Ngoài ra, các yếu tố sinh học trừ sâu như các vi sinh vật và thực vật thường có sẵn và rất
phổ biến ở mọi nơi, mọi lúc, vì vậy nguồn khai thác rất dễ dàng và hầu như vô tận. Đồng thời
với các chế phẩm được sản xuất theo quy mô công nghiệp, hiện nay người ta vẫn có thể dùng
các phương pháp chế biến thô sơ để sử dụng. Có thể ra đồng thu thập các sâu bị chết vì nấm
bệnh, nghiền nát trong nước rồi phun lên cây để trừ sâu. Các cây thuốc lá, thuốc lào, hạt xoan,
rễ dây thuốc cá băm nhỏ và đập nát ngâm lọc trong nước để phun cũng rất có hiệu quả.
Nhận thức rõ vai trò to lớn của thuốc trừ sâu sinh học, ngay từ đầu những năm 1980,
Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu, đưa vào sử dụng và đã mang lại hiệu quả tích cực cho
người nông dân, giảm một phần ô nhiễm môi trường. Đặc biệt, từ năm 1990 trở lại đây, việc
nghiên cứu, ứng dụng thuốc trừ sâu sinh học đã được Nhà nước và các cơ quan khoa học
quan tâm đầu tư và đã đạt được những kết quả bước đầu. Hệ thống văn bản quản lý cũng
được xây dựng, ban hành và dần hoàn thiện chặt chẽ theo các chuẩn mực quốc tế.
Theo thống kê, số lượng thuốc trừ sâu sinh học được đăng ký tại Việt Nam gia tăng rất
nhanh kể từ năm 2000, trong đó có nhiều sản phẩm được nghiên cứu, sản xuất trong nước.
Tuy vậy, theo đánh giá của các nhà kinh doanh thuốc BVTV, dù số lượng các thuốc BVTV
sinh học tăng nhanh nhưng doanh số chỉ dưới trên dưới 5% tổng doanh số thuốc BVTV.
Nghĩa là hiện nay dù thuốc BVTV sinh học tốt, an toàn môi trường nhưng người nông dân
lại ít sử dụng. Ngoài ra, số lượng sản phẩm sản xuất trong nước chưa nhiều và tương xứng
với tiềm năng của Việt Nam, chúng ta vẫn phải phụ thuộc nhiều vào sản phẩm ngoại nhập
vừa đắt đỏ vừa thiếu chủ động trong phòng ngừa sâu bệnh.
Do vậy, chúng ta cần có giải pháp đồng bộ để đẩy nhanh việc sản xuất và ứng dụng các
sản phẩm sinh học BVTV phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững, cụ thể :
1. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ hơn nữa hoạt động nghiên cứu và triển khai các sản
phẩm thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học.
Song song với việc đẩy mạnh ứng dụng các thuốc BVTV sinh học cũng cần đầu tư
nghiên cứu, ứng dụng các sản phẩm phân bón sinh học, cung cấp cho sản xuất nông nghiệp
bền vững, tạo ra các sản phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phục vụ xuất khẩu.
2. Có chính sách hỗ trợ và ưu đãi các doanh nghiệp đầu tư khai thác các nguồn nguyên
liệu tái tạo từ thiên nhiên, nhất là các nguồn mà Việt Nam có lợi thế như các loại dầu béo,
tinh dầu, thảo mộc để sản xuất thuốc BVTV sinh học.
3. Bổ sung chính sách hỗ trợ, ưu tiên đăng ký sản phẩm; hỗ trợ tiếp nhận công nghệ và
vay vốn để xây dựng các dây chuyền sản xuất sản phẩm sinh học trên quy mô lớn ngay
trong nước nhằm ổn định chất lượng và hạ giá thành.
4. Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức và kiến thức cho người dân. Tăng cường
xây dựng và nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp sạch, sử dụng sản phẩm có nguồn
gốc sinh học.
46 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tài liệu Thuốc trừ sâu sinh học hướng tới nền nông nghiệp bền vững, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
vẫn giữ nguyên theo
COD 2006/136, nhưng có một số chỉnh sửa quan trọng. Quá trình đăng ký được chia
thành hai phần: Phụ lục 1 bao gồm các hoạt chất và sự cho phép các sản phẩm bảo vệ thực
vật của các nước thành viên. Doanh nghiệp đệ trình một hồ sơ mở rộng, bao gồm tất cả
các thông tin liên quan đến hoạt chất và ít nhất là một sản phẩm đại diện. Hồ sơ được gửi
đến một cơ quan có nhiệm vụ báo cáo của nước thành viên do công ty lựa chọn. Cơ quan
quản lý thuốc trừ sâu tại nước thành viên đó thực hiện đánh giá rủi ro và gửi lại Dự thảo
Báo cáo đánh giá (DAR) cùng với khuyến nghị cho người nộp đơn và các nước thành
viên khác.
Kể từ năm 2002, Cơ quan an toàn thực phẩm châu Âu (EFSA) chịu trách nhiệm về
đánh giá rủi ro thông qua một quá trình đánh giá khoa học do các nhà khoa học thuộc
EFSA và các chuyên gia từ các nước thành viên tiến hành. Kết quả sẽ cho ra một tài liệu
hướng dẫn gửi đến Nhóm công tác của Ủy ban thường trực về Chuỗi thực phẩm và thú y
của Ủy ban châu Âu. Cơ quan chủ quản thuộc các nước thành viên sẽ quyết định có phê
chuẩn hoạt chất đó hay không và nếu thành công nó sẽ được bổ sung vào Phụ lục 1 của
31
Chỉ thị 91/414. Sự phê chuẩn sản phẩm được cân nhắc ở cấp quốc gia sử dụng các tiêu
chuẩn hài hòa về yêu cầu dữ liệu đã được quy định trong luật pháp của EU (ví dụ như
94/89/EC quy định độc chất đối với động vật có vú, bao gồm cả tiếp xúc với người tiêu
dùng; 94/37/EC quy định các đặc tính lý hóa; 95/36/EC - số phận và hành vi; 96/12/EC -
độc học sinh thái). Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng nếu có các yêu cầu dữ liệu, các nước
thành viên có thể diễn giải theo cách họ muốn. Trong khi vi khuẩn có một tập hợp các yêu
cầu dữ liệu riêng biệt và thống nhất ở cấp EU, nhưng ở đây lại không có một tập hợp yêu
cầu dữ liệu cụ thể đối với các chiết xuất từ thực vật, các pheromone và hóa chất truyền tin.
Yêu cầu dữ liệu hóa học đang được sử dụng, nhưng nhiều trường hợp có thể không được
trình bày như một phần của dữ liệu.
Những bất cập trong hệ thống đăng ký EU
Khoảng thời gian hoàn thành thủ tục đăng ký là vấn đề mà các doanh nghiệp nhỏ và
vừa quan tâm chủ yếu do họ muốn có doanh thu càng nhanh càng tốt để bù đắp các chi
tiêu nghiên cứu và phát triển. Ngành công nghiệp phàn nàn rằng, quá trình đăng ký hiện
nay đối với các tác nhân kiểm soát sinh học vi sinh ở EU là tốn kém và mất nhiều thời
gian. Quá trình đăng ký kéo dài gây nhiều trở ngại vì nó trì hoãn thời gian bắt đầu thu
được lợi nhuận từ đầu tư mà các công ty đã bỏ ra trong tiến hành nghiên cứu và phát triển
(REBECA, 2008). Kinh nghiệm từ các chất kiểm soát sinh học được dự án REBECA cân
nhắc cho thấy, khoảng thời gian từ khi đệ trình hồ sơ đến đưa vào Phụ lục 1 hay được cấp
giấy đăng ký quốc gia trung bình là 87,7 tháng, xê dịch trong khoảng từ 57-121 tháng.
Khoảng thời gian trung bình để đăng ký ở EU là 75 tháng so với 28 tháng ở Hoa Kỳ
(Hokkanen, 2008). Ngoài ra còn có sự khác biệt đáng kể về khoảng thời gian đăng ký
giữa các nước thành viên. Đức và Anh được coi là nơi có các tổ chức đăng ký làm việc
tương đối hiệu quả.
