnh phát
triển công nghệ của Hoa Kỳ lại dưới mức trung bình (2,8). Nền kinh tế Hoa Kỳ rất đa
dạng với các ngành dịch vụ phát triển, và sản lượng chế tạo HMHT (công nghệ cao và
trung cao) tương đối thấp, mặc dù các ngành công nghiệp này thuộc loại lớn nhất thế
giới nếu tính theo giá trị tuyệt đối. Mẫu hình tương tự đối với chi tiêu NC&PT và
nhân lực KH&CN: điểm số khá thấp mặc dù số tuyệt đối lớn. Số nhân lực có trình độ
đại học về khoa học và kỹ thuật bình quân đầu người thuộc nhóm thấp nhất, chưa
bằng một nửa của Đài Loan, Hàn Quốc, và Singapo, và chưa bằng một phần ba số
lượng của Nga, điều này ảnh hưởng đến thế mạnh phát triển công nghệ của Hoa Kỳ
trong dài hạn. Mặt khác, tỷ lệ di cư ở số người có trình độ đại học của Hoa Kỳ thuộc
loại thấp nhất, điều đó có nghĩa là các sinh viên tốt nghiệp lựa chọn cách ở lại và hầu
hết dân di cư trên thế giới đã đến sinh sống tại Hoa Kỳ, bổ sung thêm vào nguồn vốn
tri thức của quốc gia này.
Nhật Bản đạt điểm số cao thứ hai về Hoạt động công nghệ nano (4,2). Mặc dù
không được điều phối hay được tài trợ mạnh như của Hoa Kỳ, nhưng Nhật Bản có
một chương trình chính phủ lành mạnh và hệ thống các trung tâm nghiên cứu hỗ trợ
cho công nghệ nano, và khu vực tư nhân định hướng công nghệ của nước này đã giúp
lấp đi khoảng cách về tài trợ. Số bằng sáng chế và công bố công trình của Nhật Bản
khá lớn, và các tập đoàn khổng lồ như Toray và Sumitomo rất tích cực trong nghiên
cứu và thương mại hóa công nghệ nano. Về chỉ tiêu Thế mạnh phát triển công nghệ
Nhật Bản bị giảm hơn đôi chút, đạt điểm 4,0 trong năm 2009, nhưng vẫn thuộc loại
mạnh nhất thế giới. Chi tiêu NC&PT luôn duy trì ở mức cao cho thấy sự phụ thuộc
mạnh vào đổi mới sáng tạo công nghệ để phục vụ tăng trưởng kinh tế, và tầm quan
trọng của lĩnh vực chế tạo HMHT (ngành này đóng góp 20% GDP) đã làm vững
mạnh thêm mối liên kết này, điều đó cho thấy Nhật Bản là một nơi hấp dẫn đối với
thương mại hóa công nghệ nano. Cũng giống như Hoa Kỳ, Nhật Bản có một nguồn
nhân lực KH&CN lớn, số tốt nghiệp đại học khoa học và kỹ thuật thấp, và tỷ lệ di cư
rất thấp. Điểm số của Nhật Bản giảm đi đôi chút là do sự cải tiến tổng thể về cơ sở hạ
tầng của các quốc gia khác, điều đó làm cho vị trí tương đối của Nhật Bản yếu đi.
Trung Quốc đã thay đổi mạnh mẽ, nhưng vẫn còn xa mới đến mức có thể thách
thức các vị trí nấc cao. Điểm số về chi tiêu Hoạt động công nghệ nano của Trung
Quốc đã tăng từ 2,35 lên 2,5 vào năm 2008 và 2009. Công nghệ nano là một chủ đề
33
luôn được đề cập đến trong nhiều kế hoạch quốc gia, và hai nguồn tài trợ nhà nước và
tư nhân đều đã tăng nhanh chóng trong những năm qua, mặc dù thiếu sự điều phối.
Chỉ số về độ trễ của đổi mới sáng tạo cao, tồn tại các vấn đề tiềm năng liên quan đến
khả năng bảo hộ sáng chế và thực hiện kém hiệu quả các biện pháp khuyến khích các
nhà nghiên cứu làm cho điểm số của Trung Quốc thấp. Các công ty công nghệ nano
của Trung Quốc thường là các nhà sản xuất vật liệu nano thông dụng (như Shanghai
Huzheng Nano Technology Co. hay nhà phát triển Tianjin Tianhezhongxin
Chemicals), điều này phù hợp với quan điểm cho rằng nghiên cứu của Trung Quốc
tạo ra ít công nghệ độc quyền và có khả năng thương mại. Thế mạnh phát triển công
nghệ của Trung Quốc duy trì ở mức đạt được năm 2008, với điểm số 2,7. Tuy nhiên
điều đó không có nghĩa là tiến triển đã dừng. Trong giai đoạn từ 2005 đến 2009, số
sinh viên tốt nghiệp đại học về khoa học và kỹ thuật đã tăng 50% và việc xây dựng cơ
sở hạ tầng được duy trì với tốc độ ngoạn mục. Hơn nữa, động thái di chuyển của cư
dân Trung Quốc dường như đã có chiều đảo ngược trong những năm gần đây, nhiều
cư dân hải ngoại đã trở về nước và giờ đây các cơ hội này đang phát triển mạnh ở
Trung Quốc. Các ngành chế tạo HMHT của Trung Quốc phát triển mạnh, nhưng chi
tiêu cho NC&PT vẫn còn thiếu nghiêm trọng, điều này dẫn đến quan điểm cho rằng
nền kinh tế Trung Quốc còn bao gồm nhiều sản phẩm mang tính nghiên cứu đảo
ngược và bắt chước. Trung Quốc sẽ cần phải gia tăng năng lực NC&PT của mình và
thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo riêng của mình nếu như họ muốn duy trì chiều
hướng đi lên từ sự trì trệ.
Nga thực hiện được cú đẩy lớn, nhưng vẫn thuộc nhóm có thứ hạng yếu.
Nga đã cải thiện đôi chút điểm số của mình về Hoạt động công nghệ nano
năm 2008 tăng từ 2,45 lên 2,6 năm 2009. Rasnano, tổ chức đầu tư công nghệ
nano do nhà nước tài trợ đã được thành lập năm 2007, liên tục được dành
những khoản kinh phí lớn để tài trợ cho nghiên cứu và thương mại hóa , trong
một nỗ lực đem lại sức sống cho nền kinh tế. Giống như kết quả trực tiếp của
sự thành lập Rusnano, Nga tăng khá mạnh nguồn tài trợ chính phủ, thực hiện
các xúc tiến công nghệ nano, thành lập các trung tâm NC&PT công nghệ
nano và làm tăng số công trình công bố, nhưng sẽ phải mất vài năm để chi
tiêu chính phủ bắt đầu tạo ra được tác động đến năng lực của khu vực tư
nhân. Nền kinh tế Nga vẫn còn phụ thuộc nặng vào nguồn thu từ dầu mỏ, và
đổi mới sáng tạo công nghệ theo truyền thống vẫn chỉ chiếm vị trí thứ yếu.
