Tài liệu Nông nghiệp công nghệ cao: Xu thế tất yếu của nông nghiệp Việt Nam

Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng, đặc biệt trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và trên toàn thế giới. Ở những nước phát triển, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng nhờ ứng dụng NNCNC, khối lượng nông sản của những nước này đã không ngừng tăng lên nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực. Chính vì vậy, NNCNC đang là hướng đi tất yếu để đạt được mục tiêu cả về khối lượng và chất lượng. Không nằm ngoài xu hướng phát triển của thế giới, nền nông nghiệp Việt Nam đã và đang chuyển mình bằng việc tiếp cận những công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới. Bằng cách tìm hiểu những khái niệm toàn diện về NNCNC cũng như tình hình phát triển NNCNC của một số quốc gia điển hình về phát triển NNCNC, tổng luận đã cung cấp bức tranh tổng thể về xu hướng NNCNC của thế giới và tại Việt Nam. Tổng luận giới thiệu một số công nghệ đã làm thay đổi nền nông nghiệp thế giới và những xu hướng NNCNC trong tương lai hướng đến năng suất, chất lượng, giảm sức lao động cho con người, đảm bảo tính cạnh tranh cho nền nông nghiệp Việt Nam với các quốc gia trên thế giới, một số chính sách của Chính phủ được ban hành về việc thành lập các khu NNCNC, thu hút các doanh nghiệp tham gia chuyển giao công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực NNCNC về tài chính, đất đai, thuế, thúc đẩy việc nâng cao năng lực và tri thức cho người dân. Một số khu NNCNC đã được hình thành và bước đầu hoạt động có hiệu quả như khu NNCNC Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Hải Phòng. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, phát triển NNCNC còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại như nguồn vốn, nhân lực, đất đai, thị trường và sự phối hợp, liên kết giữa các thành phần. Để giải quyết vấn đề trên, Tổng luận đã đưa ra 09 nhóm giải pháp đề xuất nhằm từng bước khắc phục những thách thức, khó khăn và thúc đẩy mạnh mẽ việc ứng dụng NNCNC, tiếp cận trình độ các nước nông nghiệp mạnh trong khu vực và trên thế giới như nâng cao nhận thức của chính quyền và nhân dân, tăng cường đầu tư cho KH&CN liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, bố trí nguồn vốn và tín dụng, hoàn thiện cơ chế chính sách, cải cách thủ tục hành chính, mở rộng liên kết hợp tác quốc tế, phát triển thị trường tiêu thụ, triển khai chính sách “dồn điền, đổi thửa”.

pdf44 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tài liệu Nông nghiệp công nghệ cao: Xu thế tất yếu của nông nghiệp Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nhật Bản làm nông nghiệp nhưng cung cấp đầy đủ thực phẩm chất lượng cao cho hơn 127 triệu dân của quốc gia này, ngoài ra còn dư thừa để xuất khẩu. Ở các trung tâm nghiên cứu nông nghiệp không gian rất sạch sẽ, hài hòa và rất đẹp như một công viên, san sát các nhà kính trồng các giống cây mới lai tạo từ công nghệ gen. Những cây dâu nhỏ, trĩu quả chín hồng, rồi các loại hoa được tạo nên màu sắc theo ý thích của con người, tăng gấp nhiều lần giá trị thông thường, những giống cà chua năng suất cao và giống lúa chất lượng tốt nhất thế giới v.v Trước những thành tựu của NNCNC Nhật Bản, trong các ngày 6-7/12/2015 tại TP Hồ Chí Minh, Việt Nam đã mời bảy tập đoàn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp của Nhật Bản gồm Hyponex (sản xuất phân bón thông minh), Hanagokoro (sản xuất phân bón hữu 25 cơ vi sinh), Menedael (sản xuất vi sinh nước (sắt + ion) để ghép cây), Toyo Chuu, Watanabe pipe (nhà vòm thông minh) và tập đoàn cung cấp thiết bị cơ giới nông nghiệp cao Iseki đến để giới thiệu và trình diện một số công nghệ cao trong nông nghiệp cho các doanh nghiệp và nông dân Việt Nam với mong muốn thúc đẩy việc ứng dụng NNCNC. 4.4. Trung Quốc Là nước sản xuất nông nghiệp lớn nhất trên thế giới, Trung Quốc có 300 triệu nông dân với các loại hoa màu chủ yếu là lúa, khoai tây, kê, ngũ cốc, chè, thuốc lá... 1/5 sản lượng ngô và 1/4 sản lượng khoai trên toàn thế giới có xuất xứ từ Trung Quốc. Hàng năm, Trung Quốc sản xuất gần 30 triệu tấn trứng, chiếm 1/2 sản lượng trứng thế giới. Đáng chú ý, chỉ 10% diện tích đất của Trung Quốc được dành cho nông nghiệp và diện tích này ngày càng co hẹp do quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và hình thành sa mạc [8]. Kể từ khi Chương trình Nghiên cứu và Phát triển công nghệ cao quốc gia (Chương trình “863”) được thiết lập, công nghệ nông nghiệp cao ở Trung Quốc đã phát triển nhảy vọt, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ nông nghiệp quốc gia và thu được một loạt cơ sở kỹ thuật cho phát triển ngành công nghiệp công nghệ cao cho nông nghiệp. Với việc lựa chọn và trồng thành công một loạt các giống tốt mới, sự đột phá của các công nghệ chủ chốt như công nghệ sản xuất cây trồng hiệu quả an toàn, công nghệ nhân giống động vật khỏe mạnh, công nghệ bảo tồn nước trong nông nghiệp, công nghệ thông tin trong nông nghiệp và nông nghiệp kỹ thuật số, công nghệ sử dụng nguồn lực hiệu quả, công nghệ phòng chống và kiểm soát thiên tai nông nghiệp, công nghệ giám sát môi trường và công nghệ xử lý sinh học, công nghệ thiết bị cơ giới hoá nông nghiệp, công nghệ chế biến nông sản, công nghệ chuyển đổi năng lượng sinh học và các sản phẩm khoa học kỹ thuật được tạo ra như vắc xin công nghệ gen chọn lọc, phân bón sinh học, thuốc trừ sâu sinh học, thức ăn vi sinh, cơ sở dữ liệu nông nghiệp, hệ thống thông tin nông nghiệp, đã nâng cấp các công nghệ công nghiệp và hình thành các ngành công nghiệp công nghệ cao. Một số thành tựu trong ứng dụng CNC trong Nông nghiệp như: - Các nghiên cứu về gen tiến mạnh trước và liên tục cung cấp số lượng lớn nguồn gen cho việc cải tiến di truyền và tạo ra các giống động và thực vật mới. - Hệ thống công nghệ nhân giống phân tử đã được thiết lập, và một nhóm các giống cây trồng cấp cao mới đã được trồng. - Công nghệ cao đã thúc đẩy việc nâng cấp và cập nhật kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản và có những đóng góp xuất sắc từ nguồn thu ngoại tệ thông qua xuất khẩu và gia tăng thu nhập cho nông dân. - Nghiên cứu về nông nghiệp kỹ thuật số và công nghệ thông tin nông nghiệp đã có tiến 26 bộ lớn, cung cấp các phương tiện kỹ thuật tiên tiến cho sản xuất và quản lý nông nghiệp. - Nghiên cứu về vacxin công nghệ gen chọn lọc đã có bước đột phá, xây dựng giải pháp sàng lọc để phòng ngừa và kiểm soát bệnh gia súc và gia cầm ở Trung Quốc. - Nghiên cứu lò phản ứng kiểu mới cho động vật, thực vật và sinh vật sống đã đạt những thành tựu xuất sắc, và một phần các sản phẩm này đã được công nghiệp hoá. - Nghiên cứu về