Trong thị trường nội khối EU, điều được hy vọng là một sản phẩm đã được một nước
thành viên thông qua thì nó có thể được đăng ký dễ dàng tại các nước thành viên khác. Ủy
ban châu Âu cho rằng, sự công nhận lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên hoạt động còn
chưa hiệu quả và hoạt động cấp phép sản phẩm quốc gia dẫn đến làm tăng gấp đôi số
lượng công việc tại các nước thành viên và dẫn đến những khác biệt về tính khả dụng của
các sản phẩm bảo vệ thực vật trên toàn EU (EC, 2005).
Một số vấn đề phát sinh do sự tồn tại 27 cơ quan quản lý trên toàn EU với các mức độ
nguồn lực khác nhau và thường là không đầy đủ để theo đuổi các thủ tục cụ thể của từng
quốc gia. Một số quốc gia thành viên chưa hoàn toàn nhất trí với nguyên tắc công nhận
lẫn nhau. Sự chậm trễ để được phép đưa vào danh sách trong Phụ lục 1 cũng là một yếu tố
và động cơ để thúc đẩy nhanh dẫn đến các chất được phê chuẩn chỉ cho một mục đích sử
dụng thay vì nhiều mục đích sử dụng. Sức ép tiềm ẩn là các cơ quan điều hành thống nhất
với cam kết xúc tiến quy định trên cơ sở một nước thành viên, trong khi các nhà hoạch
định chính sách lại dường như thiên về một cách tiếp cận hài hòa hơn.
Trong chừng mực nào đó, các nhà quản lý đang phát triển các liên kết không chính
thức, thông qua các ủy ban của EU và OECD và trên cơ sở song phương. Bỉ, Đan Mạch,
32
Đức, Hà Lan, Thụy Điển và Vương quốc Anh thường xuyên tham dự, trong khi Pháp và
Hungary chỉ hãn hữu. Các liên kết này là cơ sở trao đổi thông tin và dẫn đến chia sẻ công
việc trong vai trò Báo cáo viên.
Một cơ chế sẵn có để làm hài hòa đó là sử dụng EPPO (Tổ chức bảo vệ thực vật châu
Âu). Được thành lập năm 1951, EPPO là một tổ chức liên chính phủ với 50 thành viên và
một ban thư ký gồm 12 người có trụ sở tại Paris, được tài trợ bởi các khoản đóng góp từ
các chính phủ thành viên. Trong lĩnh vực bảo vệ thực vật, EPPO đã phát triển một số tiêu
chuẩn để các cơ quan đăng ký quốc gia sử dụng. Ban an toàn thuốc trừ sâu (PSD) đã áp
dụng một số thủ tục của Vương quốc Anh và đã biến chúng thành của EPPO, đặc biệt là
liên quan đến hiệu lực sinh học, ví dụ các hướng dẫn khảo nghiệm và liều lượng tác dụng
tối thiểu. Có ý kiến cho rằng EPPO có cơ chế phổ biến hiệu quả hơn so với EU.
Mặc dù EU được cho là một thị trường nội bộ, nhưng nó đa dạng về địa lý và thuốc trừ
sâu được phun trong điều kiện khí hậu này sẽ không nhất thiết có tác dụng trong điều kiện
khác hoặc ít ra phát huy hiệu quả thấp. Một giải pháp được đề xuất đó là đặt ra các vùng
khí hậu trong đó có thể công nhận lẫn nhau. Ý tưởng này bắt nguồn từ một bài báo của
Hiệp hội Bảo vệ cây trồng Anh có chỉ ra vùng Bắc Âu có khí hậu tương tự như của Anh.
Bài viết này đã được chấp nhận và tạo cơ hội cho các công ty có thể sử dụng các dữ liệu
Bắc Âu trong bản đệ trình lên cơ quan quản lý mà không cần phải cung cấp cho mỗi khảo
nghiệm một chứng minh riêng rằng các điều kiện khí hậu tương đương với ở Anh. Rộng
hơn, khí hậu trong một vùng có thể được coi là tương đương đối với các mục đích dữ liệu
về tính hiệu lực và sẽ được dùng để hỗ trợ cho sự chấp nhận dữ liệu có hiệu lực giữa các
nước nằm trong một vùng. Tuy nhiên, việc quy hoạch vùng gặp phải sự phản đối chính trị
đáng kể và nhiều vấn đề liên quan đến việc triển khai thực hiện nó cần được giải quyết.
3.3. Hướng dẫn của FAO về đăng ký thuốc trừ sâu sinh học tại các nước Đông Nam
Á
Đăng ký thuốc trừ sâu sinh học là một quy trình. Theo đó, các cơ quan chức năng (như
các cơ quan cấp quốc gia hay các cơ quan được chỉ định ở cấp tỉnh hoặc vùng) phê chuẩn
việc thương mại và sử dụng một loại thuốc trừ sâu sinh học, sau khi đã đánh giá toàn diện
về các dữ liệu khoa học cho thấy sản phẩm có hiệu quả đối với mục đích dự kiến và
không gây ra bất cứ rủi ro không thể chấp nhận đối với sức khỏe của người hay động vật
và đối với môi trường. Nếu trong quá trình đánh giá, các cơ quan chức năng xác định các
sản phẩm hay việc sử dụng chúng có thể gây ra những rủi ro không thể chấp nhận hay các
rủi ro vượt quá lợi ích sử dụng, thì các đơn đăng ký đó không được phê duyệt.
Yếu tố quyết định việc phát triển thành công một dòng sản phẩm thuốc trừ sâu sinh học
là cần xác định được hoạt chất vi sinh đó sẽ có hiệu lực trong điều kiện thích hợp với nơi
mà nó sẽ được sử dụng. Thông thường, điều này có nghĩa là mô tả đặc điểm và khảo
nghiệm các chủng phân lập tại địa phương; chính vì vậy các quy định đối với thuốc trừ
sâu sinh học trong một chừng mực nào đó phải có nét đặc trưng riêng của quốc gia. Mặc
dù các quy định cụ thể của quốc gia là một chỉ tiêu về chủ quyền quốc gia, nhưng ở đây
33
vẫn cần phải có sự hài hoà giữa chúng để các quy định của các nước phải có các tiêu
chuẩn, chuẩn mực và thủ tục (lấy mẫu và thử nghiệm) tương tự như nhau. Điều đó tạo
thuận lợi cho thương mại xuyên biên giới đối với sản phẩm cây trồng và tạo điều kiện cho
các cơ quan đăng ký của một quốc gia hay khu vực có thể sử dụng các dữ liệu về hiệu lực
và độc tính được cung cấp trong đơn đăng ký tại một quốc gia hay khu vực khác, với điều
kiện người nắm nguồn gốc dữ liệu này cho phép và nước hay khu vực đăng ký mới muốn
thực hiện điều đó. Như vậy sẽ tránh khảo nghiệm trùng lặp không cần thiết cũng như
khuyến khích và tạo điều kiện đăng ký thuốc trừ sâu sinh học.
Chính phủ các nước cần áp dụng các luật định cần thiết đối với việc đăng ký thuốc trừ
sâu sinh học tuân theo hướng dẫn chung và các thủ tục như đối với thuốc trừ sâu, bao gồm
cả việc cấp giấy phép cho kế hoạch kiểm tra. Tuy nhiên, chính phủ các nước nên đưa ra
những thủ tục phù hợp với các yêu cầu và nhu cầu cụ thể riêng của mình; các quy định
đăng ký cần tính đến các điều kiện địa phương, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ văn
hóa, điều kiện khí hậu và các phương án kiểm soát dịch hại phù hợp và thay thế cùng với
các thiết bị bảo vệ. Vì vậy, yêu cầu dữ liệu để đăng ký cần được đưa ra sao cho phù hợp
với các điều kiện cụ thể của nước tiến hành đăng ký. Nếu các điều kiện sử dụng, điều kiện
khí hậu, sâu hại, các phương pháp ứng dụng hay khả năng rủi ro là khác nhau, khi đó yêu
cầu dữ liệu cũng khác nhau giữa hai nước hay khu vực.