Mặc dù Nga có một đội ngũ dư thừa các nhà nghiên cứu và những người tốt
nghiệp đại học về khoa học và kỹ thuật, nhưng dường như tài năng của họ
không được sử dụng một cách hiệu quả, dẫn đến tình trạng nhiều người có
trình độ giáo dục cao đã rời bỏ đất nước. Kết quả là điểm số của Nga về Thế
mạnh phát triển công nghệ vẫn đạt mức thấp, 2,6 điểm năm 2009.
34
Kết luận
Trong giai đoạn phát triển thứ nhất của công nghệ nano, có nhiều bài học chiến lược có
thể học hỏi như sau:
Cần tiếp tục và chú trọng đầu tư vào lý thuyết, các phương pháp nghiên cứu và hoạt
động đổi mới sáng tạo ở phạm vi nano nhằm hiện thực hóa việc thiết kế các vật
liệuvà hệ thống nano tạo ra các sản phẩm mới có tính cách mạng, bởi vì công nghệ
nano vẫn còn đang ở giai đoạn hình thành. Các phương pháp mô hình hóa và mô
phỏng có vai trò quan trọng đối với các quy trình thiết kế và chế tạo ở phạm vi nano.
Tiềm năng của công nghệ nano hỗ trợ phát triển bền vững các nguồn tài nguyên như
nước, năng lượng, khoáng sản và các nguồn khác còn cao hơn so với những kết quả
đã hiện thực hóa trong 10 năm qua, vì vậy gia tăng chú trọng vào NC&PT là cần
thiết.
Công nghệ nano EHS (công nghệ nano liên quan đến môi trường, y tế và an toàn)
cần được thúc đẩy phát triển như một bộ phận tích hợp của chương trình nghiên cứu
chung về lý-hóa-sinh và cần được coi như một điều kiện ứng dụng công nghệ mới.
Kiến thức là cần thiết không chỉ đối với thế hệ cấu trúc và hệ thống nano thứ nhất
mà cả với các thế hệ mới nữa.
Bên cạnh các lĩnh vực mới nổi, các ngành công nghiệp truyền thống cũng có thể
mang lại các cơ hội ứng dụng quy mô lớn của công nghệ nano trong các lĩnh vực
như chế biến khoáng sản, chất dẻo, gỗ và giấy, dệt, nông nghiệp và các hệ thống
thực phẩm.
Sự tham gia nhiều thành phần và của nhà nước trong phát triển công nghệ nano là
điều thiết yếu nhằm giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội; cần gia tăng các nỗ lực
trong lĩnh vực này.
Hợp tác công - tư là cần thiết để mở rộng nghiên cứu và giáo dục.
Công nghệ nano vẫn còn ở giai đoạn phát triển ban đầu, các kiến thức cơ bản và các
công cụ vẫn còn ở giai đoạn của những ý tưởng và đổi mới sáng tạo. Các chủ đề nghiên cứu
then chốt đang được thúc đẩy bằng khám phá mở trong thập kỷ qua. Trong thập kỷ tới,
NC&PT công nghệ nano có khả năng sẽ chuyển hướng sự chú trọng đến sự điều tiết theo
các nhu cầu kinh tế xã hội, với những hệ quả quan trọng liên quan đến các chính sách khoa
học, đầu tư và pháp lý. Cũng như vậy, đầu tư NC&PT sẽ ngày càng chú trọng vào các hệ
thống khoa học và kỹ thuật, với các cấu trúc phức tạp và lớn, và có mối liên quan xã hội.
Điều quan trọng trong thập kỷ tới là cần chú trọng vào bốn khía cạnh tiến bộ quan trọng
về công nghệ nano gồm: (1) Bằng cách nào khoa học và kỹ thuật nano có thể nâng cao sự
hiểu biết về bản chất, bảo vệ sự sống, tạo ra các khám phá và đổi mới mang tính đột phá, dự
đoán hành vi của vật chất, chế tạo các vật liệu và hệ thống bằng thiết kế ở phạm vi nano -
tiến bộ về kiến thức; (2) Bằng cách nào công nghệ nano có thể tạo ra giá trị về kinh tế và y
học - tiến bộ về vật chất; (3) Bằng cách nào công nghệ nano có thể thúc đẩy sự an toàn
trong xã hội, phát triển bền vững và hợp tác quốc tế - tiến bộ toàn cầu; (4) Sự điều hành
công nghệ nano theo cách có trách nhiệm như thế nào để có thể nâng cao chất lượng cuộc
sống và công bằng xã hội - tiến bộ về đạo đức.
35
PHỤ LỤC: Những thành tựu chủ yếu về công nghệ nano từ năm 2000 và mục
tiêu đến 2020
NC&PT CNNN thập kỷ qua có thể được mô tả bằng phát triển các kiến thức nền
tảng (như plasmonics) các tiếp cận phát triển hay tích hợp (ví dụ như tích hợp điện tử
nano và điện tử quang học) và các tiếp cận có tính chất cách mạng (như dẫn thuốc nhờ
CNNN dùng Abraxane) và những tiếp cận này ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào. Phụ
lục dưới đây giúp minh họa các cách thức mà các thành tựu tương trong lai có thể đạt
được dựa trên các thành tựu trong quá khứ.
Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
Lý thuyết, mô hình, mô phỏng
Khám phá các hiện tượng, tính chất và quá
trình cơ học, quang học, điện tử học từ tính
và sinh học ở cấp nano
Các lý thuyết mới về sự phức tạp của các
hiện tượng và tích hợp hệ thống xảy ra
đồng thời ở cấp nano sẽ đẩy nhanh sự khám
phá
Các hiệu ứng lượng tử được xác định và đo
lường trong hàng loạt cấu trúc nano, như
các chấm lượng tử, ống nano và dây nano
Các khung cấu trúc điện tử trong trạng thái
kích thích gồm các hiệu ứng tương quan
điện tử với 10.000 nguyên tử (và động lực
cặp ion-điện tử thực tế đối với 1000 nguyên
tử). Tiến bộ 100x này sẽ mở cánh cửa cho
hiểu biết mới ở cấp điện tử và có tiềm năng
để đánh giá thông lượng cao các vật liệu
nano mới cho quang hợp nhân tạo và các
ứng dụng khác, chủ yếu là truyền năng
lượng
Xác định và viễn di thông tin giữa 2 nguyên
tử, có thể thực hiện tính toán lượng tử
Viễn di có kiểm soát các thông tin giữa 2
nguyên tử trong các hệ thống cấp nano.