công nghệ hiện đại về bảo tồn nguồn nước đã có những tiến bộ đáng kể, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ an ninh nguồn nước trong nông nghiệp. - Nghiên cứu sử dụng có hiệu quả tài nguyên, kiểm soát môi trường và phục hồi sinh thái đã có nhiều thành tựu đổi mới, đảm bảo an ninh sinh thái nông nghiệp và thúc đẩy phát triển bền vững. - Công nghệ chế biến nông sản đã có nhiều thành tựu sáng tạo, cung cấp công nghệ mới và các kênh an toàn chất lượng nông sản và tăng thu nhập cho nông dân. - Sáng chế về y sinh học nông nghiệp đã có nhiều thành tựu sáng tạo, đặt nền móng cho sự phát triển công nghiệp hóa. - Công nghệ sử dụng sinh khối toàn diện đã đạt được những tiến bộ nhất định, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho việc phát triển nông nghiệp khép kín và xây dựng nông thôn mới. Tại Hội thảo “Phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh hội nhập ASEAN” tổ chức tại Hà Nội (tháng 9/2016), chuyên gia Zhong Yu của Viện Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển, Học viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc cho biết, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành một loạt chính sách và biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp, lợi ích của nông dân và làm giàu cho nông dân như xóa bỏ thuế nông nghiệp và “4 trợ cấp”. Bằng cách này, một hệ thống để hỗ trợ và bảo vệ nông nghiệp về cơ bản được thiết lập, vì thế tổ hợp các mô hình về sản xuất nông nghiệp, các thiết bị kỹ thuật và phương thức quản lý tổ chức công nghiệp cũng thay đổi rất nhiều. Nông nghiệp truyền thống dần được hiện đại hóa với các quan hệ rộng mở và kết hợp giữa công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cũng như đô thị hóa. Ở Trung Quốc, khu NNCNC là khu trình diễn sản xuất nông nghiệp hiện đại và chuyển hóa kết quả KH&CN vào sản xuất. Dựa vào mục tiêu của “Đại hội khoa học nông nghiệp toàn quốc” và “Cương lĩnh phát triển KH&CN toàn quốc”, Bộ KH&CN chủ trì phối hợp với 6 bộ/ngành (nông nghiệp, thủy lợi...) đã lần lượt xây dựng 71 khu NNCNC cấp quốc gia để trình diễn các CNC và mới điển hình nhằm phổ cấp cho toàn quốc. Ngoài ra, các tỉnh, 27 huyện cũng xây dựng 6.000 khu NNCNC nhằm phát triển các sản phẩm chủ lực của vùng. Việc xây dựng một số khu NNCNC thành công ở Trung Quốc đã mang lại những thành tựu nổi bật cho việc phát triển nông nghiệp hiện đại, sản xuất ra các sản phẩm mới góp phần phát triển kinh tế nông thôn và gia tăng thu nhập cho nông dân. Điển hình là các khu NNCNC ở Vân Nam, Thiểm Tây, Bắc Kinh, Sơn Đông, Quảng Đông... Tuy nhiên hiện nay cũng phát sinh một số vấn đề trong xây dựng khu NNCNC ở Trung Quốc như: Mối quan hệ giữa khu NNCNC với các đơn vị nghiên cứu chưa chặt chẽ; Các doanh nghiệp trong khu NNCNC chưa đủ mạnh, công năng khai phá KH&CN không đủ lớn; Thiếu vốn để đổi mới KH&CN... [9] 4.5. Singapo Trong những năm gần đây, Singapo đã trở thành nơi thí nghiệm cho nông nghiệp công nghệ cao khi chính phủ khuyến khích các trang trại đưa ra những sáng kiến để khắc phục tình trạng thiếu đất kinh niên và giảm sự phụ thuộc vào hàng nhập khẩu. Ngành công nghiệp chế biến rau quả tuy nhỏ nhưng hiện đại của Singapo đang thu hút các công ty Nhật Bản mong muốn đầu tư hoặc áp dụng công nghệ của Singapo để sử dụng tại Nhật Bản. Một trong những câu chuyện thành công là Sky Greens Farm, đã phát triển trang trại theo chiều thẳng đứng đầu tiên của Singapo, được cho là một trong những trang trại công nghệ cao. Trang trại trồng rau theo chiều thẳng đứng trên các tháp cao tới vài mét bằng hệ thống công nghệ cao, sử dụng chuyển động của dòng nước tưới để từ từ xoay các cây trồng trong khay đất, để chúng có được đúng liều lượng nước và ánh sáng mặt trời. Hệ thống này đã được cấp bằng sáng chế và trang trại đã được nông dân từ nhiều nơi trên thế giới tiếp cận. Singapo nhập khẩu hơn 90% lương thực và chỉ có một ngành công nghiệp trang trại nhỏ, chiếm khoảng 200 ha, chiếm gần 1% diện tích đất của Singapo (71.000 ha). Các trang trại tập trung vào việc sản xuất rau ăn lá, cá và trứng cho tiêu dùng trong nước. Theo một tài liệu về kế hoạch sử dụng đất trong tương lai do Chính phủ đưa ra năm ngoái, Singapo có thể sử dụng đất đai hiệu quả hơn bằng cách hợp nhất các hoạt động đòi hỏi một lượng đất lớn, như đào tạo quân sự, sân golf và canh tác, để giải phóng mặt bằng cho các mục đích khác. Do đó, canh tác theo chiều thẳng đứng có ý nghĩa đối với Singapo, nơi mà đa số người dân sống trong các căn hộ cao tầng. Các loại rau trồng trong nước chiếm khoảng 8% lượng rau tiêu thụ ở đất nước thành phố này, còn lại là các loại rau nhập khẩu từ 28 các nước láng giềng như Malaixia và Trung Quốc. Ong Geok Chwee, giám đốc điều hành của Sky Urban Solutions Holding Ltd., điều hành trang trại đã cho biết: "Mỗi bước canh tác đều được kiểm soát và nó hoạt động giống như một nhà máy". Ong Geok Chwee cho biết, trong một cuộc phỏng vấn tại trang trại ở miền Bắc Singapo, sản lượng cao gấp 10 lần so với canh tác truyền thống. Nhờ có hệ thống kiểm soát, trang trại sử dụng ít nước hơn so với canh tác truyền thống và cũng tiêu thụ ít điện hơn các hệ thống nông trại công nghệ cao trong nhà khác sử dụng ánh sáng nhân tạo. Thậm chí năng lượng để xoay các khay trong mỗi tháp đều là từ thủy lực tạo ra bởi nước tưới tiêu. Và vì được bao bọc trong một cấu trúc giống như nhà kính, ít bị ảnh hưởng của thời tiết nên trang trại có thể sản xuất tối đa 12 chu kỳ canh tác mỗi năm. Trang trại đã thử nghiệm thành công 30 loại cây trồng, bao gồm cả gạo, và tập trung vào việc tăng lên đến sáu vụ, bao gồm cả cải bắp và rau bina Trung Quốc, để cung cấp cho các siêu thị trong nước. “Trang trại này giống như một cơ sở cho công việc R&D mẫu của chúng tôi, và chứng minh cho phương pháp của chúng tôi. Nó có thể được sử dụng như là một mô hình ở những quốc gia muốn thực hiện trên quy mô lớn hơn”, Ong nói. "Chúng tôi không chỉ giới hạn ở Singapo bởi vì chúng tôi coi mình là nhà cung cấp giải pháp chứ không phải là nông dân". Ong cho biết, hệ thống canh tác theo chiều thẳng đứng của công ty đang thu hút nông dân ở nước ngoài muốn khắc phục tình trạng thiếu đất canh tác, đặc biệt là ở khu vực thành thị, tăng năng suất, khắc phục thời tiết khắc nghiệt hoặc thiếu nước và nhân công, và biến canh tác thành một công việc hấp dẫn hơn đối với giới trẻ thậm chí từ cả Nhật Bản. Họ thực sự quan tâm và giờ đây công nghệ được nghiên cứu sâu hơn. Những nông dân đô thị đã sử dụng đèn LED trong nhà, các trang trại trong nhà; và các công nghệ đang hướng đến việc cải tiến hơn nữa. "Kế hoạch của chúng tôi là phát triển mở rộng trong khu vực để cung cấp giải pháp nông nghiệp đô thị của chúng tôi trong khu vực”. Ngoài Nhật Bản, Trung Quốc, Ôxtrâylia và các nước ở Trung Đông và Đông Nam Á cũng quan tâm đến công nghệ này. Sự phát triển nông nghiệp công nghệ cao của Singapo đã thúc đẩy ít nhất một công ty Nhật Bản thành lập một trang trại trong nhà. “Các trang trại trong nhà có thể tối ưu hóa việc sử dụng đất và cho phép sản xuất cây trồng ổn định hơn", một đại diện của Cơ quan Thú y và Nông sản Singapo cho biết. Sản xuất trong nước là chiến lược quan trọng thứ hai trong việc đảm bảo an ninh lương thực của Singapo [10]. 