3.3.1. Phạm vi của hệ thống đăng ký
Các loại thuốc trừ sâu sinh học
Thuốc trừ sâu sinh học là những tác nhân gây bệnh có nguồn gốc thực vật hoặc vi
khuẩn được sử dụng để chống lại các sinh vật gây hại cho thực vật. Cách thức hoạt động
của loại sản phẩm này khác với các loại thuốc trừ sâu hóa học tổng hợp, do đó các yêu cầu
dữ liệu cần thiết để đăng ký cũng khác biệt. Về tổng thể, các loại tác nhân kiểm soát dịch
hại sinh học cần đăng ký tuân theo các quy định và luật định bao gồm:
i) Các hoạt chất thực vật độc hại đối với sâu bệnh và được chiết xuất từ thực vật (thuốc
trừ sâu thực vật)
ii) Thuốc trừ sâu vi sinh (tuyến trùng, tảo, động vật nguyên sinh, vi khuẩn, nấm và
virus),
iii) Các loại pheromon và hóa chất truyền tin
iv) Các tác nhân kiểm soát sinh học không xương sống (macrobials) như côn trùng
hoặc nhện.
Theo các quy định nghiêm ngặt, chỉ có các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên như thực
vật hay vi khuẩn và không chứa các gốc hóa học tổng hợp mới được coi là thuốc trừ sâu
sinh học. Một số nước còn quy định các Chất bảo vệ được chuyển vào thực vật (Plant-
Incorporated-Protectants - PIP) trong cây trồng biến đổi gen là thuốc trừ sâu sinh học.
Quy trình đăng ký đối với thuốc trừ sâu sinh học nên tính đến các tính chất sinh học cụ
thể của các tác nhân khống chế tự nhiên. Việc cần đăng ký đối với thuốc trừ sâu sinh học
bao gồm cả các loại thuốc trừ sâu vi sinh (vi khuẩn, virus, vi nấm và động vật nguyên
sinh). Trong số này có thể bao gồm các sản phẩm vi sinh vật GM, do loại này đang trở
34
nên phổ biến. Các sản phẩm GM này có thể được coi là những thực thể sinh thái mới lạ
nên cần có cách tiếp cận thận trọng hơn so với các vi khuẩn không biến đổi gen. Các loại
thuốc trừ sâu thảo mộc đôi khi được đăng ký như thuốc trừ sâu sinh học, mặc dù bản chất
hóa học chúng có lẽ phù hợp hơn với đăng ký các mô hình hóa học chuẩn do có lịch sử sử
dụng lâu đời trong nông nghiệp. Tuy nhiên, việc đăng ký thường không bao hàm các loại
động vật chân đốt có lợi đặc hữu như côn trùng ăn mồi, vật ký sinh và giun tròn.
Các cơ quan quản lý tiên tiến như EU, Canada và Hoa Kỳ có các yêu cầu dữ liệu đặc
biệt đối với đăng ký thuốc trừ sâu sinh học. OECD, EU và NAFTA đã có các hiệp định
đồng thuận về quy trình hài hòa quy định đối với các loại thuốc trừ sâu sinh học khác
nhau. Tuy nhiên, với sự đa dạng lớn về các tác nhân kiểm soát dịch hại sinh học nên vẫn
còn chưa rõ ràng là loại sản phẩm nào được phân loại là thuốc trừ sâu sinh học.
3.3.2. Xuất xứ của các hoạt chất sinh học
Khuôn khổ hệ thống đăng ký công nhận các vi sinh vật bản địa (phát sinh tại nước hay
khu vực đăng ký) hay các vi sinh vật không phải của bản địa (phát sinh tại các nước khác
hay khu vực khác) là các hoạt chất sinh học, nhưng các thủ tục khác nhau được áp dụng
tùy theo xuất xứ của chúng. Mục đích là để đảm bảo rằng: thứ nhất, các hoạt chất sinh học
xuất xứ bản địa đã được phân lập tại vùng (quốc gia hay khu vực) đã tiến hành đăng ký và
thứ hai, việc nhập khẩu các vi sinh vật không phải bản địa phải được phê chuẩn theo các
quy định hay thủ tục an toàn sinh học thích hợp.
Tuy nhiên, định nghĩa vi sinh vật bản địa và vi sinh vật không phải bản địa phản ánh sự
linh hoạt của hệ thống đăng ký hài hòa. Các định nghĩa cần được công nhận một cách
thích hợp, đặc biệt bằng cách bổ sung tên nước, các nước hay các khu vực trong định
nghĩa.
Có trường hợp xảy ra là các vi sinh vật được gọi là bản địa đã được đưa vào một nước
hay khu vực đăng ký mà không được phép hay không có thông báo đến các cơ quan chức
năng và thực chất thuộc loại "không phải bản địa", mặc dù đã được phát tán vào môi
trường. Điều này sẽ được khắc phục một phần bằng yêu cầu giống nuôi cấy đó đã được
lưu vào trong bộ sưu tập giống được quốc gia công nhận hoặc cần phải đáp ứng các tiêu
chuẩn đăng ký cụ thể áp dụng đối với các loại thuốc trừ sâu sinh học sản xuất trong nước.
Nếu các chủng phân lập của một hoạt chất vi sinh được xác định và mô tả đặc trưng tại
một phòng thí nghiệm hay tổ chức nghiên cứu bên ngoài nước xuất xứ, cần chú ý lưu giữ
các hồ sơ chuyển giao và hồi hương làm bằng chứng về xuất xứ cần thiết để đăng ký.
Điều này đặc biệt quan trọng nếu việc chọn lọc chủng cuối cùng đối với sản phẩm được
tiến hành ở nước ngoài.
3.3.3. Các yêu cầu dữ liệu công thức để đăng ký thuốc trừ sâu sinh học
Bất cứ loại thuốc trừ sâu nào đang lưu hành phục vụ cho các mục đích nghiên cứu hoặc
thương mại đều dưới ba dạng công thức:
- Dữ liệu về chất/sinh vật hoạt hóa và công thức;
- Công thức kỹ thuật;
- Sản phẩm công thức trên thị trường.
35
Trong một số hệ thống quản lý như hệ thống của EU, một danh sách các thành phần hoạt
hóa đã phê duyệt được các cơ quan chức năng công bố dựa trên việc xem xét hiệu lực thực
chất của chúng và đặc biệt chú trọng đến các rủi ro về các tác động không chủ đích của
chúng. Chỉ có các sản phẩm chứa các thành phần hoạt hóa đã được phê chuẩn mới có thể đệ
trình để đăng ký cho các mục đích thương mại. Tuy nhiên, tại một số nước tiến hành đăng
ký hoạt chất và sản phẩm cùng một lúc, các dữ liệu về thành phần hoạt chất và sản phẩm
công thức được đánh giá kết hợp.
Cơ cấu đăng ký nên được thiết kế linh hoạt để cho phép đăng ký theo trình tự hoặc đăng
ký đồng thời cả ba dạng công thức trên. Tuy nhiên, một số dạng thuốc trừ sâu sinh học, như
chủng Aspergillus flavus, không có công thức loại công nghiệp. Hoạt chất sinh học hình
thành trực tiếp trên hạt, đó là sản phẩm. Một số loại khác, ví dụ Metarhizium có vật liệu loại
công nghiệp bao gồm các bào tử được bảo quản trong dầu.
Hồ sơ đánh giá rủi ro, thông tin nguy cơ hay phơi nhiễm về sản phẩm bao gồm:
- Các nghiên cứu khoa học của tổ chức đăng ký hoặc của các phòng thí nghiệm phù hợp
với các tiêu chuẩn GLP (Thực hành tốt phòng thí nghiệm - good laboratory practice);
- Khảo nghiệm thực địa để đánh giá hành vi tồn lưu và dư lượng hoặc tính hiệu lực của
một hoạt chất;
- Các bài báo công bố các phát hiện liên quan đến việc trả lời các câu hỏi theo quy định
hoặc là các bài báo đơn lẻ hoặc cũng có thể là các bằng chứng;
- Các thông tin cụ thể về nơi ứng dụng sản phẩm;
- Chứng minh khoa học về tính liên quan.