Các tiến bộ trong mô phỏng cấp nguyên tử
và hạt nano
Ab initio, các khung cấu trúc điện tử ở trạng
thái kích thích với xử lý thực tế các hiệu
ứng tương quan điện tử
Các mô phỏng động lực phân tử (MD) với
liên kết hóa học
Tự lắp ráp các hạt nano chức năng hóa
Các tiến bộ trong mô phỏng đa cấp bằng
cách kết hợp lý thuyết cấu trúc điện tử với
các phương pháp MD
Tăng năng lực tính toán lên 10.000 lần để
có thể thực hiện:
- mô phỏng ab initio (tiên nghiệm) Hartree-
Foch đầy đủ các chấm lượng tử
- mô phỏng quá trình tự lắp ráp của các vật
liệu được lập trình
- tự động tạo ra trường lực và các trường
lực phản ứng cho các mô phỏng MD các
vật liệu
- lập mô hình đa cấp toàn bộ cho các pin
mặt trời tiếp đôi và các thiết bị phát sáng
36
Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
Lập mô hình một số polyme gia cường hạt
nano
Lý thuyết về plasmon trong các hạt nano
kim loại và plasmon tăng cường ở các quá
trình trong các hệ thống bán dẫn và phân tử
Kiểm soát và sử dụng plasmonic trong các
hệ thống nano
Phát triển hiểu biết về các giao diện giữa
các vật liệu sinh học và vô sinh, tự nhiên và
nhân tạo và các hệ thông nano ở cấp nano
Tiếp cận dự kiến khả năng tương thích và
lắp ráp các vật liệu sinh học và vô sinh
Các lý thuyết thống kê vật liệu và thiết bị
cấu trúc nano phức tạp
Các tiếp cận chung trong mô phỏng đa
cấp/đa hiện tượng cho thiết kế tính toán các
vật liệu, thiết bị cấp nano và các hệ thống
nano tích hợp từ các nguyên lý cơ bản sử
dụng các mô hình và lý thuyết mới. Những
mô phỏng sẽ tập trung vào các quá trình
như tự lắp ráp, xúc tác, và động lực của các
hệ thống phức tạp.
Gói phần mềm cho phép mô phỏng nhanh
các tính chất quang học của các cấu trúc
nano và các mô phỏng cấp nguyên tử các
bóng bán dẫn nano
Mô phỏng vận chuyển lượng tử/dòng điện
ở cấp phân tử trong các thiết bị hoạt động
như bóng bán dẫn nano
Đo lường , dụng cụ và tiêu chuẩn
Quan sát ở femto giây các tương tác cấp
nano (di chuyển của nguyên tử) trong các
quá trình hóa học
Dò được điện tích đơn, spin đơn, kích thích
spin và các rung động liên kết ở cấp nguyên
tử
Mô phỏng với độ phân giải nguyên tử, ảnh
3 chiều với các đặc điểm hóa học và phân
giải thời gian của các hiện tượng cấp nano.
Các công cụ cho đo lường và tái cấu trúc
vật chất với độ chính xác ở cấp nguyên tử,
cho phân giải thời gian các phản ứng hóa
học, và cho các phạm vi kỹ thuật và sinh
học liên quan.
Theo dõi 3D ở cấp đơn phân tử các động cơ
protein, enzym, liposome và các cấu trúc
nano sinh học khác.
Chụp ảnh 3D cấu trúc bên trong với đặc
tính hóa học ở độ phân giải nguyên tử các
protein đơn lẻ
Định mẫu thường xuyên trên các bề mặt
được nâng quy mô để có thể ứng dụng được
Phát triển công cụ tại chỗ để kiểm soát quá
trình sản xuất nano
Phát triển công cụ dễ sử dụng cho người
không có chuyên môn vá các ứng dụng
trong giảng dạy
37
Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
Tổng hợp, lắp ráp và chế tạo
Tạo ra trong phòng thí nghiệm một thư viện
các thành phẩn nano như các hạt, ống, tấm
và các cấu trúc 3D
Phát triển thư viện các cấu trúc nano (hạt,
dây, ống, tấm, các lắp ráp khối) của các
hỗn hợp khác nhau với số lượng ở quy mô
công nghiệp
Tạo được các cấu trúc nano tự lắp ráp tương
đối đơn giản
Hiểu biết căn bản các quá trình tự lắp ráp
hay lắp ráp có kiểm soát các nguyên tử hay
phân tử thành các cấu trúc nano và hệ
thống nano lớn, bền vững và phân cấp.
Hiểu rõ hơn vai trò có mặt của vật liệu xúc
tác hay cấu trúc định hướng
Các khái niệm mới về lắp ráp 3D có thể lập
trình (dùng các tương tác tĩnh điện, hóa học
và sinh học) đã được kiểm tra trong phòng
thí nghiệm. Đã thiết kế được các phân tử
polyme mới cho các mục đích tự lắp ráp và
các vật liệu polyme phân cấp
Lắp ráp theo định hướng sử dụng các khối
đồng polyme, như dùng grapheo epitaxy để
chứa dữ liệu
Tạo các cấu trúc nano hướng-sinh học trong
các điều kiện phòng thí nghiệm (xem
chương 3)
Các máy phân tử đầu tiên được chế tạo theo
thiết kế
Tiếp cập hệ thống để thiết kế và chế tạo các
cấu trúc và thiết bị 3 chiều lắp ráp theo
định hướng, phân cấp có thể điều chỉnh quy
mô; lắp ráp có thể lập trình
Sử dụng cả các quá trình cân bằng và phi
cân bằng trong các thiết bị và hệ thống
Mở rộng các quy trình cấp nano thân thiện
môi trường
Chế tạo các sản phẩm nano thay thế các vật
liệu độc hại hay kém hiệu quả và các sản
phẩm hiện nay
Sử dụng hạ tầng hiện nay như in lito và các
phương tiện in con lăn (roll-to-roll) để tạo
ra các phương pháp chế tạo nano mới
Khám phá graphen (2004), các tính chất
độc đáo của nó, và sự chuyển động nhanh
chóng hướng tới sản xuất quy mô lớn của
nó
Chứng minh graphen là vật liệu có thể phát
triển hay điện cực trong suốt và các quy
trình cán con lăn diện tích lớn dùng cho sản
xuất
Chứng minh graphen là vật liệu dẫn điện,
và giới thiệu các quy trình sản xuất tấm lớn
để thay thế indium
Các ngành vật lý mới (photon và hành vi
eletron, các dụng cụ lắp ráp) dẫn đến các
ứng dụng mới (transito graphen nhanh hơn,
trong suốt 98%, liên kết với các hệ thống
nano, cảm biến, các vật liệu composit)
Sản xuất bền vững các vật liệu nano cacbon
tích hợp vào hàng loạt sản phẩm điện tử
trên diện rộng
Dùng graphen làm cơ sở cho thế hệ các
thiết bị phẳng 2 chiều mới bổ sung hay thay
thế silic
Sản xuất các ống nano cacbon tách đối Chế tạo các mẫu ống nano cacbon thuần
38
Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
xứng khiết để loại bỏ yêu cầu chọn lọc sau chế
tạo
Khám phá ra siêu vật liệu (metamaterial),
các tính chất độc đáo của nó, và chuyển
động nhanh chóng hướng tới sản xuất quy
mô lớn
Phát triển các phương pháp chế tạo các vật
liệu nano
Thương mại hóa các phương pháp mới cho
in phân tử và dựa vào vật liệu ở cấp nano
dựa trên các hệ thống quét thăm dò (như bút
nhúng, bút polyme và in đồng polyme khối,
v.v..)