29 PHẦN II: PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TẠI VIỆT NAM 1. Chính sách của Nhà nước trong phát triển NNCNC 1.1. Luật Công nghệ cao Luật Công nghệ cao năm 2008 đã quy định các hoạt động liên quan đến nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (Điều 19) bao gồm điều kiện để trở thành Doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng CNC, các ưu đãi đối với doanh nghiệp này cũng như trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Sau khi có Luật Công nghệ cao, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều chương trình, chính sách thể hiện quyết tâm trong phát triển doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp. 1.2. Quyết định số 176/2010/QĐ-TTg ngày 29/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020 Quyết định trên được ban hành với mục tiêu góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, đạt mức tăng trưởng trên 3,5%/năm; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Mục tiêu của Đề án trong giai đoạn 2016-2020 sẽ: (a) Tăng cường nghiên cứu phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp, trọng tâm là tạo công nghệ cao mới trong nông nghiệp; góp phần đưa trình độ công nghệ nông nghiệp của nước ta ngang bằng trình độ khá trong khu vực châu Á; (b) Đẩy mạnh phát triển toàn diện nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, bao gồm hệ thống các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; (c) Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng trên diện rộng công nghệ cao trong nông nghiệp để sản xuất các sản phẩm hàng hoá có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; đưa tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm 30 - 35% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của cả nước. 1.3. Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng trong nông nghiệp, nông thôn (sau đây gọi tắt là Nghị định 41) Nghị định 41 của Chính phủ ban hành với mục tiêu khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay, đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm nghèo và từng bước nâng 30 cao đời sống của nhân dân. Sau hơn 3 năm triển khai Nghị định 41, tín dụng phát triển Nông nghiệp nông thôn đã có nhiều chuyển biến tích cực. Năm 2012, tín dụng dành cho khu vực này tăng 12,52%, trong khi tín dụng trong nền kinh tế chỉ tăng 8,9%; tỉ trọng cho vay chiếm khoảng 18%, nếu tính cả cho vay theo các chương trình tín dụng chính sách thì chiếm khoảng 22%. Đến cuối năm 2013, tín dụng dành cho khu vực NNNT tăng khoảng 17%. 1.4. Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 và Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 (sửa đổi Nghị định 61) của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Nghị định 61/2010/NĐ-CP quy định khuyến khích các doanh nghiệp (trong đó có doanh nghiệp ứng dụng NNCNC) được ưu đãi về đất đai (Miễn, giảm tiền sử dụng đất, Miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước của Nhà nước..), hỗ trợ về đầu tư (Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, Hỗ trợ phát triển thị trường, Hỗ trợ dịch vụ tư vấn, Hỗ trợ áp dụng khoa học công nghệ, Hỗ trợ cước phí vận tải...). Nghị định 210/2013/NĐ-CP, bên cạnh việc giữ lại những ưu điểm của Nghị định 61, đã bổ sung những điểm mới: Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan thực hiện; quy trình nhận hỗ trợ, điều kiện nhận ưu đãi hỗ trợ rõ ràng, minh bạch; có văn bản cam kết hỗ trợ, khi khi Doanh nghiệp hoàn thành đầu tư thì được hưởng chính sách để Doanh nghiệp an tâm đầu tư; những hỗ trợ nhỏ (đào tạo, quảng cáo..) được trừ vào chi phí của Doanh nghiệp khi quyết toán thuế, không cần hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách; có hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách Trung ương cho các địa phương còn khó khăn về ngân sách để xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu [11]. 1.5. Quyết định số 69/2010/QĐ-TTg ngày 31/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục công nhận Doanh nghiệp ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao Tại Quyết định này giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan cấp giấy chứng nhận Doanh nghiệp ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao sau 30 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ và sẽ thu hồi nếu trong vòng 12 tháng Doanh nghiệp không hoạt động. Giấy chứng nhận là cơ sở để Doanh nghiệp được hưởng ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật. 31 1.6. Quyết định số 1895/2012/QĐ-TTg ngày 17/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình Quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020 Đây là một trong những văn bản quan trọng, trực tiếp ảnh hưởng đến nền nông nghiệp ứng dụng CNC. Mục tiêu của chính sách là thúc đẩy phát triển và ứng dụng có hiệu quả công nghệ cao trong lĩnh vưc nông nghiệp, góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, đạt mức tăng trưởng hàng năm trên 3,5%; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia cả trước mắt và lâu dài. 1.7. Quyết định số 575/2015/QĐ-TTg ngày 04/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể khu và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020, định hướng đến 2030 Quyết định được ban hành với mục tiêu góp phần đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia và gia tăng xuất khẩu. Cụ thể, đến năm 2020 sẽ: - Quy hoạch, xây dựng 10 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Hậu Giang và Phú Yên (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt) và Thái Nguyên, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Cần Thơ (Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập) - Quy hoạch vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt (tại Tây Nguyên, Tây Bắc và Bắc Trung bộ). Ví dụ: sản xuất chè tại Thái Nguyên, Lâm Đồng; thanh long tại Bình Thuận; rau xanh tại Lào Cai, Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh; hoa tại Lào Cai, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; cây ăn quả tập trung tại Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Trong lĩnh vực chăn nuôi có vùng chăn nuôi bò