Các yêu cầu dữ liệu đối với chất/vi sinh vật hoạt hóa:
- Nhận dạng và độ tinh khiết;
- Các tính chất vật lý và hóa học (tính chất sinh học);
- Các phương pháp phân tích;
- Độc chất học (tính lây nhiễm và khả năng gây bệnh);
- Dư lượng trong thực vật;
- Độc hại sinh thái;
- Hành vi trong môi trường.
Các yêu cầu dữ liệu đối với sản phẩm công thức:
- Nhận dạng và thành phần công thức;
- Các đặc tính lý hóa;
- Ghi nhãn và đóng gói;
- Các phương pháp phân tích;
- Dữ liệu về tính hiệu lực;
- Độc chất học;
- Tác động đến các sinh vật không chủ đích.
Các yêu cầu dữ liệu đối với vi sinh vật
Phần chính trong hồ sơ gồm:
- Mô tả chi tiết đặc điểm và nhận dạng vi sinh vật kèm theo các đặc tính của nó: mô tả
đặc điểm chủng loại; số tập hợp nuôi cấy; mô tả công nghệ sử dụng.
36
- Cung cấp tập hợp các tài liệu giúp hiểu rõ chủng loại vi sinh vật đăng ký nhằm hỗ trợ
cho việc đánh giá tiếp theo: các thông số kỹ thuật; công thức chi tiết; nếu vật liệu không
tương đương với loại sản phẩm thương mại hóa được sử dụng trong các nghiên cứu, điều đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận.
Các hình thức sử dụng dự kiến của sản phẩm:
- Cây trồng.
- Dạng công thức.
- Phương pháp áp dụng, tỷ lệ và khối lượng.
- Số lần và khoảng thời gian dừng giữa các lần áp dụng.
- Giai đoạn và mùa sinh trưởng.
- Khoảng thời gian trước thu hoạch.
Đăng ký ở cấp quốc gia hay khu vực:
Các yêu cầu dữ liệu phổ biến chung và các hệ thống đăng ký tương đương tính đến khả
năng hài hòa khu vực về đăng ký thuốc trừ sâu. Tính linh hoạt trong khuôn khổ đăng ký phụ
thuộc vào sự hội nhập khu vực có thể dựa trên ba điều kiện cơ bản dưới đây:
(a) Đăng ký tại cơ quan đăng ký quốc gia để được phê chuẩn một loại thuốc trừ sâu sinh
học tại một quốc gia cụ thể.
(b) Các quốc gia cùng đánh giá dữ liệu đệ trình, theo đó trách nhiệm đánh giá đơn đăng
ký cùng chia sẻ. Ví dụ, một nước có thể đánh giá về tính hiệu lực, nước khác tiến hành đánh
giá về độc tính động vật có vú.
(c) Hệ thống hài hòa khu vực là nơi có một ủy ban cấp khu vực ra các quyết định thay
mặt cho tất cả các nước thành viên. Nhưng mỗi một nước tham gia có quyền từ chối cho
đăng ký một loại thuốc trừ sâu nhất định, hoặc sửa đổi các điều kiện đăng ký.
Điều (c) phụ thuộc vào việc tồn tại các hệ thống đăng ký tương đương với các yêu cầu
dữ liệu chung. Tuy nhiên, mỗi một nước tham gia có quyền từ chối đưa sản phẩm đã đăng
ký khu vực vào danh sách quốc gia nếu việc sử dụng dự kiến không phù hợp hoặc nếu có
những yếu tố rủi ro đặc biệt. Trong trường hợp (b) nhất thiết phải có các yêu cầu dữ liệu phổ
biến chung, nhưng không nhất thiết phải đăng ký tương đương vì mỗi nước tham gia có thể
đưa ra quyết định độc lập.
3.3.4. Các yêu cầu quản lý đối với thuốc trừ sâu sinh học
Các yêu cầu quản lý tập trung vào các loại thuốc trừ sâu sinh học thực vật và vi sinh vật.
(i) Yêu cầu thông tin đối với thuốc trừ sâu sinh học có nguồn gốc thảo mộc
a. Tên của gốc thực vật; đặc điểm và nhận dạng của thuốc trừ sâu sinh học nguồn gốc
thảo mộc (hóa chất thực vật chính); sâu hại mục tiêu và cây trồng mục tiêu (hai mục này có
thể được ghi rõ trên giấy chứng nhận đăng ký hoặc trên tờ nhãn).
b. Tính hiệu lực của sản phẩm - cơ quan đăng ký chấp nhận về tính hiệu lực của thuốc
đối với sâu hại mục tiêu ở cây trồng mục tiêu. Điều này cần được ghi rõ trên giấy chứng
nhận và tờ nhãn, một khi đăng ký được phê chuẩn.
c. Thông tin đánh giá mức độ an toàn và tác động đến sức khỏe con người trong quá
trình sản xuất, đưa ra thị trường, bảo quản trong các kho chứa và trang trại cũng như áp
dụng tại các trang trại.
37
d. Thông tin đánh giá độ an toàn đối với động vật và môi trường.
(ii) Yêu cầu thông tin đối với thuốc trừ sâu vi sinh
a. Nhận dạng chủng loại sinh vật (ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài), cùng với tên phổ biến,
lịch sử về sự thay đổi tên đã được ghi lại; các đặc điểm hình thái, sinh hóa và phân tử.
b. Tính hiệu lực của sản phẩm - cơ quan đăng ký có thể chấp nhận về tính hiệu lực đối
với các sâu hại mục tiêu trên cây trồng mục tiêu, điều này cần được ghi rõ trên giấy chứng
nhận và tờ nhãn.
c. Thông tin sinh học
- Phương pháp nuôi cấy chủng vi sinh;
- Cây chủ và sinh vật chủ nuôi dưỡng chủng vi sinh đăng ký;
- Vùng sinh trưởng tự nhiên và phân bố toàn cầu của vi sinh vật và thông tin về các nước
sử dụng hoạt chất này trong kiểm soát sinh học;
- Khả năng sống lâu và các đặc tính đặc biệt như độc tính, khả năng gây dị ứng, hành vi
xâm thực hay thiệt hại đối với cây cối. Nếu chủng vi sinh được biết là có ảnh hưởng bất lợi,
cần chỉ dẫn để giảm thiểu tác động này;
- Khả năng thích ứng với khí hậu, ưa thích nơi cư trú, vật hậu học, thiên địch, số thế hệ
trong một năm, cơ chế phát tán, cách thức sống qua các chu kỳ không thuận lợi (như thời kỳ
đình dục, nghỉ, di cư, ... );
- Quan hệ họ hàng với các sinh vật khác để tạo thành quần hợp, khả năng sản sinh giống
lai; đối thủ cạnh tranh và thiên địch trong môi trường quản lý và tự nhiên;
- Các yêu cầu tập tính cụ thể, ví dụ trên đất, trong nước, đồng cỏ, rừng, bụi rậm, vùng
núi, đất canh tác...
d. Thông tin để đánh giá độ an toàn và tác động đến sức khỏe con người trong khi sản
xuất, vận chuyển, bảo quản trong các kho thương mại và các trang trại cũng như khi áp
dụng tại các trang trại.
Bất cứ đánh giá rủi ro môi trường nào cũng cần xét đến điều kiện cụ thể của từng nước,
như khí hậu hay vùng sinh thái.
e. Thông tin để đánh giá tính hiệu lực, kiểm tra chất lượng và lợi ích sử dụng
f. Các phương pháp quản lý chất lượng: cung cấp thông tin về các phương pháp đánh giá
chất lượng và độ tinh khiết.
(iii) Thông tin về các tác nhân kiểm soát sinh học (BCA) như côn trùng ăn mồi/ký sinh
trùng (quy định này có thể khác nhau giữa các nước)
Các thông tin cần thiết để có được giấy phép áp dụng một tác nhân kiểm soát sinh học
cần đáp ứng các yêu cầu quy định về thao tác, phát tán và giám sát kết quả.
a. Đặc điểm phân cấp cùng với phân loại (ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài) bao gồm tên phổ
biến và lịch sử về thay đổi tên, số hiệu mẫu bảo tàng hay bộ sưu tập giống.
b. Thông tin về các đặc tính vật lý: hình thái, biểu kiến, lưỡng hình giới tính, chiều cao,
chiều dài, trọng lượng, kích thước, cánh/không cánh.
c. Sinh thái học và chu kỳ sống của sinh vật bao gồm các đặc điểm hành vi như mối quan
hệ vật ăn thịt/vật mồi, thông tin về vòng đời, ví dụ như phương thức sinh sản, mùa sinh sản,
khả năng sinh sản (số trứng, con non, thế hệ) và tuổi thọ.