Kỹ thuật in tiếp xúc dựa trên các chất đàn
hồi mềm đã trở thành các công cụ nghiên
cứu được sử dụng rộng rãi
Thương mại hóa các kỹ thuật dựa vào ánh
sáng độ phân giải cao như in lito vết nano,
bắt đầu được sử dụng trong công nghiệp
bán dẫn
Phát triển nhà máy để bàn, như máy in để
bàn, cho phép các nhà nghiên cứu nhanh
chóng tạo mẫu các thiết bị thực tế với giá rẻ
mà không cần phòng sạch.
Kỹ thuật in phân tử cho phép định vị phân
tử đơn protein lên bề mặt và kiểm soát các
quá trình kích thích bề mặt quan trọng như
biệt hóa tế bào gốc (ở quy mô lớn)
Tạo bộ công cụ chế tạo đầy đủ và các quy
tắc thiết kế để tích hợp bằng kỹ thuật in lito
vết nano
Kỹ thuật vết nano thay thế in lito trong một
số ứng dụng phân giải cao.
Chế tạo màn hình video bằng công nghệ
nano
Sự dụng rộng rãi của màn hình mềm dẻo,
lớn và kinh tế
Các nguyên lý và thiết bị đo lường mới cho
cảm biến dùng các cấu trúc và hiện tượng
cấp nano
Phát triển cảm biến cấp nano có thể theo
dõi quy trình, giám sát sức khỏe, định
chuẩn và theo dõi môi trường
Công nghệ nano trong các vấn đề môi
trường, sức khỏe và an toàn
Phát triển khái niệm cho rằng các tính chất
độc đáo của các vật liệu nano được chế tạo
cho phép tương tác trên phạm vi lớn với các
phân tử sinh học và các quá trình sinh học
có thể tạo cơ sở độc hại của vật liệu nano
cũng như là cơ sở cho các lựa chọn chẩn
đoán và điều trị mới
Hiểu biết thêm về tương tác nano-sinh học
thông qua sự phát triển các dụng cụ cải
tiến, các phương pháp luận thông lượng
nhanh và in silico dẫn đến những hiểu biết
sâu hơn về các tương tác sinh-lý-hóa cần
thiết cho kiểm soát độc hại, đánh giá rủi ro,
và thiết kế vật liệu nano an toàn và chẩn
đoán và chữa bệnh cải tiến
Chứng minh rằng việc sử dụng các quá
trình gây tổn thương độc tính ở cấp tế bào
đóng góp cơ sở khoa học mạnh mẽ để tạo ra
Sử dụng các quá trình gây tổn thương độc
tính làm cơ sở cho xét nghiệm thông lượng
cao, có thể kiểm tra, phân loại độc hại khối
39
Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
các kiến thức về các tính chất độc hại tiềm
tàng của các vật liệu nano. Chứng minh
rằng việc sản xuất cơ bản ô-xy là cơ chế tổn
thương độc tính là kết quả của sự phát triển
quá trình phản ứng ức chế o-xy hóa phân
cấp là nền tảng để xếp hạng độc hại của các
vật liệu nano được chế tạo sinh ra cấc loại
o-xy phản ứng sinh học và phi sinh học
lượng lớn và xếp ưu tiên các thông tin này
cho thí nghiệm trên động vật có mục đích
và có giới hạn. Mặc dù thí nghiệm trên
động vật vẫn cần để đánh giá phỏng đoán
của các phương pháp xét nghiệm in vitro,
các kiến thức bổ sung được tạo ra theo các
quy trình in vitro thông minh có thể dẫn tới
giảm thiểu thí nghiệm trên động vật kéo
theo các chi phí.
Hiểu được tầm quan trọng của các phương
pháp được xác nhận và được chấp nhận
rộng rãi để kiểm tra in vitro và in vivo các
tính độc hại của vật liệu nano cho phép các
nhà khoa học phát triển cơ sở đánh giá rủi
ro song song với sự phát triển của công
nghệ nano
Phát triển các phương pháp kiểm tra độc
tính dự đoán cho phép cân bằng giữa kiểm
tra in vitro và in vivo có thể được thực hiện
bằng công nghệ thông lượng cao và các
công cụ ra quyết định in silico đẩy nhanh
tốc độ sản sinh kiến thức
Phát triển các phương pháp thí nghiệm và
dự đoán cho tiếp xúc và độc tính đối với
các hợp chất cấu trúc nano theo nhiều cách
khác nhau
Hình thành những hợp tác đối tác công-tư
thúc đẩy hiệu quả nhận thức về CNNN đối
với môi trường, sức khỏe và an toàn cũng
như các chiến lược giảm rủi ro, ví dụ như
DuPont và Khung rủi ro nano bảo vệ môi
trường (2007)
Sự tham gia tích cực của khu vực công
nghiệp vào CNNN đối với môi trường, sức
khỏe và an toàn, gồm đánh giá rủi ro và
độc hại, phân tích vòng đời, công bố thông
tin về sản phẩm không an toàn, và triển
khai các chiến lược thiết kế an toàn
Các nỗ lực tình nguyện của các nhà khoa
học quốc tế hàng đầu để phát triển các quy
tắc hài hòa có thể được xác nhận bằng kiểm
tra round-robin, ví dụ Liên minh Hài hòa
Nano Quốc tế
Các tiêu chuẩn được chấp nhận quốc tế cho
đánh giá sự độc hại của vật liệu nano và
các chiến lược đánh giá rủi ro cho vòng đời
sản phẩm.