sữa tại Sơn La, Hà Nội, Nghệ An và Lâm Đồng; các vùng chăn nuôi lợn tại vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ; các vùng chăn nuôi gia cầm vùng đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc, Bắc Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Về thủy sản: Các vùng sản xuất tôm nước mặn, nước lợ tại vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long. 32 2. Thực trạng phát triển NNCNC tại Việt Nam 2.1. Các loại hình sản xuất NNCNC Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ở Việt Nam hiện nay đã hình thành 3 loại hình sản xuất NNCNC là: - Các khu NNCNC - Các điểm sản xuất NNCNC - Các vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng CNC 2.1.1. Các khu nông nghiệp công nghệ cao Khu NNCNC do nhà nước quy hoạch và quyết định thành lập. Nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ, quy định các loại sản phẩm được ưu tiên phát triển. Các cá nhân và tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế đều có thể được đăng ký đầu tư vào khu NNCNC để phát triển sản xuất theo định hướng và được hưởng các cơ chế chính sách ưu đái của nhà nước. Tính đến thời điểm hiện nay cả nước đã xây dựng được 29 khu NNCNC tại 12 tỉnh thành phố: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ, Lâm Đồng, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Quảng Ninh, Hậu Giang, Sơn La, Hà Nam... Hoạt động của các khu đã đem lại hiệu quả thiết thực và ngày càng thể hiện ưu thế vượt trội so với lối canh tác truyền thống. 2.1.2. Các điểm sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Đây là mô hình phát triển tương đối mạnh ở các địa phương trong cả nước và cũng mang lại hiệu quả thiết thực. Tiêu biểu cho loại hình này là: Cơ sở ứng dụng, sản xuất giống và câu trồng chất lượng cao 16 ha tại công ty Đầu tư và phát triển nông nghiệp Hà Nội; Công ty hạt giống Đông Tây (TP Hồ Chí Minh) quy mô 8 hecta, tổ chức nhân dòng bố mẹ và sản xuất hạt giống F1 của các loại rau cao cấp, cà chua, ngô, thực phẩm... cung cấp cho thị trường xuất khẩu; hay như của Công ty TNHH Đà Lạt Hasfarrm là mô hình ứng dụng CNC trong sản xuất hoa cao cấp với quy mô 24 hecta (trong đó có 15 hecta nhà kính và 2 hecta nhà bằng thép) đạt năng suất 1,8 triệu cành/ha/năm, xuất khẩu 55% (90% trong số này sang Nhật Bản), tiêu thụ trong nước 45% với 26 đại lý. 2.1.3. Các vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng CNC Vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng CNC là vùng do các địa phương quy hoạch, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để sản xuất một số loại hàng hóa có lợi thế cạnh tranh trên cơ sở áp 33 dụng CNCN ở một số khâu trong quá trình sản xuất. Điển hình của loại hình này là vùng sản xuất rau an toàn ở Đông Anh, Hoàng Mai, Thanh Trì (Hà Nội); mô hình trồng hoa ở Mê Linh; mô hình 100 trang trại trồng nấm ở Bình Xuyên (Vĩnh Phúc); mô hình nuôi cá tra sạch ở Đồng Bằng sông Cửu Long [20]. 2.2. Thực trạng sản xuất NNCNC tại một số địa phương 2.2.1. Đà Lạt (Lâm Đồng), thành phố tiệm cận với nông nghiệp công nghệ cao sớm nhất Từ năm 1996, Tp Đà Lạt (Lâm Đồng) đã phát triển rất nhanh các kỹ thuật NNCNC với nhiều lĩnh vực như: giống, bảo vệ thực vật, kỹ thuật canh tác, công nghệ chế biến sau thu hoạch. Từ đầu năm 2004, Lâm Đồng bắt đầu thực hiện 6 chương trình trọng điểm lớn của tỉnh mà một trong sáu chương trình là phát triển NNCNC giai đoạn 2004-2010, với tổng số vốn đầu tư là 2.722 tỷ đồng cho sáu dự án lớn: (1) Quy hoạch chương trình NNCNC; (2) Đầu tư trực tiếp nâng cao năng lực trồng rau, hoa, dâu tây chất lượng cao; (3) Nâng cao sản xuất các giống chè chất lượng cao; (4) Xây dựng mô hình sản xuất hoa, rau, dâu tây theo quy trình CNC; (5) Hỗ trợ chăn nuôi phát triển đàn bò sữa; (6) Hỗ trợ thực hiện cơ chế chính sách phát triển NNCNC. Lâm Đồng có tổng số hơn 49.000 ha sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại. Trong đó, có hơn 21.000 ha trồng rau, hoa, cây đặc sản ứng dụng công nghệ tưới phun tự động; 50 ha trồng hoa, dâu tây áp dụng công nghệ cảm biến, tự động đồng bộ; 6,5 ha rau thủy canh và 41 ha canh tác trên giá thể; hơn 2.200 ha chè ứng dụng hệ thống đồng bộ hệ thống tưới, bón phân tự động; 18.781 ha cà phê ứng dụng công nghệ cao Hiện nay, thu nhập trung bình hàng năm của người nông dân trong lĩnh vực nông nghiệp đã đạt 145 triệu đồng/ha; riêng lĩnh vực trồng hoa công nghệ cao thậm chí đã lên đến 1,2 tỷ đồng/ha/năm. Bên cạnh đó, có khá nhiều các doanh nghiệp lớn đạt doanh thu đến mức 3 tỷ đồng/ha/năm. Tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp nhờ vậy đã chiếm tới 80% giá trị xuất khẩu của cả tỉnh. Toàn tỉnh hiện có 759 trang trại, 2 liên hiệp Hợp tác xã và 110 Hợp tác xã nông nghiệp. Hàng loạt thương hiệu nông sản Đà Lạt và Lâm Đồng nhờ đó được hình thành và ngày càng khẳng định vị trí của mình trên thị trường như: Rau, hoa Đà Lạt; cà phê Cầu Đất; cà phê Di Linh; chè B’Lao - Bảo Lộc; lúa - gạo Cát Tiên; chuối Laba[12]. Để đạt được điều này, các công nghệ trong từng lĩnh vực được xem xét một cách kỹ lưỡng. Riêng đối với các vùng sản xuất rau, hoa việc ứng dụng trồng rau, hoa trong nhà 34 lưới, nhà màng, sử dụng màng phủ, tưới phun sương, tưới nhỏ giọt đã triển khai khá phổ biến trong những năm qua. Cụ thể là, có tới 95,9% số hộ trồng hoa sử dụng nhà màng, nhà lưới để canh tác hoa. Hoa trồng trong nhà có mái che chủ yếu là các loại hoa cúc, salem, hồng, đồng tiền, cẩm chướng, phong lan, địa lan. Đối với tiêu thụ sản phẩm sản xuất từ các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hiện nay có mô hình liên kết các hộ dân trong sản xuất rau tại TP. Đà Lạt dưới hình thức Hợp tác xã. Điển hình của mô hình liên kết trong HTX là Hợp tác xã sản xuất hoa và rau Xuân Hương. HTX được thành lập trên cơ sở tự nguyện và không tích tụ ruộng đất. Các hộ xã viên sản xuất riêng lẻ trên đất của gia đình mình nhưng sản xuất theo kế hoạch sản xuất loại cây trồng theo hợp đồng tiêu thụ sản phẩm mà HTX đã ký kết với đơn vị thu mua. Ban chủ nhiệm chịu trách nhiệm ký hợp đồng với các siêu thị, nhà hàng về số lượng rau tiêu thụ và thông báo kế hoạch cho các hộ xã viên. Theo số lượng đăng ký, đến kỳ thu hoạch các đơn vị đã ký hợp đồng với HTX tiến hành thu mua tận hộ. Hàng năm, HTX tổ chức các lớp tập huấn nâng cao trình độ kỹ thuật cho các hộ xã viên do các cơ quan chức năng về nông nghiệp của tỉnh tài trợ. Đặc biệt, ngày 08/12/2016, HĐND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ- HĐND về việc thông qua Đề án thành lập Khu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Lâm Đồng. Khu NNCNC này được đánh giá là một trong 10 khu nông nghiệp công nghệ cao lớn nhất của cả nước. 2.2.2. Khu