38
d. Thông tin về tính hiệu lực có ý nghĩa quan trọng nhằm ngăn ngừa việc sử dụng và giải
phóng tác nhân kiểm soát sinh học của động vật không xương sống không hiệu quả. Một
tác nhân kiểm soát sinh học được coi là có hiệu quả nếu nó có thể gây suy giảm mạnh ít
nhất là 10% số các sinh vật hại đang gây tổn hại trực tiếp và gián tiếp cho cây trồng hoặc
gây tổn thất thu hoạch. Tất cả các thông tin liên quan cần được cung cấp để đánh giá tính
hiệu lực của tác nhân kiểm soát sinh học đó. Thông tin tóm tắt về cây trồng, vật hại và trong
các điều kiện nào tác nhân có hiệu lực, vai trò và thế mạnh của tác nhân đó trong các
chương trình IPM.
e. Khu vực vật chủ. Cần cung cấp các thông tin đầy đủ về phạm vi vật chủ/vật mồi của
BCA. Các BCA đơn thực và ăn ít loại thức ăn được cho là ít gây ra những rủi ro tiềm ẩn đối
với các sinh vật không chủ đích, trong khi các BCA ăn tạp có thể ảnh hưởng gián tiếp và
trực tiếp.
f. Lối sống ăn thịt trong nhóm loài cùng sinh thái (Intra-guild predation). Cung cấp thông
tin đầy đủ về những tác động bất lợi của lối sống ăn thịt trong nhóm loài cùng sinh thái liên
quan đến các loài thiên địch cụ thể hoặc liên quan hoặc xác định từ nghiên cứu sinh học về
loài thiên địch xem có khả năng tác động bất lợi hay không. Cần đưa ra các kết luận liên
quan đến rủi ro.
g. Cạnh tranh và sự hoán vị. Kiểm tra các tài liệu xem có các ảnh hưởng cạnh tranh và
hoán vị đối với các loài thiên địch cụ thể hoặc liên quan, hoặc xác định từ nghiên cứu sinh
học về loài thiên địch xem có các ảnh hưởng bất lợi hay không.
h. Khả năng lai giống với các chủng hay các kiểu sinh học bản địa. Cung cấp các thông
tin về sự lai giống của loài thiên địch với các chủng hoặc kiểu sinh học bản địa của các loài
thiên địch tương tự hoặc có quan hệ họ hàng gần.
i. Ảnh hưởng đến thực vật. Cần cung cấp thông tin về tác động của thiên địch đến cây cối
nếu tác nhân kiểm soát sinh học đó có khả năng là một động vật ăn cỏ ngẫu nhiên và nếu có
khả năng về các tác động độc hại đối với thực vật.
k. Thông tin về đánh giá lợi ích và rủi ro môi trường. Thông tin về vai trò của tác nhân
trong hệ sinh học gốc, chủng loại thiên địch (vật dạng ký sinh, vật ăn thịt, vật gây bệnh),
chủng loại sinh vật chúng tấn công, tác dụng tấn công vào vật chủ đích và không chủ đích,
ảnh hưởng các nhóm cùng sinh thái, ảnh hưởng mức độ dinh dưỡng và tác động đến hệ sinh
thái.
(iv) Pheromon là hóa chất truyền tin được côn trùng và các sinh vật khác sử dụng để liên
lạc với các thành viên trong quần thể về truyền giống, quần tụ hay phát tán. Các chất này
còn được sử dụng để ức chế sâu hại và làm giảm sử dụng thuốc trừ sâu hóa học. Mỗi hóa
chất có đặc trưng đối với một loài côn trùng nhất định và vì thế có thể nhằm vào các côn
trùng gây hại. Các pheromon tổng hợp đã được sản xuất thương mại và có công thức mô
phỏng tự nhiên.
Cho đến nay các hệ thống quản lý ở EU, OECD và NAFTA chưa ban hành hướng dẫn
cụ thể về các hợp chất này. Điều quan trọng cần lưu ý là chúng có ít tác động độc hại hơn và
đối với các hệ sinh thái nông nghiệp do có bản chất hóa học không ổn định cao, vì vậy giảm
được mối nguy hiểm đến các sinh vật không chủ đích. Cả hai loại pheromon dẫn dụ giới
39
tính và báo động/tập hợp đều có thể sử dụng hiệu quả trong các chiến lược kiểm soát dịch
hại luân phiên. Nhìn chung, chúng được sử dụng để bẫy côn trùng và vì thế việc thiết kế bẫy
có ý nghĩa quan trọng đối với triển khai hiệu quả.
Quản lý các hóa chất này liên quan đến việc xác định các đồng phân khác nhau và độ
tinh khiết. Công thức trong các tài liệu kỹ thuật có thể bao gồm các dung môi tạo khả năng
cung cấp hiệu quả các hỗn hợp đồng phân mong muốn nhằm thúc đẩy phản ứng thích hợp
trong sâu hại trưởng thành.
Việc gia tăng sử dụng các hóa chất này trong quản lý dịch hại đã dẫn đến thảo luận toàn
cầu về các yêu cầu quản lý đối với các hóa chất và công thức làm thay đổi hành vi này.
Trong các cuộc thảo luận tại EU, OECD và NAFTA, có nêu các khía canh pháp lý thích
hợp của các hóa chất nông nghiệp, trong đó yêu cầu dữ liệu hạn chế về độc tố và dư lượng,
trong khi đòi hỏi các tập hợp dữ liệu lớn về tính hiệu quả sinh học trong các hệ sinh thái
nông nghiệp khác nhau. Các pheromon được sử dụng để bẫy sâu bướm đực phục vụ giám
sát và bẫy hàng loạt ở các cây lúa, đậu, hạt có dầu, bông, ... được đăng ký cùng với việc sử
dụng chúng để chống côn trùng phá hoại ngũ cốc bảo quản trong các kho chứa hàng hóa.
EPA không yêu cầu các dữ liệu khảo nghiệm thực địa, mặc dù việc áp dụng trên đồng
ruộng và sự chấp thuận của các cơ quan chính phủ có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo
khuyến cáo sử dụng chúng. Giấy phép sử dụng thử nghiệm được miễn trừ nếu loại
pheromon đó đã được biết đến và sử dụng trước đó (thậm chí chỉ để giám sát dịch hại). Các
miễn trừ đặc biệt khác được áp dụng đối với hầu hết các yêu cầu đệ trình hồ sơ dữ liệu.
IV. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ THUỐC BẢO VỆ
THỰC VẬT SINH HỌC Ở VIỆT NAM
4.1. Tình hình nghiên cứu, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học tại Việt Nam
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học đã được quan tâm nghiên cứu, đưa vào sử dụng
tại Việt Nam từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước và đã mang lại hiệu quả tích cực cho
người nông dân, giảm một phần ô nhiễm môi trường. Đặc biệt, từ năm 1990 trở lại đây, việc
nghiên cứu, ứng dụng thuốc BVTV sinh học đã được Nhà nước và các cơ quan khoa học
quan tâm đầu tư và đã đạt được những kết quả bước đầu.
4.1.1. Thuốc BVTV thảo mộc
Việt Nam là nước có hệ thực vật phong phú với nhiều loại cây có dầu, tinh dầu chứa các
chất có hoạt tính sinh học cao và đa dạng. Tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có này có thể
tạo ra nhiều sản phẩm thuốc BVTV sinh học có giá trị sử dụng cao. Đây là lợi thế quan
trọng giúp phát triển các thuốc BVTV sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững.