Triển khai các thí dụ đầu tiên của các bài
viết kiểm tra thông lượng cao cho đánh giá
sự độc hại của hạt nano
Thể hiện rằng các độc hại cấp nano tiềm
tàng cần phải được đánh giá theo chức năng
kích thước hạt, và các hạt nano không có
nghĩa là nguy hiểm
Phát triển như một phần tích hợp trong
chương trình mới tin học-nano và các công
cụ ra quyết định in silico có thể giúp lập
mô hình và dự đoán vật liệu nano độc hại,
đánh giá rủi ro, và thiết kế an toàn các vật
liệu nano
40
Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
Công nghệ nano cho phát triển bền vững:
môi trường, khí hậu và tài nguyên
Cảnh báo những tác động phụ thuộc lẫn
nhau trên toàn hệ sinh thái hoạt động của
con người trên Trái đất và tiềm năng của
CNNN cung cấp một số giải pháp
Phát triển sự tiếp cận có điều phối để sử
dụng đổi mới trong CNNN cho các giải
pháp đột phá trong phát triển bền vững
Tổng hợp các sợi nano polyme và vô cơ
trên phạm vi rộng cho tách lọc môi trường
(phin lọc, màng lọc) và xúc tác
Sự xuất hiện của điện tử spin như một kỹ
thuật đa năng để tổng hợp các sợi nano
polyme, vô cơ và ghép polyme-vô cơ
Các hệ thống xúc tác quang và phân tách
chạy bằng năng lượng mặt trời (như các
màng xốp nano bắt chước kênh ion) tách
nước sạch, năng lượng và các thành phần
giá trị (như dinh dưỡng và khoáng chất) từ
nước không sạch như nước thải, nước lợ và
nước biển, với tỷ lệ thu hồi nước đạt 99%.
Phát triển các màng nanocomposit (như
màng thẩm thấu ngược nanocomposit
zeolite và màng dây nano siêu kỵ nước),
các vật liệu hấp thu nano (như các hạt nano
oxit sắt từ) và các hạt nano ô-xy hóa khử
(như các hạt nano sắt không hóa trị) để lọc
nước, dọn sạch dầu tràn, và phục hồi môi
trường
Tích hợp các sợi nano và hạt nano chức
năng hóa thành các hệ thống để phát triển
các hệ thống tách và xúc tác nhằm:
- giảm ô nhiễm
- phục hồi môi trường
- sản xuất xanh
Các đề xuất các phương pháp thu hồi
cacbon dùng CNNN
Khám phá các vật liệu cấu trúc nano có độ
xốp cao như các khung hữu cơ kim loại
(MOF), khung hữu cơ cộng hóa trị (COF),
và khung zeolit imidazolate (ZIF) để chứa
hydro và cô lập cacbon
Thu cacbon và nito bằng các cấu trúc nano
và tái sử dụng ở quy mô công nghiệp
Áp dụng các hệ thống màng tách/hấp thụ
đa chức năng với MOF, COF và ZIF có
thể tách Co2 một cách chọn lọc và chuyển
hóa thành các phụ phẩm hữu ích
Các đề xuất khái niệm và thí nghiệm địa kỹ
thuật sử dụng các hạt nano từ hay sulfate ở
khí quyển tầng cao để phản chiếu ánh nắng
Phát triển các dự án quốc tế về địa kỹ thuật
với sự kiểm soát hiệu ứng làm nguội Trái
đất và với khía cạnh đa dạng sinh học và an
toàn môi trường
Các phương pháp sử dụng hiệu quả nguyên
liệu thô bằng CNNN đã được nghiên cứu
Phát triển các hệ thống tách hiệu quả hơn
và phù hợp với môi trường để thu hồi các
khoáng chất quan trọng như các nguyên tố
đất hiếm (REE) từ những chất thải mỏ và
nước thải từ những nhà máy xử lý và luyện
kim/khoáng chất. Phát triển các chất thay
thế REE không độc, chi phí hiệu quả và
41
Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
giảm dần, dẫn tới loại bỏ sự phát thải các
chất ô nhiễm độc hại vào đất, nước và
không khí
Công nghệ nano cho phát triển bền vững:
Năng lượng
Tiến bộ nhanh chóng về hiệu quả và khả
năng nâng quy mô sử dụng CNNN cho
chuyển đổi năng lượng mặt trời
Sử dụng đại trà và kinh tế CNNN cho
chuyển đổi năng lượng mặt trời vào 2005-
2006 ở Hoa Kỳ
Các công thức mới xử lý bằng dung dịch
của các bán dẫn vô cơ cho quang điện giá
rẻ, tấm lớn
Tăng hiệu quả modul và giảm giá thành sản
xuất và lắp đặt để có quy trình hướng tới hệ
thống điện mặt trời giá thành 1USD/ tấm 1
W (Wp)
Hiệu suất chuyển đổi năng lượng của các
pin mặt trời hữu cơ cấu trúc nano tăng gần
800% từ năm 2000
Sử dụng các hạt nano và chấm lượng tử
trong các chiến lược khuếch đại vật tải và
thu gom vật tải nóng (hot-carrier) để vượt
qua giới hạn hiệu suất Shockley-Queisser
31% ở các thiết bị quang điện màng mỏng
Nâng cao hiệu suất của quang điện hữu cơ
từ dưới 2% lên trên 8% thông qua tách pha
cấp nano và kỹ thuật nano của cấu trúc
thiết bị
Nâng cao tuổi thọ của quang điện hữu cơ
bằng công nghệ nano
Thay thế silic tinh thể bằng các vật liệu
khác rẻ và có nhiều trên trái đất, như
disunfit sắt, dùng cho quang điện
Tăng mật độ năng lượng của pin ion liti lên
trên 50%, cho phép các xe ô-tô điện lai hoạt
động thực tế
Các pin chế tạo bằng CNNN dùng cho ô-tô
điện hoạt động trên khoảng cách lớn
Khung hữu cơ kim loại (MOF) quy mô
công nghiệp đầu tiên được công ty BASF
tổng hợp năm 2010 để chứa hydro (nâng
quy mô và triển khai MOF để chứa khí (H2
và CH4)
Tăng hiệu suất các thiết bị quang điện đơn
chất lên trên 31% thông qua kích nhân vật
tải (Multi-exciton generation - MEG), thu
hồi vật tải nóng, hay các hiện tượng mới
khác để vượt qua giới hạn nhiệt động học
Bức xạ ánh sáng lục và các khám phá cơ
bản khác cho phép chiếu sáng trạng thái rắn
Tăng hiệu suất phát sáng trạng thái rắn lên
trên 50% thông quan cường độ trường
(plasmonics) tăng cường nano và tỷ lệ bức
xạ và khả năng ghép cặp đôi trường
Các hệ thống nano và y học nano
42
Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
Phát triển các phương pháp chẩn đoán nhạy
tới cấp picomole và attomole và cho phép
đa phân tích đồng thời bằng các phương
pháp phòng thí nghiệm trên chip
Chẩn đoán y tế chính xác (point of care-
POC): tăng nhiều cấp đối với độ nhạy, khả
năng chọn lọc, và các khả năng đa nhiệm
với giá rẻ cho phép chẩn đoán và điều trị
chính xác theo từng trường hợp, những khả
năng này sẽ cho phép bác sỹ phát hiện và
chữa trị bệnh - trong một số trường hợp sẽ
sớm hơn nhiều năm so với các công cụ
thông thường. Các công cụ chẩn đoán nano
sẽ trở thành nền tảng của y học lâm sàng
vào năm 2020, tạo ra sự chuyển dịch từ
phòng thí nghiệm đến bệnh viện và dần dần
sẽ tới từng nhà
Chẩn đoán sinh học; chụp ảnh tế bào sống
bình thường với khả năng xác định và định
lượng các thành phần chính của tế bào (các
axit nhân, phân tử nhỏ và ion sắt) cho phép
tạo ra các phương pháp mới trong nghiên
cứu, chẩn đoán và điều trị một số bệnh gây
suy yếu mạnh nhất (ung thư, tim mạch và
alzheimer). Những chẩn đoán không can
thiệp dựa trên phát hiện cấp nano đối với
hơi thở và nước bọt
Abraxane, liệu pháp nano chứng tỏ hiệu quả
đối với chữa trị ung thư vú được FDA phê
chuẩn và trở thành sản phẩm dược giá trị
nhiều tỷ đôla; nó bao gồm các hệ thống dẫn
thuốc bằng hạt nano, gồm các hạt cầu mỡ,
polyme và albumin.