nông nghiệp công nghệ cao tại TP Hồ Chí Minh Khu NNCNC được xây dựng theo Quyết định số 3534/QĐ-UB ngày 14/7/2004 của UBND TP.HCM tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi với tổng diện tích là 88,17 ha, đến tháng 04 năm 2010 mới chính thức đi vào hoạt động với tổng mức đầu tư 152,627 tỷ đồng bằng nguồn vốn Ngân sách thành phố. Khu NNCNC đã dành hơn 56 ha để kêu gọi nhà đầu tư thứ cấp đầu tư, sau khi xem xét đã chấp thuận với 14 dự án chủ yếu sử dụng nguồn vốn trong nước với tổng diện tích 56,8 ha và tổng mức đầu tư hơn 452 tỷ đồng (suất đầu tư trung bình gần 8 tỷ đồng/ha). Tuy nhiên, cho đến nay có 12 dự án được cấp thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đầu tư. Hiện nay đã có 07 nhà đầu tư đang triển khai xây dựng dự án: Công ty TNHH Rau sạch Việt Thụy Phát, Công ty CP Đầu tư & Phát triển Nhiệt Đới, Công ty TNHH SX-TM Việt Quốc Thịnh, Công ty TNHH Nông nghiệp Chánh Phong, Công ty TNHH MTV Nấm Trang Sinh, Công ty TNHH Cuộc sống tốt lành, Công ty CP sinh học 35 Trường Xuân. Đến nay, tổng vốn đầu tư để thực hiện dự án của 07 Nhà đầu tư nói trên là 123,7 tỷ đồng, đạt 41,7% so với tổng mức đầu tư đăng ký. Trong đó, công ty Cổ phần Đầu tư & Phát triển Nhiệt Đới đã đầu tư hơn 90 tỷ đồng trên diện tích 20 ha [13]. Trong các địa phương có khu Nông nghiệp Công nghệ cao (gọi tắt là Khu), TP. Hồ Chí Minh được đánh giá là đảm bảo được tính đồng bộ liên hoàn từ khâu nghiên cứu đến sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Trong khu bao gồm khu thí nghiệm và trưng bày sản phẩm, khu nhà kính, khu học tập và chuyển giao công nghệ, khu bảo quản và chế biến, khu sản xuất kêu gọi đầu tư. Nhà nước đầu tư vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng tại tất cả các khu. Các doanh nghiệp thu hút vào khu chủ yếu đầu tư vào sản xuất giống cây trồng như các loại rau, hoa, đồng thời, có thể cung cấp vật tư nông nghiệp để cung cấp cho nông dân sản xuất. Các loại nông sản sẽ được doanh nghiệp mua lại với giá theo đúng hợp đồng đã ký kết với nông dân. Các doanh nghiệp tham gia sản xuất trong Khu có sản lượng hàng hóa tập trung, kiểm soát được tiêu chuẩn, chất lượng nông sản, giảm được chi phí đầu tư về cơ sở hạ tầng trên một đơn vị diện tích. Được hưởng một số chính sách ưu đãi của Nhà nước về thuê đất, thuế các loại. Các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao thông thường do một doanh nghiệp đầu tư, quy mô tùy theo khả năng đầu tư vốn và sản phẩm của mô hình là sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp. Chẳng hạn như ở TP. Hồ Chí Minh, Công ty Liên doanh hạt giống Đông Tây đã đầu tư trại sản xuất hạt giống rau với việc nhân dòng bố mẹ và sản xuất hạt giống lai F1 cùng với đầu tư phòng thí nghiệm về công nghệ sinh học, xưởng chế biến hạt giống phục vụ cho công tác nghiên cứu, lai tạo và chế biến hạt giống đạt tiêu chuẩn cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Công ty Dalat Hasfarm và Công ty Cổ phần Rừng Hoa sản xuất các lọai hoa ôn đới cao cấp. Sản phẩm chính là hoa cắt cành, bao gồm hoa hồng, lily, cúc đơn, cúc chùm, cẩm chướng đơn, cẩm chướng chùm, đồng tiền, baby, sao tím, salem và các loại lá trang trí, hoa trồng chậu. Ngoài việc cung cấp cho thị trường trong nước thông qua mạng lưới phân phối vững chắc và rộng khắp, Dalat Hasfarm còn xuất khẩu sang Nhật Bản, Singapo, Thái Lan, Đài Loan, Campuchia, v.v... 36 2.2.3. Khu nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội Hà Nội có diện tích đất sản xuất nông nghiệp hơn 157.200 ha, chiếm 46,8% tổng diện tích đất toàn Thành phố. Tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2015 đạt gần 32.900 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2010. Tổng sản lượng lương thực hằng năm đạt trên 1,2 triệu tấn. Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành nông nghiệp chuyển dic̣h theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, ngành thủy sản và dic̣h vụ nông nghiệp. Hiện nay trên địa bàn Thành phố, một số cơ sở đã ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản cho năng suất vượt trội, giá trị tăng cao, bảo đảm an toàn thực phẩm như sử dụng giống mới có năng suất cao, chăn nuôi theo công nghệ chuồng kín có hệ thống điều tiết nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng... Sơ chế, chế biến, bảo quản rau, hoa quả, thịt, trứng bằng các công nghệ bao gói hút chân không, bảo quản lạnh... Giá trị sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn Thành phố hiện đạt 25%, trong đó, lúa, ngô, rau, hoa, cây ăn quả, chè đạt gần 18%, chăn nuôi 33,5%, thủy sản 13%. Dự án khu NNCNC đầu tiên của Hà Nội do Trung tâm rau quả Hà Nội xây dựng là cơ sở ứng dụng sản xuất giống và sản phẩm cây trồng chất lượng cao. Dự án được triển khai trên diện tích 15 hecta với vốn đầu tư ban đầu là 12 tỷ đồng. Cho đến nay hầu hết các huyện trên địa bàn TP đã triển khai NNCNC với các quy mô khác nhau và đạt được một số kết quả nhất định Lợi thế của Hà Nội là có rất nhiều nông sản, đặc sản được mệnh danh là "của ngon, vật lạ" như cam Canh, bưởi Diễn, bưởi đường Quế Dương, nhãn chín muộn Quốc Oai, gà mía Đường Lâm, vịt cỏ Vân Đình Nhiều nông sản của Thủ đô cũng đã xây dựng được thương hiệu và đang phát huy tốt giá trị như sữa Ba Vì, chè Ba Vì, chè an toàn Bắc Sơn Bởi thế, việc ứng dụng CNC nhằm phát huy những lợi thế này được coi là giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao giá trị canh tác và thu nhập cho người nông dân. Trên thực tế, một số chương trình ứng dụng CNC trong chọn tạo giống và chăm sóc cây trồng, vật nuôi cũng đã được triển khai tại các huyện, thị xã cho hiệu quả cao. Đáng chú ý là chương trình phát triển đàn bò BBB, sử dụng tinh phân ly (tinh phân biệt giới tính) trong chăn nuôi bò sữa, hay trồng lan nuôi cấy mô trong trồng trọt Với các lợi thế trên, định hướng đến năm 2020, Thành phố sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến để sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có năng suất cao, chất lượng tốt, an toàn và có sức cạnh tranh cao; đưa tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng 37 dụng công nghệ cao chiếm khoảng 35% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Tập trung hỗ trợ phát triển sản xuất ứng dụng công nghệ cao trong các lĩnh vực như giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản; sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản [14]. 