Tuy nhiên, so với các loại thuốc BVTV hóa học, thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học còn
một số hạn chế như: giá thành cao, hiệu lực chậm hơn thuốc hóa học nên nông dân không
thích. Do vậy, việc ứng dụng chế phẩm sinh học vào thực tế ở nước ta còn ít. Công tác
nghiên cứu triển khai trong lĩnh vực sinh học gặp khó khăn do chúng ta còn thiếu điều kiện,
trang thiết bị và cả con người. Hơn nữa, ở Việt Nam, hệ thống nguồn giống và bảo quản,
lưu trữ còn hạn chế, trong khi nhiều nước trên thế giới đều có hệ thống giống quốc gia
40
phong phú. Từ đó dẫn đến số lượng thuốc phòng trừ dịch hại có nguồn gốc sinh học, đặc
biệt, nhóm thuốc vi khuẩn, vi sinh vật còn ít. Tỷ trọng thuốc BVTV sinh học được sử dụng
chỉ chiếm khoảng 5% so với tổng lượng thuốc BVTV hàng năm.
Mặc dù vậy, cho đến nay đã có nhiều chế phẩm thuốc BVTV sinh học được nghiên cứu
và ứng dụng thành công vào thực tế tại nước ta. Số lượng các sản phẩm được đăng ký sử
dụng tăng theo từng năm (năm 2000 chỉ có 2 sản phẩm đăng ký, năm 2005 có 57, năm 2007
có 193, năm 2010 có 374 hoạt chất đăng ký, chiếm 37,3 % tổng số). Các sản phẩm này đã
góp phần không nhỏ vào công tác phòng trừ dịch hại, hạn chế tối đa nguy cơ độc hại đến
sức khỏe con người và ô nhiễm môi trường do thuốc BVTV hóa học gây nên.
Một số thuốc BVTV thảo mộc đã được người dân sử dụng từ lâu như nicotin chiết từ cây
thuốc lào hoặc thuốc lá, rotenon từ cây ruốc cá, củ đậu, hạt thàn mát. Hai chất này cũng đã
được nghiên cứu chiết, tách từ những năm 70, 80 của thế kỷ trước. Gần đây, hoạt chất
BVTV rất hiệu quả là azadirachtin có trong hạt xoan Ấn độ, trồng ở Ninh Thuận cũng đã
được nghiên cứu chiết tách và sử dụng thành công ngoài đồng ruộng.
4.1.2. Thuốc BVTV vi sinh
Lĩnh vực thuốc BVTV vi sinh có sản phẩm Bt được sử dụng từ lâu trong lĩnh vực nông
nghiệp và sát trùng tại gia (phòng trừ muỗi). Đã có nhiều cơ quan nghiên cứu công nghệ lên
men và phân lập thành công các độc tố tinh thể khác nhau như a, b, g, d-endotoxin, từ đó
tạo ra các sản phẩm thương mại, cung cấp cho thị trường.
Thuốc trừ bệnh có nguồn gốc kháng sinh từ hoạt chất validamycin A, thu được từ quá
trình lên men nấm Streptomyces hygroscopicus var. limoneus..Thuốc có phổ tác động rộng,
dùng đặc trị các bệnh khô vằn trên lúa, bệnh nấm hồng trên cao su. Hiện nay, Công ty Cổ
phần Thuốc sát trùng Việt Nam (VIPESCO) có nhà máy liên doanh với Trung Quốc sản
xuất các sản phẩm và cung cấp rộng rãi trên thị trường.
Các chế phẩm nấm trừ bệnh có nấm đối kháng Trichoderma trừ các bệnh hại rễ như bệnh
thối rễ do nấm Phytophthora palmirova gây ra, bệnh vàng héo rũ do nấm Furasium
solari, Pythium sp, Sclerotium rolfosii. Chế phẩm này đã được nghiên cứu thành công tại
VIPESCO và một số đơn vị khác. Hai chế phẩm nấm trừ côn trùng Ometar (Metarhizium
anisopliae) và Biovip (Beauveria bassiana)là sản phẩm nghiên cứu do Viện Lúa đồng bằng
sông Cửu Long thực hiện.
Các thuốc nguồn gốc virus có nhóm sản phẩm chiết từ virus đa nhân diện
nucleopolyhedrosisvirus (NPV). Đây là lọai virus chọn lọc, chỉ lây nhiễm và diệt sâu xanh
da láng (Spodoptera exigua) rất hiệu quả trên bông, đậu đỗ, ngô, hành, nhoĐã có nhiều
người quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam. Gần đây, Viện BVTV đã cải tiến qui trình công
nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm (tăng cường kỹ thuật nhân nuôi, loại bỏ tạp chất và
các vi sinh vật khác để đảm bảo độ thuần từ 95 -100%).
Thuốc có nguồn gốc tuyến trùng EPN (Entomopathogenic nematodes) được coi là có
nhiều triển vọng bởi khả năng diệt sâu nhanh, phổ rộng, an toàn và không gây khả năng
kháng thuốc ở sâu hại. Nhóm các nhà khoa học ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện
Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã phân lập 2 giống Steinernema và Heterorhabditis và
đưa vào sản xuất 6 loại thuốc sinh học tuyến trùng Biostar từ 1 đến 6, trong đó Biostar-3 và
41
Biostar-5 đã được thử nghiệm rộng rãi trên đồng ruộng.
4.1.3. Thuốc BVTV hóa sinh
Bao gồm các chất có tác dụng dẫn dụ, xua đuổi, triệt sản hoặc điều khiển sinh trưởng côn
trùng. Chúng dùng để phòng trừ gián tiếp côn trùng gây hại với liều lượng rất nhỏ. Ưu điểm
lớn của các hợp chất này là hạn chế tối đa ảnh hưởng của thuốc độc tới môi trường. Đây là
một hướng nghiên cứu hiện đại và đầy triển vọng của ngành BVTV trên thế giới cũng như ở
Việt Nam.
Metyl eugenol là chất dẫn dụ sinh dục đối với ruồi vàng hại cam Dacus dorsalis được
Phòng Nông dược, Viện Hóa học công nghiệp (nay là Viện Hóa học công nghiệp Việt
Nam) nghiên cứu và sản xuất đầu tiên vào những năm 70-80 của thế kỷ trước, đi từ eugenol
có trong tinh dầu hương nhu. Hiện nay, VIPESCO vẫn đang tiếp tục sản xuất và tiêu thụ.
Trong số các chất dẫn dụ sinh dục, các pheromon là nhóm chế phẩm sinh học được sử
dụng hiệu quả trong BVTV, kiểm dịch thực vật và dự báo dịch hại. Đến nay trên thế giới đã
nghiên cứu và tổng hợp được hơn 3.000 hợp chất pheromon sinh dục, dẫn dụ nhiều lọai côn
trùng khác nhau. Ở Việt nam, việc nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng pheromon hiện nay
được nhóm nghiên cứu tại Viện Hóa học-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
do GS. Nguyễn Công Hào đứng đầu, tập trung đối với một số côn trùng như sâu tơ (Plutella
xylostella), sâu xanh (Helicoverpa armigera), sâu khoang (Spodoptera litura)...
Tuy nhiên, do cấu trúc phân tử hoạt chất phức tạp và yêu cầu độ tinh khiết cao của sản
phẩm nên tổng hợp chúng đòi hỏi trình độ và thiết bị tiên tiến. Vì vậy, loại hợp chất này
thường có giá thành cao, phạm vi áp dụng hạn chế.
Ngoài ra, xu hướng hiện nay còn sử dụng các chất có nguồn gốc tự nhiên làm phụ gia
trong gia công thuốc BVTV. Đó là các chất hoạt động bề mặt (HĐBM), dung môi, chất
mang, chất chống lắng, chống đông, chất bảo quản v.v trong đó chất HĐBM, dung môi,
chất mang chiếm thành phần đáng kể trong sản phẩm. Các chất HĐBM có nguồn gốc lignin
tự nhiên có đặc tính ưu việt như: đa tác dụng (thấm ướt, phân tán, chống đông, tạo chelat
cho phân bón qua lá...), có thể sử dụng để gia công nhiều dạng sản phẩm khác nhau và rất
an toàn cho môi trường vì có độ độc thấp đối với người, không gây cháy lá, có khả năng
phân hủy sinh học. Mặt khác, do giá rẻ và sẵn có nên gần đây đã có một số công trình
nghiên cứu tổng hợp và sử dụng làm chất HĐBM trong gia công một số thuốc BVTV dạng
phân tán trong nước thân thiện với môi trường, với kết quả rất khả quan. Bên cạnh đó, còn
một số phụ gia khác như chất mang từ bentonit, dung môi ít độc cũng đã được nghiên
cứu sử dụng trong gia công và ứng dụng có kết quả.