Liệu pháp nano: Vượt qua nhiều thách thức
như dược động học, phân tán sinh học,
nhắm mục tiêu và xâm nhập mô v.v.. để hỗ
trợ sự áp dụng đại trà của các ngành công
nghiệp liệu pháp nano
Tối thiểu 50% tất cả các loại thuốc dùng
trong năm 2020 sẽ được hỗ trợ bởi CNNN;
nhiều thuốc trong đó sẽ dùng điều trị các
bệnh như u nguyên bào đệm, ung thư tụy,
và ung thư tử cung, những bệnh khó đoán
sớm bằng các liệu pháp hiện nay
Sử dụng rộng rãi các vật liệu nano trong
cộng đồng dược phẩm để tăng hiệu quả của
hóa học trị liệu đồng thời hạn chế các tác
dụng phụ độc hại
Trên 50 công ty dược phẩm của Hoa Kỳ có 50% thuốc ung thư tụy và ung thư tử cung
43
Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
các giải pháp dựa trên CNNN để điều trị
ung thư trong thử nghiệm lâm sàng (science
10/2010)
sẽ được sản xuất bằng CNNN
Sử dụng các sợi polyme nhạy nhiệt để bọc
các đĩa nuôi cấy tế bào dùng cho các mục
đích sửa tấm tế bào và chứng tỏ rằng công
nghệ này có thể sử dụng để chữa cơ tim,
giác mạc hay thực quản bị tổn thương
Dùng các cấu trúc nano và tạo hình tổng
hợp để sửa mô, gồm liệu pháp tế bào gốc,
tạo cơ quan nội tạng mới (như nguyên quả
tim hay bàng quang) và tái tạo tủy sống
Sử dụng đại trà vào năm 2020 việc tạo mô
bằng CNNN để chữa hư hại tim (ở các nạn
nhân nhồi máu cơ tim)
Phát triển có kiểm soát các phân tử để thúc
đẩy sửa chữa và tái sinh mô tại chỗ
Tế bào gốc: sử dụng sinh học nano và y
học hano hỗ trợ cho tìm hiểu và kiểm soát
sự biệt hóa tế bào gốc và đưa các tế bào
gốc vào ứng dụng y tế đại trà; những tiến
bộ này sẽ được sự hỗ trợ bởi các tiến bộ
trong chẩn đoán, sửa gen trong tế bào và
công cụ xác định hình mẫu phân giải cao
Có thể sử dụng các hệ thống dẫn hạt nano
đa chức năng để dẫn thuốc và siRNA
(ARN can thiệp kích thước nhỏ), cũng như
kết hợp cả hai; nền tảng đa chức năng có
thể được hỗ trợ thêm bằng các van nano có
kiểm soát, sự phối tử bề mặt bám vào mô
ung thư hay sử dụng các thể thức hình ảnh
Sử dụng rộng rãi vào năm 2020 các liệu
pháp dựa trên tế bào gốc dùng CNNN để
làm tái sinh tủy sống
Thành tựu trong kiểm soát sinh học tổng
hợp cấp nano
Sử dụng sinh học tổng hợp trong y học tái
sinh, công nghệ sinh học, dược phẩm và
các ứng dụng trong năng lượng. Tác động
kinh tế: chuyển dịch nhiều vật liệu nano
sinh học trong lĩnh vực y tế với quy mô thị
trường cho các tiến bộ y học nano tăng lên
tới 200 tỷ USD vào năm 2020, theo các
ước tính khác nhau, và giảm đáng kể chi
phí chăm sóc sức khỏe
Điện tử học nano và từ tính học nano
Khám phá hiệu ứng spin lượng tử Hall và
chứng minh momen chuyển spin, cho phép
Khám phá các vật liệu điện-từ/đa sắt sẽ cho
phép kiểm soát vùng từ tính và spin bằng
44
Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
kiểm soát trực tiếp spin điện tử và các cung
từ tính bằng dòng điện
điện áp thay cho dòng điện
Khám phá ra hành vi tập thể ở nhiệt độ
thường của các vật tải ở các vật liệu mới
như graphen hay vật liệu cách ly topo cho
phép tạo ra các thiết bị điện nano tiêu thụ
năng lượng thấp
Các thí nghiệm đầu tiên về tính toán lượng
tử sử dụng một số lượng nhỏ các bit lượng
tử
Hiện thực hóa máy tính lượng tử đặc dụng
Định luật Moore vẫn tiếp tục được tuân thủ
Đưa quy mô CMOS đến kích thước 30 nm,
gồm cổng cách ly xấp xỉ 1nm, với mức
chính xác đơn lớp trên tấm nền 300nm
Đạt được kiểm soát 3D ở cấp gần nguyên
tử cho các vật liệu kích thước nhỏ cho phép
tạo ra hành vi điện tử nano và từ tính nano,
Kết hợp kỹ thuật in lito và tự lắp ráp đối
với các cấu trúc nửa tùy ý với mức chính
xác 1 nm
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo bộ nhớ
không bay hơi MRAM đầu tiên
Hạ mật độ dòng chuyển mạch và giảm tỷ lệ
lỗi do giao động nhiệt trong quá trình đảo
từ tính hóa trong MRAM
Đạt được các cấu trúc hiệu quả về giá thành
cho bộ nhớ và logic tích hợp dùng MRAM
Làm sáng tỏ các tính chất nhiệt, quang và
điện tử của các ống nano cacbon và
graphen, hình thành một lớp vật liệu điện tử
mới: điện tử cacbon
Khám phá ra thiết bị logic mới có thể
chuyển mạch với năng lượng ở cấp độ vài
kT, có tiếm năng sử dụng trạng thái thay
thế có thể thay đổi cho thể hiện thông tin
Khám phá các tuổi thọ spin rất dài ở các
tâm trống ni-tơ trong kim cương; trạng thái
lượng tử của các tâm này có thể được tạo
ra, điều khiển và đo lường với độ chính xác
cao ở nhiệt độ thường
Phát triển bộ chuyển tiếp (repeater) lượng
tử cho liên lạc lượng tử cự ly dài gồm viễn
di các bit lượng tử
Quang tử học (Photonics) nano và
plasmonics
Tạo được ánh sáng di chuyển chậm trong