2.2.4. Khu nông nghiệp công nghệ cao tại Hải Phòng Trong những năm gần đây, Hải Phòng đã có nhiều bước đi cụ thể nhằm đưa nhanh thành tựu KH&CN tiên tiến vào phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, các vùng sản xuất giống, nông sản hàng hóa được coi là trọng tâm ưu tiên của thành phố trong việc đầu tư thiết bị tưới, nhà sưởi, kho lạnh... Hải Phòng cũng xây dựng cơ chế chính sách thu hút các doanh nghiệp xây dựng các khu NNCNC, tiêu biểu như mô hình nông nghiệp công nghệ cao VinEco. VinEco Hải Phòng là 1 trong 12 nông trường đang được triển khai trên cả nước của Công ty TNHH đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp VinEco, thành viên của Tập đoàn Vingroup. Giai đoạn 1, VinEco Hải Phòng triển khai trên 46 ha với vốn đầu tư gần 200 tỉ đồng, trong đó, khu nhà kính - nhà màng - nhà lưới với hệ thống tưới tự động đang được lắp đặt với quy mô 10 ha; Giai đoạn 2 dự kiến nhận 150 ha với vốn đầu tư khoảng 400 tỉ đồng. VinEco Hải Phòng bắt đầu tổ chức sản xuất từ tháng 1/2016, đang sản xuất 14 chủng loại cây trồng với sản lượng trung bình đạt 250 tấn/tháng gồm bí đao chanh, dưa chuột, đậu bắp, mướp hương, mướp Đài Loan, bầu sao, mồng tơi, rau muống, su hào, bắp cải trái tim... Được đầu tư các trang thiết bị tiên tiến, VinEco Hải Phòng sẽ là một trong những nông trường công nghệ cao hiện đại nhất Việt Nam hiện nay với các ứng dụng như công nghệ, nhà màng, nhà lưới, công nghệ tưới nhỏ giọt và tưới phun tự động Israel và điều khiển tưới trung tâm, công nghệ cơ khí, cơ giới hóa, tự động hóa của Nhật Bản, Israel [15]. 3. Một số khó khăn/hạn chế/bất cập Những mô hình NNCNC hiện nay bước đầu đã đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực và đang dần trở thành hướng đi chủ yếu cho nông nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, nền NNCNC ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều khó khăn và hạn chế cả về quy mô, trình độ và tốc độ phát triển. Mức độ đóng góp của NNCNC vào sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp chưa nhiều (cao nhất như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh thì sản phẩm NNCNC cũng mới chiếm 10- 15% tổng giá trị xuất khẩu nông nghiệp). Vì vậy, tăng trưởng nông nghiệp của Việt Nam hàng năm gần đây đang có xu hướng chậm lại (giai đoạn 1996-2000 là 4,01%; 2001-2005 38 là 3,83%; 2006-2010 là 3,03%;; 2009-2013 là 2,9%; năm 2015 là 2,4% và đến năm 2016 chỉ còn 1,2%) [16]. Phần lớn nông sản Việt Nam đang được xuất khẩu ở dạng thô, sơ chế, giá trị gia tăng rất thấp, nhiều loại nông lâm sản chưa có thương hiệu trên thị trường quốc tế. Từ thực trạng trên có thể thấy một số khó khăn, hạn chế và bất câp sau: 3.1. Về nguồn vốn đầu tư Để phát triển NNCNC, trước tiên phải có vốn đầu tư lớn cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng, xử lý môi trường, đầu tư giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo người lao động, giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm... Ước tính, ngoài chi phí vốn đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng, đào tạo người lao động, mua công nghệ... để xây dựng được một trang trại chăn nuôi quy mô vừa theo mô hình NNCNC cần từ 140 tỷ đến 150 tỷ đồng (gấp từ 4-5 lần so với trang trại truyền thống), một hecta nhà kính hoàn chỉnh với hệ thống tưới nước, bón phân có kiểm soát tự động theo công nghệ của Israel cần ít nhất 10-15 tỷ đồng. Một ví dụ điển hình là khu NNCNC đầu tiên của Việt Nam nằm trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm (Hà Nội) đi vào hoạt động năm 2004 có tổng vốn đầu tư ban đầu gần 20 tỷ đồng hay dự án nuôi bò sữa TH True Milk (năm 2009) tại Nghĩa Đàn (Nghệ An) có tổng vốn đầu tư lên tới 1,2 tỷ USD. Tuy nhiên, hiện nay đầu tư cho nông nghiệp ở Việt Nam chưa tương xứng với vai trò, tiềm năng phát triển. Nguồn vốn mới đáp ứng 55-60% yêu cầu, hiệu quả đầu tư lại không cao. Hiện cả nước chỉ có khoảng 3.500 doanh nghiệp trong nông nghiệp, chiếm 1,01% số doanh nghiệp cả nước. Đặc biết, số doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa (vốn dưới 5 tỷ đồng) lại chiếm 65% [17]. Mặt khác, tỷ trọng vốn đầu từ FDI vào lĩnh vực nông, lâm, thủy sản lại thấp, đến tháng 10/2015 mới có 547 dự án FDI còn hiệu lực trong các lĩnh vực trên với vốn đầu tư đạt khoảng 4 tỷ USD, chiếm 2,8% tổng số dự án và 1,4% tổng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam [18]. Những con số trên cho thấy, vốn đầu tư là rào cản không nhỏ trong phát triển NNCNC ở Việt Nam. 3.2. Về nguồn nhân lực Để phát triển NNCNC đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao. Thực tế tại Việt Nam, nguồn nhân lực chất lượng cao am hiểu về khoa học-kỹ thuật trong nông nghiệp còn thiếu và yếu. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, năm 2015, lao động từ 15 tuổi trở lên làm việc trong khu vực nông thôn chiếm 68,8%, tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo chiếm 13,9%. Trình độ thấp của người lao động đã ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp cận KH&CN hiện đại. Trong khi đó, công tác đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp 39 còn nhiều bất cập, chưa bám sát yêu cầu của thực tế cuộc sống. Điều này cản trở việc thực hiện các chương trình NNCNC, đặc biệt đối với những vùng, miền có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn. 3.3. Về tích tụ đất đai và kết cấu hạ tầng ở khu vực nông thôn Một trong những yếu tố tiên quyết để thực hiện NNCNC là cần có đất đai với quy mô lớn, ở vị trí thuận lợi cho sản xuất và lưu thông hàng hóa. Tuy vậy, việc phát triển nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay còn thiếu quy hoạch, quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất còn chậm. Chính sách đất nông nghiệp chưa khuyến khích nông dân bảo vệ đất và đầu tư dài hạn vào đất. Bên cạnh đó, ở nhiều địa phương, những vị trí thuận lợi thượng được ưu tiên xây dựng các khu công nghiệp, đô thị, khu vui chơi giải trí. Thêm vào đó, đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam còn rất manh mún, cả nước có tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên 10 triệu hecta với khoảng 70 triệu thửa đất và gần 14 triệu hộ nông dân [19]. Với tình trạng này, nếu nhà nước và các cấp chính quyền không có các giải pháp tích tụ, tập trung các diện tích đất nhỏ lẻ để xây dựng cánh đồng mẫu lớn thì khó có thể khuyến khích nông dân mở rộng sản xuất, xây dựng nông trang, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. 