4.2. Quản lý nhà nước đối với thuốc BVTV sinh học
Quản lý thuốc bảo vệ thực vật là biện pháp nhằm sử dụng hiệu quả, an toàn thuốc bảo vệ
thực vật để bảo vệ sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ sức
khỏe con người và môi trường. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuốc bảo vệ thực
vật ở nước ta được xây dựng trên cơ sở hướng dẫn của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc
(FAO), hài hòa các nguyên tắc quản lý thuốc bảo vệ thực vật của các nước ASEAN, các
Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: Công ước Rotterdam, Công ước Stockhom,
42
Công ước Basel và Nghị định thư Montreal.
Hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật về quản lý thuốc BVTV chung bao gồm Luật
hóa chất năm 2007, Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật năm 2001, Nghị định của
Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và gần
đây là Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13 của Quốc hội đã được ban
hành ngày 25/11/2013 và có hiệu lực ngày 1/1/2015
Từ khi Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật ban hành ngày 08 tháng 8 năm 2001,
Chính phủ Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc ban hành và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp
quy liên quan đến công tác quản lý nhà nước về thuốc bảo vệ thực vật, tạo cơ sở pháp lý
cho hoạt động quản lý, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở nước ta.
Cụ thể, trong những năm sau đó, một loạt các văn bản, hướng dẫn đã được ban hành
như:
- Điều lệ về Quản lý thuốc bảo vệ thực vật ban hành kèm theo Nghị định số
58/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ;
- Nghị định số 26/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2003 về Xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật;
- Thông tư số 77/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/12/2009 qui định về kiểm tra nhà nước
chất lượng thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu;
- Thông tư số 38/2010/TT-BNNPTNT ngày 28/06/2010 về Quản lý thuốc bảo vệ thực
vật qui định: từ đăng ký, xuất nhập khẩu, sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, ghi nhãn,
sử dụng, vận chuyển, bảo quản, quảng cáo, khảo nghiệm, kiểm định chất lượng và dư lượng
thuốc bảo vệ thực vật;
- Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng
ở Việt Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành hàng năm;
- Các Qui chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn về chất lượng thuốc bảo vệ
thực vật, về cửa hàng buôn bán thuốc bảo vệ thực vật, quy trình kiểm tra sử dụng thuốc bảo
vệ thực vật trên cây trồng và các văn bản hướng dẫn khác của Cục Bảo vệ thực vật.
Hàng năm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn còn ban hành Danh mục thuốc bảo
vệ thực vật được phép sử dụng. Điều này đã đáp ứng yêu cầu thực tế sản xuất nông nghiệp
ở nước ta. Cho đến nay, Danh mục thuốc bảo vệ thực vật sử dụng ở Việt Nam với 800 hoạt
chất, 2700 tên thương mại; Danh mục thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng: 12 hoạt chất,
26 tên thương phẩm); Danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng: Thuốc trừ sâu, thuốc
bảo quản lâm sản 28 hoạt chất (2);
Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng có những quy định liên quan
đến thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu. Theo đó, thuốc BVTV nhập khẩu vào nước ta bắt
buộc phải được kiểm tra chất lượng nhập khẩu, do đó, những lô hàng thuốc bảo vệ thực vật
không đạt chất lượng đã bị buộc tái xuất hoặc cho nhập để tái chế. Lượng thuốc bảo vệ thực
vật nhập khẩu không đạt chất lượng đã giảm dần hàng năm.
Tóm lại, hệ thống văn bản pháp quy về hoạt động quản lý, kinh doanh, sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật ở nước ta cho đến nay đã tương đối đầy đủ, đáp ứng kịp thời nhu cầu của
đời sống xã hội. Tuy nhiên, vẫn chưa có quy định riêng về quản lý nhà nước đối với thuốc
43
BVTV sinh học mà vẫn thông qua hệ thống quản lý cho thuốc BVTV nói chung.
4.3. Định hướng phát triển thuốc BVTV sinh học tại Việt Nam.
Như đã trình bày ở trên, việc nghiên cứu và ứng dụng các thuốc BVTV có nguồn gốc
sinh học tại Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn. Do vậy, khi xây dựng định hướng phát triển
cho tương lai, cần xác định lộ trình lâu dài, xem xét các điều kiện cụ thể và lựa chọn những
hướng khả thi, tận dụng lợi thế của nước ta về nguồn nguyên liệu tái tạo là dầu, tinh dầu
thực vật sẵn có và các kết quả nghiên cứu trong thời gian qua.
4.3.1. Lĩnh vực nghiên cứu tạo ra các hoạt chất mới
Tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có là các dầu thực vật, tinh dầu có trong cây cỏ của Việt
Nam để nghiên cứu chiết, tách hoặc chuyển hóa thành các sản phẩm có hoạt tính phòng trừ
côn trùng gây hại (trong nông nghiệp và y tế). Một số sản phẩm sau đây cần được quan tâm:
- Hoạt chất saponin (Quillaja saponaria) chiết từ cây bồ kết, chè, sởdùng làm thuốc
trừ bệnh, trừ ốc bươu vàng; chitosan thủy phân có tác dụng trừ nấm, vi khuẩn và kích thích
sinh trưởng thực vật, eugenol từ dầu hương nhu, cinnamaldehyt có nguồn gốc từ dầu quế
dùng làm thuốc trừ nấm và xua đuổi côn trùng y tế (ruồi, muỗi, gián, kiến). Ngoài ra, một số
tinh dầu khác cũng có tác dụng xua đuổi côn trùng y tế là L-carvon từ dầu bạc hà, dầu thông
xua đuổi chuột, dầu hạt tiêu xua đuổi một số côn trùng hại gia súc, D-limonen từ tinh dầu họ
cam xua đuổi muỗi
- Sorbitol octanoat là este của axit béo có tác dụng trừ rệp và côn trùng thân mềm trong
nông nghiệp, trồng vườn (do tính chất HĐBM). 4-Alyl anisol có trong các loại rau thơm
như húng quế, thìa là dùng làm thuốc diệt bộ cánh cứng hại cây lá kim như
thông (Dendroctonus frontalis). Citronellol là thành phần có trong tinh dầu xả, bạch
đàncó thể dùng làm chất dẫn dụ rệp cây, một loại côn trùng phổ biến gây hại.
- Axit L-lactic, sản phẩm từ công nghệ lên men sữa hoặc có trong một số thực phẩm, hoa
quả...có tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm, sát trùng. Ngoài ra, hoạt chất còn được sử dụng
như chất dẫn dụ muỗi.
Song song với các nghiên cứu chiết tách và tổng hợp hoạt chất từ nguồn dầu béo, tinh
dầu thực vật, cần đẩy mạnh nghiên cứu trong lĩnh vực sinh tổng hợp, công nghệ lên men tạo
ra các chế phẩm vi sinh có hoạt tính sinh học, ví dụ như thuốc kháng khuẩn
Fumaramidmycin từ chủng Streptomyces kurssanovii... Hoặc sử dụng các xúc tác enzym
trong tổng hợp hoạt chất, ví dụ dùng men PenGamidase để tổng hợp các este a-cyan-3-
phenoxybenzyl, một hợp chất trung gian quan trọng trong tổng hợp các thuốc trừ sâu dãy
pyrethroid. Đây cũng là một trong những nội dung khuyến cáo phát triển của Hóa học xanh.
Ngoài ra, một số sản phẩm có nguồn gốc tuyến trùng EPN, virus đa nhân diện NPV nên
tiếp tục nghiên cứu và triển khai ứng dụng vào thực tế.