các cấu trúc quang tử nano trạng thái rắn;
cho phép có các ứng dụng và hệ thống
thông tin chưa từng có trước đây đối với
các hệ thống quang tử, như làm chậm và
lưu trữ các tín hiệu quang học
Lưu giữ ánh sáng trong thời gian miligiây
hoặc lâu hơn; mặc dù ánh sáng "chậm" đã
được trình diễn nhưng vẫn chưa giữ lại
được ánh sáng; điều này có thể đạt được
thông qua các cấu trúc cộng hưởng tổn hao
cực thấp và Q cực cao
Nhiều tiến bộ nhanh trong lĩnh vực
plasmonics, và những đổi mới đi liền với
Sử dụng bức xạ và thăm dò plasmonic nâng
cao để đạt được sự hấp thụ và bức xạ ánh
45
Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
plasmonics, như chụp ảnh quang học độ
phân giải cực cao
sáng có kiểm soát từ các đơn phân tử
Lần đầu tiên trình diễn các siêu vật liệu
(metamaterial) (vật liệu có chỉ số khúc xạ
âm) ở các ánh sáng khả kiến và cận hồng
ngoại
Tạo ra "siêu thấu kính" cho chụp ảnh và
"phủ" (cloaking) phân giải siêu cao ở nhiều
bước sóng ánh sáng khác nhau (thay đổi
mẫu quang học)
Hiện thực các laser ở ngưỡng siêu chậm, ở
các ngưỡng vài chục nanoWatt
Đạt được các laser "vô ngưỡng", tại đó hiệu
quả truyền năng lượng lớn tới mức laser có
thể được kích hoạt với đầu vào cực nhỏ để
thu được năng lượng đặc biệt cao
Các xúc tác cấu trúc nano
Khả năng ban đầu xác định đặc tính một số
quá trình xúc tác trong "trạng thái hoạt
động"
Chụp được ảnh (snapshot) đầy đủ một quá
trình xúc tác nhiều bước
Kiểm soát kích cỡ, cẫu trúc và mặt tinh thể
của chất xúc tác cỡ nano
Đảm bảo cường độ và độ bền của các xúc
tác cỡ nano
Đã trình diễn khả năng theo dõi sự kiện xúc
tác đơn lẻ.
Mục tiêu chung: kiểm soát chính xác hỗn
hợp và cấu trúc của các chất xúc tác về cỡ
kích thước dài từ 1nm đến 1 micromet, cho
phép kiểm soát hiệu quả các quá trình phản
ứng
Các xúc tác cấu trúc nano được đưa vào sản
xuất sau năm 2000 chiếm 30-40% tổng số
chất xúc tác toàn cầu
Các chất xúc tác cấu trúc nano mới chiếm ít
nhất 50% thị trường toàn cầu vào năm 2020
Các vấn đề nổi bật của vật liệu nano
Hình thành các chiến lược tổng hợp và phân
tách để sản xuất các vật liệu nano đơn phân
tán, như các ống nano cacbon phân tách đối
xứng bàn tay
Phát triển thư viện hoàn chỉnh các vật liệu
nano đơn phân tán với số lượng ở quy mô
công nghiệp
Tạo được các lớp phủ/nano composit số
lượng lớn với các tính chất độc đáo và dự
đoán được dựa trên các khối kiến thiết cấp
nano đơn phân tán (như các cuộn cảm ứng
trong suốt bằng ống nano và graphen)
Tạo được các vật liệu cấu trúc nano phân
cấp có khả năng điều chỉnh độc lập các đặc
tính đi kèm từ trước (tách riêng các đặc
tính điện và quang cho quang điện, tách
riêng các đặc tính điện và nhiệt cho nhiệt
điện)
Phát triển các kim loại từ tinh thể micro đến
tinh thể nano, polyme micro composit thành
nano composit, và các lớp phủ hạt từ cấp
micro thành cấp nano
Các lớp phủ nanocomposit với các tính chất
cải thiện về cơ học, nhiệt, hóa học, điện, từ
tính và quang học so với các lớp phủ tiên
tiến nhất hiện nay
46
Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
Chế tạo các vật liệu dẫn điện cao hơn và
nhẹ hơn cho máy bay, vệ tinh và dây dẫn
trên tàu vũ trụ
Chế tạo được các nanocomposit cho các
thành phần kết cấu, nhờ đó cho phép giảm
40% trọng lượng trong các thiết kế máy
bay với tính năng hoạt động về cơ bản tốt
hơn
Chế tạo các thiết bị và hệ thống chất lỏng
nano
Tạo được các hệ thống chất lỏng nano có
thể nâng quy mô để xử lý trong công nghệ
sinh học, dược phẩm, và kỹ thuật hóa chất
Đưa sợi gỗ xenlulo vào các vật liệu nano
composit
Sử dụng đại trà trong CNNN các vật liệu
tái tạo và có nhiều trên trái đất
Hạ tầng phương tiện nghiên cứu
Mở rộng nhanh chóng các trung tâm sử
dụng khoa học nano liên ngành, gồm các cơ
sở quy mô lớn, làm đầu tàu cho khám phá
khoa học và kỹ thuật liên ngành
Mở rộng phạm vi năng lực các trung tâm
liên ngành và mở rộng sự phân bố địa lý
cho sự tiếp cận rộng rãi hơn
Thành lập trên 150 trung tâm nghiên cứu
liên ngành và các cơ s sử dụng ở Hoa Kỳ và
nhiều nước khác trên thế giới, cung cấp sự
tiếp cận rộng rãi vào các cơ sở chế tạo và
mô tả đặc tính
Đạt được việc sử dụng rộng rãi việc kiểm
soát từ xa dựa vào mạng đối với các dụng
cụ và hỗ trợ kỹ thuật ở các cơ sở nghiên
cứu để có thể giảm yêu cầu đi lại và tăng sự
tiếp cận của sinh viên
Hạ tầng đào tạo
CNNN đã bắt đầu nuôi dưỡng các hướng
tầm nhìn liên ngành trong khoa học và kỹ
thuật ở tất cả các cấp giáo dục khoa học kỹ
thuật và toán học
Giáo dục khoa học và kỹ thuật cấp nano
gắn liền với tiêu chuẩn và chương trình học
chuẩn quốc tế ở tất cả các cấp giáo dục, đặc