3.4. Về thị trường tiêu thụ sản phẩm Sản xuất NNCNC sẽ tạo ra một số lượng nông sản lớn, nếu không được tính toán kỹ càng về thị trường sản phẩm làm ra sẽ không tiêu thụ hoặc khó tiêu thụ được. Thực tế ở Viện Nam hiện nay thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp còn hạn hẹp, không ổn định, khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh tế sản xuất một số sản phẩm còn thấp, chưa tương xứng với mức độ đầu tư. Phần lớn nông sản Việt Nam xuất khẩu mới chỉ ở dạng thô, sơ chế, giá trị gia tăng thấp, nhiều loại nông, lâm, thủy sản chưa có thương hiệu trên thị trường quốc tế. Mặt khác, khi hiện định thương mại tự do giữa Việt Nam với các nước có hiệu lực thì cạnh tranh về thị trường nông sản trong nước sẽ càng gia tăng. Theo tính toán của Bộ Công thương, các doanh nghiệp bao tiêu mới chỉ tiêu thụ 55% số lượng nông sản làm ra trong hợp đồng liên kết, số nông sản còn lại phải bán ở thị trường tự do đầy rủi ro và bất ổn. 3.5. Về sự liên kết hoạt động KH&CN giữa các thành phần tham gia Sự liên kết hoạt động KH&CN giữa các tỉnh/thành phố cũng như các thành phần tham gia (Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà tư vấn và nhà nông) khá rời rạc. Nhiều địa phương chưa xây dựng được kế hoạch hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức và cá nhân 40 nghiên cứu khoa học với cơ quan quản lý khoa học, cơ quan chuyển giao kết quả và tổ chức, cá nhân sử dụng kết quả nghiên cứu từ các đề tại, dự án. Mức độ liên kết giữa nghiên cứu KH&CN với giáo dục, đào tạo với sản xuất, kinh doanh ở lĩnh vực nông nghiệp còn hạn chế, thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu, phát triển, các trường đại học và doanh nghiệp, các hợp tác xã, nông dân... Do đó nhiều nhiệm vụ KH&CN chưa theo kịp những đòi hỏi từ thực tế sản xuất và đời sống. Tóm lại, những hạn chế, khó khăn và bất cập trên có nhiều nguyên nhân song cơ bản là do nhận thức của các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp về tầm quan trọng của NNCNC chưa thật đầy đủ. Hệ thống cơ chế, chính sách, nhất là chính sách về đất đai, thuế, tín dụng cho phát triển NNCNC còn nhiều hạn chế, thủ tục rườm rà, chưa tạo được môi trường kinh doanh năng độngvà thông thoáng. Ứng dụng NNCNC ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là lĩnh vực còn tương đối mới mẻ, do đó các nguồn lực bảo đảm cho phát triển NNCNC chưa thể đáp ứng kịp thời. Hoạt động đào tạo nghề cho nông dân chưa theo kịp đòi hỏi thực tiễn, hầu hết nông dân chưa đủ điều kiện tiếp cân với công nghệ mới. 4. Một số giải pháp đề xuất về phát triển nông nghiệp công nghệ cao 4.1. Nâng cao nhận thức của chính quyền và nhân dân Cần nâng cao nhận thức và sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với việc hoàn thiện quy hoạch xây dựng các khu, điểm, vùng ứng dụng NNCNC. Tăng cường và đổi mới hình thức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước có liên quan đến phát triển kinh tế NNCNC nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và tạo sự đồng thuận trong hành động của toàn xã hội về phát triển NNCNC. 4.2. Tăng cường đầu tư cho KH&CN liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp Đẩy mạnh việc nghiên cứu, chọn, tạo các giống cây, con mới có năng suất, chất lượng cao và thích ứng với biến đổi khí hậu, phù hợp với định hướng phát triển từng địa phương. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các trang trại, các hợp tác xã đầu tư phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến nông, lâm nghiệp và thủy sản, khuyến khích nông dân mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, bảo đảm cho nông nghiệp phát triển cao và bền vững. 41 4.3. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực Nhà nước cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng tiếp cận, vận hành và ứng dụng kết quả chuyển giao công nghệ mới trong sản xuất và quả lý phù hợp với điều kiện, nhu cầu của từng vùng, miền. Trong thời gian tới, nhà nước cần có chính sách đào tạo lại lao động, nhất là ở những vùng đưa công nghệ cao vào nông nghiệp. Mặt khác, cần giải quyết tốt lực lượng lao động dư thừa trong quá trình tham gia tích tụ tập trung ruộng đất, áp dụng tiến bộ KH-KT. Đồng thời, đẩy mạnh việc đào tạo và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ KH&CN trong nông nghiệp. Ưu tiên đào tạo cán bộ KH&CN trong 3 lĩnh vực: Lao động quản lý, nghiệp vụ kỹ thuật và trực tiếp sản xuất. Kết hợp giữa đào tạo với phân bố và sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ KH&CN theo hướng gắn giữa nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất nông nghiệp của khu NNCNC. Có chính sách thu hút, đãi ngộ, trọng dụng và tôn vinh nhân tài theo hướng tạo môi trường làm việc và gắn với lợi ích lâu dài. 4.4. Bố trí nguồn vốn và tín dụng Bố trí nguồn vốn và tín dụng đủ ngưỡng là yêu cầu cấp thiết đặt ra. Trước hết, cần đẩy mạnh đầu tư từ NSNN cho xây dựng kết cấu hạ tầng chính yếu ở các khu NNCNC, đồng thời sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của ngân sách cho từng chương trình xây dựng kết cấu hạ tầng, chuyển giao KH&CN. Tổ chức kịp thời cung ứng tín dụng với lãi xuất hợp lý và gia tăng thêm tỷ trọng đối với các hình thức cho vay vốn dài hạn, trung hạn nhằm hỗ trợ vốn cho nông dân, doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện đầu tư vào các vùng chuyên về NNCNC. Đồng thời, có cơ chế để các doanh nghiệp nông nghiệp, hộ nông dân dành một phần vốn cho nghiên cứu khoa học (chủ yếu là nghiên cứu ứng dụng, đổi mới công nghệ và đào tạo nhân lực). 4.5. Hoàn thiện cơ chế chính sách Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng trong thời gian tới cần tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cơ chế chính sách phục vụ phát triển NNCNC. Cụ thể có các chính sách hỗ trợ về vốn, tín dụng, thuế, hỗ trợ cán bộ kỹ thuật... Quan tâm đến việc nhân mô hình,chuyển giao công nghệ cho nông dân. Chú trọng việc liên kết, hợp tác giữa nông dân với nông dân, nông dân với doanh nghiệp. Rà soát, điều chỉnh và nâng cao chất lượng quy hoạch các khu NNCNC, gắn với nghiên cứu thị trường, bảo đảm tính khả thi, hạn chế dần việc sản xuất theo phong trào, tự phát dẫn đến tình trạng “được mùa mất giá”. Nâng cao hiệu lực trong việc quản lý chất lượng nông sản, vệ sinh an toàn thực phẩm. Đối với các địa phương cũng cần có những chính sách cụ thể để ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển, 42 trong đó phải liên kết chặt chẽ giữa: Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà tư vấn và nhà nông. 4.6. Cải cách thủ tục hành chính Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố then chốt để đẩy mạnh phát triển NNCNC. Cụ thể cần tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực doanh nghiệp và các nhà đầu tư, bãi bỏ những thủ tục rườm rà, nhanh chóng cải thiện môi trường kinh doanh một cách thiết thực. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ, xây dựng phát triển hệ thống doanh nghiệp nông nghiệp có đủ khả năng kết nối sản xuất, có chính sách bảo hộ hợp lý đối với nông sản trên cơ sở tuân thủ các quy định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và các chính sách hỗ trợ khác. 4.7. Mở rộng liên kết hợp tác quốc tế Thực hiện mở rộng liên kết hợp tác quốc tế về phát triển NNCNC nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức khoa học, chính phủ và phi chính phủ (được Chính phủ Việt Nam cho phép) trong khu vực và trên thế giới về KH&CN trong nông nghiệp. Tích cực tham gia các hoạt động hợp tác nghiên cứu KH&CN, tập trung nghiên cứu các đề tài có nội dung gắn liền với phát triển NNCNC, có chế độ và chính sách thu hút, trọng dụng các chuyên gia giỏi, có trình độ cao, đặc biệt là các chuyên gia Việt Nam đang sống ở nước ngoài tham gia nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ KH&CN vào sản xuất nông nghiệp, phục vụ mục tiêu phát triển NNCNC. 4.8. Phát triển thị trường tiêu thụ Củng cố thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp truyền thống, tăng cường công tác xúc tiến thương mại, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở sản xuất được tiếp cận, tìm kiếm thị trường, mở rộng thị trường trong nước và ngoài nước, cung cấp thông tin thị trường và thị trường tiêu thụ cho người sản xuất. Khuyến khích thành lập các doanh nghiệp đầu mối nhằm cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm cho các cơ sở sản xuất bên cạnh việc hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất ứng dụng CNTT, xây dựng thương hiệu, đăng ký mã vạch, mã vùng, không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế. 4.9. Triển khai chính sách “dồn điền, đổi thửa” Việt Nam có hàng triệu thửa ruộng với diện tích chia nhỏ, do đó trong thời gian tới cần xem xét và thực hiện có hiệu quả chính sách “dồn điền, đổi thửa” nhằm xử lý vấn đề đất đai manh mún, thúc đẩy tích tụ, tập trung ruộng đất để giúp người nông dân có cơ hội sản xuất lớn và ứng dụng công nghệ trong sản xuất. Đồng thời tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống. 43 KẾT LUẬN Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng, đặc biệt trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và trên toàn thế giới. Ở những nước phát triển, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng nhờ ứng dụng NNCNC, khối lượng nông sản của những nước này đã không ngừng tăng lên nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực. Chính vì vậy, NNCNC đang là hướng đi tất yếu để đạt được mục tiêu cả về khối lượng và chất lượng. Không nằm ngoài xu hướng phát triển của thế giới, nền nông nghiệp Việt Nam đã và đang chuyển mình bằng việc tiếp cận những công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới. Bằng cách tìm hiểu những khái niệm toàn diện về NNCNC cũng như tình hình phát triển NNCNC của một số quốc gia điển hình về phát triển NNCNC, tổng luận đã cung cấp bức tranh tổng thể về xu hướng NNCNC của thế giới và tại Việt Nam. Tổng luận giới thiệu một số công nghệ đã làm thay đổi nền nông nghiệp thế giới và những xu hướng NNCNC trong tương lai hướng đến năng suất, chất lượng, giảm sức lao động cho con người, đảm bảo tính cạnh tranh cho nền nông nghiệp Việt Nam với các quốc gia trên thế giới, một số chính sách của Chính phủ được ban hành về việc thành lập các khu NNCNC, thu hút các doanh nghiệp tham gia chuyển giao công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực NNCNC về tài chính, đất đai, thuế, thúc đẩy việc nâng cao năng lực và tri thức cho người dân. Một số khu NNCNC đã được hình thành và bước đầu hoạt động có hiệu quả như khu NNCNC Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Hải Phòng... Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, phát triển NNCNC còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại như nguồn vốn, nhân lực, đất đai, thị trường và sự phối hợp, liên kết giữa các thành phần. Để giải quyết vấn đề trên, Tổng luận đã đưa ra 09 nhóm giải pháp đề xuất nhằm từng bước khắc phục những thách thức, khó khăn và thúc đẩy mạnh mẽ việc ứng dụng NNCNC, tiếp cận trình độ các nước nông nghiệp mạnh trong khu vực và trên thế giới như nâng cao nhận thức của chính quyền và nhân dân, tăng cường đầu tư cho KH&CN liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, bố trí nguồn vốn và tín dụng, hoàn thiện cơ chế chính sách, cải cách thủ tục hành chính, mở rộng liên kết hợp tác quốc tế, phát triển thị trường tiêu thụ, triển khai chính sách “dồn điền, đổi thửa”. Biên soạn: Nguyễn Thị Minh Phượng Trung tâm Phân tích Thông tin 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XII, Luật Công nghệ cao số 21/2008/QH12. [2]. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Nghị định số 99/2003/NĐ-CP ban hành Quy chế Khu công nghệ cao. [3]. Vụ Khoa học Công nghệ-Bộ NN& PTNT, Đề án “Phát triển nông nghiệp công nghệ cao đến năm 2020”. [4]. Viện Chiến lược và chính sách KH&CN-Bộ KH&CN, Kỷ yếu kết quả nghiên cứu chiến lược và chính sách KH&CN 2004-2005, trang 177. [5]. Ngô Thanh Tứ (2016), Áp dụng công nghệ cao trong nền nông nghiệp –hướng đi đột phá của nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, Hội Liên hiệp KHKT Việt Nam. [6]. Farm Industry News (2011), 20 technologies changing agriculture (Online), [7]. NASATI (2013), Tổng luận số 9: Thành tựu phát triển nông nghiệp công nghệ cao của Israel - Một số giải pháp rút ra cho ngành nông nghiệp Việt Nam. [9]. Tạ Thế Hùng: Kinh nghiệm phát triển các khu NNCNC ở Trung Quốc, Tạp chí KH&CN Việt Nam, số 13/2013, trang 45-48 [10]. High Tech Farming in Singapore (2009) (Online), singapore.html [11]. Tạp Chí Tài Chính (2013), Chính sách mới thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; sach/chinh-sach-moi-thu-hut-doanh-nghiep-dau-tu-vao-nong-nghiep-nong-thon- 39434.html. [12]. Hiệp hội Nông dân (2017), Lâm Đồng: Tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao, phat-trien-nong-nghiep-cong-nghe-cao [13]. Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao (2011), Khu Nông nghiệp Công nghệ cao mở ra triển vọng mới cho Ngành Nông nghiệp; [14]. Cổng thông tin điện tử chính phủ (2016), Hà Nội phấn đấu năm 2020 nông nghiệp công nghệ cao đạt 35%. [15]. Bộ Tài chính, Dự án Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao VinEco-Hải Phòng, 2016 [16]. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê, 2016. [17]. Lê Thu Thủy: Để nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Tạp chí kinh tế và dự báo, số 24, trang 34. [18]. Phan Đức: Nông nghiệp khó thu hút đầu tư ngoại, nghiep-kho-thu-hut-dau-tu-ngoai-373258/ [19]. Đặng Hùng Võ: Đã đến lúc bỏ chính sách hạn điền, den-luc-bo-chinh-sach-han-dien-499097.html [20]. Phan Văn Hiển, Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, tháng 12/2014, trang 65-57.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftai_lieu_nong_nghiep_cong_nghe_cao_xu_the_tat_yeu_cua_nong_n.pdf
Tài liệu liên quan