biệt chương trình phổ thông nâng cao
NanoHub, NISE và Cổng Giáo dục Nano
NACK của NCLT cung cấp truy cập web
tới các nguồn lực khoa học và kỹ thuật cấp
nano
Thành lập mạng các địa điểm trung tâm
vùng - "Mạng Trung tâm Đào tạo CNNN" -
với hạ tầng chắc chắn
Xuất bản trên 50 sách giáo khoa cho các
khoa học KHKT cấp nano bậc đại học cho
các văn bằng KHKT cấp nano ngành phụ
(và một số ngành chính) và/hay chứng chỉ
Chuyển giáo dục về KHKT cấp nano từ
chỗ bổ sung cho các môn truyền thống
thành chuyên ngành riêng, tức là các tổ
chức, văn bằng và chuyên ngành đào tạo
nano
CNNN nổi lên thành chủ đề quan tâm trên
các trang web, triển lãm, và trong các
chương trình giáo dục ở các bảo tàng khoa
học trên toàn thế giới, trong đó có Trung
tâm Epcot của Thế giới Walt Disney
Lồng ghép KHKT cấp nano vào tất cả các
cấp giáo dục khoa học, công nghệ, kỹ thuật
và toán học và "đảo nghịch tháp nghiêng"
bằng sự kết hợp ban đầu các khái niệm
thống nhất về tự nhiên, sinh học, thông tin
47
Các thành tựu/đột phá chính từ 2000 Những mục tiêu cơ bản/mục tiêu hướng
tới và các rào cản cần vượt qua vào 2020
và nhận thức
Quản trị
Hình thành các phương pháp quản lý riêng
cho CNNN: phương pháp quản lý đa cơ
quan từ dưới lên, đánh giá lợi ích đa bên,
phát triển kịch bản
Đặt ra các nguyên tắc và tổ chức mới để
quản lý rủi ro đối với các thế hệ sản phẩm
và quy trình CNNN mới có sự gia tăng về
tính phức tạp, động lực, nội dung sinh học
và tính không chắc chắn.
Hình thành cộng đồng chuyên gia và tổ
chức quốc tế, trong đó có cộng đồng vì môi
trường, sức khỏe và an toàn của CNNN
(EHS) và ELSI
Chuẩn bị năng lực pháp lý, kiến thức và
con người tập trung vào việc sử dụng rộng
rãi CNNN vào năm 2020
Phát triển về thuật ngữ, sáng chế, tiêu chuẩn
và các tài liệu chuẩn
Tạo ra các tài liệu tham khảo được quốc tế
công nhận, thuật ngữ, chứng chỉ vật liệu, và
các tiêu chuẩn đo lường cho vật liệu nano
Tạo ra các chương trình đầu tư liên ngành,
các lĩnh vực ứng dụng và các cơ quan tài
trợ
Thể chế hóa các chương trình tài trợ cho
nghiên cứu, giáo dục và chế tạo CNNN,
EHS và ELSI công nghệ nano, có thể áp
dụng từ các cấu trúc nano thụ động đến các
hệ thống nano chủ động
Thành lập mạng lưới "CNNN trong Xã hội"
với tài trợ tương đương với các dự án khoa
học cơ bản
Thể chế hóa sự lồng ghép ban đầu những
chương trình liên quan xã hội với các
chương trình khoa học cơ bản và của các
cơ quan nghiên cứu, sản xuất và quản lý
Hình thành ngành tin học nano
(nanoinformatics) là một lĩnh vực mới cho
thông tin liên lạc, thiết kế, chế tạo, và y tế
trong CNNN
Phát triển mạng lưới quốc gia và quốc tế về
tin học nano
Phát triển "cách tiếp cận kịch bản" để cảnh
báo và quản lý công nghệ nano
Tăng các cơ chế tài trợ quốc tế cho các lĩnh
vực CNNN để sử dụng và lợi ích chung sao
cho CNNN trở thành hoạt động kinh tế-xã
hội ngày càng tăng
Khởi xướng các chương trình tài trợ cho
nghiên cứu cơ bản phục vụ công nghiệp với
các ngành công nghiệp dùng Ủy ban hợp
tác vì tiến bộ CNNN
Tích hợp khám phá và các chương trình đổi
mới vào cơ chế đối tác công-tư, trong đó
các cơ sở nghiên cứu, công nghiệp, nhà
kinh tế, và nhà quản lý tham gia ở tất cả
các giai đoạn của quá trình đổi mới
Biên soạn: Trung tâm Xử lý và Phân tích Thông tin
48
Tài liệu tham khảo
1. Nanotechnology Research Directions for Societal Needs in 2020:
Retrospective and Outlook. WTEC Panel Report. Springer, 9/2010.
2. Mihail C. Roco, Chad A. Mirkin: Nanotechnology Research Directions for
Societal Needs in 2020 - RetRospective and outlook suMMaRY.
NSF/WTEC report.
3. Mario Coccia • Ugo Finardi • Diego Margon: Current trends in
nanotechnology research across worldwide geo-economic players. Journal
Technol Transf (2012) 37:777–787.
4. Vincent Mangematin, Steve Walsh: THE FUTURE OF
NANOTECHNOLOGIES. Technovation 1/2012.
5. David Hwang. Ranking the nations on nanotech. Lux Research 8/2010.
6. Chen, H., and M. Roco. 2009. Mapping nanotechnology innovations and
knowledge. Global and longitudinal patent and literature analysis series.
Berlin, Germany: Springer.
7. Nanoscale Science, Engineering, and Technology Subcommittee of the
National Science and Technology Council Committee on Technology
(NSTC/NSET). 2004. The National Nanotechnology Initiative strategic
plan. Washington, D.C.: NSTC/NSET.
8. The National Nanotechnology Initiative strategic plan. Washington, D.C.:
NSTC/NSET. 2007.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tai_lieu_dinh_huong_nghien_cuu_cong_nghe_nano_den_nam_2020_n.pdf