4.3.2. Nghiên cứu tạo ra các chất có nguồn gốc tự nhiên làm phụ gia cho gia công
thuốc BVTV
Trong số các phụ gia cho thuốc BVTV, các chất HĐBM chiếm từ 5 - 14 % trong thành
phần gia công. Nó đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu được cho tất cả các dạng sản
phẩm. Các chất HĐBM sử dụng hiện nay đều có nguồn gốc hóa học và thường độc với
44
người và môi trường. Vì vậy, một trong những hướng phát triển của ngành sản xuất thuốc
BVTV thân thiện với môi trường là tìm kiếm, sử dụng các chất HĐBM có nguồn gốc tự
nhiên ít độc trong gia công sản phẩm. Ví dụ các hợp chất lignosulfonat, được tổng hợp từ
lignin có trong nước thải của các nhà máy sản xuất bột giấy là chất HĐBM có nhiều ứng
dụng và rất phù hợp với các dạng gia công thế hệ mới như WDG, SC Các hợp chất này
có tính tương hợp sinh học, phân hủy sinh học và không độc với người và động vật máu
nóng nên rất thân thiện với môi trường. Ngoài ra, xu hướng hiện nay còn sử dụng các chất
HĐBM thuộc nhóm đường este như sorbitan, các alkylpolysacharit (chất HĐBM không ion
mới) hoặc các alkylamin etoxy hóa (từ mỡ động vật, dầu dừa). Các chất này đều có nguồn
gốc tự nhiên, ít độc.
Một hướng khác rất thành công trong lĩnh vực gia công thuốc BVTV là sử dụng các chất
có tác dụng hiệp đồng (synergist), hỗn hợp với hoạt chất để tạo ra các sản phẩm có hiệu lực
phòng trừ cao và giảm ô nhiễm môi trường. Các chất synergist có nguồn gốc tự nhiên rất
được chú ý vì tận dụng được nguồn nguyên liệu tái tạo và không độc. Trong số các axit béo
từ dầu thực, động vật và dẫn xuất của chúng, có nhiều chất có tác dụng synergist với các
loại thuốc BVTV khác nhau như các alkyleste của axit oleic, linoleic, palmiticNgoài ra,
còn nhiều tinh dầu có trong cây cỏ ở Việt Nam cũng có tác dụng synergist. Đây là hướng
nghiên cứu đầy tiềm năng, cần được khai thác và phát triển.
4.3.3. Sử dụng các biện pháp phòng trừ gián tiếp trên cơ sở các sản phẩm có nguồn
gốc tự nhiên
Sử dụng các biện pháp phòng trừ gián tiếp thông qua các chất có tính dẫn dụ, xua đuổi,
các chất điều tiết sinh trưởng côn trùng là một hướng quan trọng trong công tác BVTV
“thân thiện với môi trường” vì chúng không gây độc cho người và môi trường. Hơn nữa,
các chất này phần lớn đều có nguồn gốc tự nhiên như các tinh dầu thực vật, các hợp chất
thơm tự nhiên, các sản phẩm đạm thủy phân v.v... nên không gây ô nhiễm.
Tuy nhiên, do các quá trình tổng hợp hóa học phức tạp, khi nghiên cứu các chế phẩm
sinh học có tác dụng phòng trừ côn trùng gián tiếp cần lựa chọn những hoạt chất sẵn có
trong tự nhiên hoặc chuyển hóa một phần thành sản phẩm có ứng dụng thực tế.
KẾT LUẬN
Như chúng ta đã biết, các thuốc trừ sâu hóa học có ưu điểm rõ rệt là hiệu quả diệt sâu
nhanh nhưng có nhược điểm lớn là có độ độc cao với người và các động vật có ích (trong
đó có các loài thiên địch), gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, do yêu cầu bảo vệ sức khỏe con
người và sự trong sạch của môi trường, các thuốc trừ sâu hóa học cần được hạn chế sử dụng
dần và thay vào đó là các thuốc trừ sâu sinh học. Đây cũng là xu hướng chung trên thế giới
hiện nay.
Ưu điểm nổi bật nhất của thuốc trừ sâu sinh học là gần như không độc với người và mau
phân hủy trong tự nhiên, ít để lại dư lượng độc trên nông sản và có thời gian cách ly ngắn
nên rất thích hợp sử dụng cho các nông sản yêu cầu có độ sạch cao như các loại rau, chè
Thêm nữa, nó ít độc với các loài thiên địch nên thuốc sinh học bảo vệ được sự cân bằng
sinh học trong tự nhiên (cân bằng giữa thiên địch và sâu hại), ít gây tình trạng bùng phát sâu
45
hại. Vì vậy, muốn có nông sản sạch, an toàn và phát triển bền vững, một biện pháp quan
trọng là sử dụng các thuốc sinh học trừ sâu.
Ngoài ra, các yếu tố sinh học trừ sâu như các vi sinh vật và thực vật thường có sẵn và rất
phổ biến ở mọi nơi, mọi lúc, vì vậy nguồn khai thác rất dễ dàng và hầu như vô tận. Đồng thời
với các chế phẩm được sản xuất theo quy mô công nghiệp, hiện nay người ta vẫn có thể dùng
các phương pháp chế biến thô sơ để sử dụng. Có thể ra đồng thu thập các sâu bị chết vì nấm
bệnh, nghiền nát trong nước rồi phun lên cây để trừ sâu. Các cây thuốc lá, thuốc lào, hạt xoan,
rễ dây thuốc cá băm nhỏ và đập nát ngâm lọc trong nước để phun cũng rất có hiệu quả.
Nhận thức rõ vai trò to lớn của thuốc trừ sâu sinh học, ngay từ đầu những năm 1980,
Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu, đưa vào sử dụng và đã mang lại hiệu quả tích cực cho
người nông dân, giảm một phần ô nhiễm môi trường. Đặc biệt, từ năm 1990 trở lại đây, việc
nghiên cứu, ứng dụng thuốc trừ sâu sinh học đã được Nhà nước và các cơ quan khoa học
quan tâm đầu tư và đã đạt được những kết quả bước đầu. Hệ thống văn bản quản lý cũng
được xây dựng, ban hành và dần hoàn thiện chặt chẽ theo các chuẩn mực quốc tế.
Theo thống kê, số lượng thuốc trừ sâu sinh học được đăng ký tại Việt Nam gia tăng rất
nhanh kể từ năm 2000, trong đó có nhiều sản phẩm được nghiên cứu, sản xuất trong nước.
Tuy vậy, theo đánh giá của các nhà kinh doanh thuốc BVTV, dù số lượng các thuốc BVTV
sinh học tăng nhanh nhưng doanh số chỉ dưới trên dưới 5% tổng doanh số thuốc BVTV.
Nghĩa là hiện nay dù thuốc BVTV sinh học tốt, an toàn môi trường nhưng người nông dân
lại ít sử dụng. Ngoài ra, số lượng sản phẩm sản xuất trong nước chưa nhiều và tương xứng
với tiềm năng của Việt Nam, chúng ta vẫn phải phụ thuộc nhiều vào sản phẩm ngoại nhập
vừa đắt đỏ vừa thiếu chủ động trong phòng ngừa sâu bệnh.
Do vậy, chúng ta cần có giải pháp đồng bộ để đẩy nhanh việc sản xuất và ứng dụng các
sản phẩm sinh học BVTV phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững, cụ thể :
1. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ hơn nữa hoạt động nghiên cứu và triển khai các sản
phẩm thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học.
Song song với việc đẩy mạnh ứng dụng các thuốc BVTV sinh học cũng cần đầu tư
nghiên cứu, ứng dụng các sản phẩm phân bón sinh học, cung cấp cho sản xuất nông nghiệp
bền vững, tạo ra các sản phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phục vụ xuất khẩu.
2. Có chính sách hỗ trợ và ưu đãi các doanh nghiệp đầu tư khai thác các nguồn nguyên
liệu tái tạo từ thiên nhiên, nhất là các nguồn mà Việt Nam có lợi thế như các loại dầu béo,
tinh dầu, thảo mộc để sản xuất thuốc BVTV sinh học.
3. Bổ sung chính sách hỗ trợ, ưu tiên đăng ký sản phẩm; hỗ trợ tiếp nhận công nghệ và
vay vốn để xây dựng các dây chuyền sản xuất sản phẩm sinh học trên quy mô lớn ngay
trong nước nhằm ổn định chất lượng và hạ giá thành.
4. Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức và kiến thức cho người dân. Tăng cường
xây dựng và nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp sạch, sử dụng sản phẩm có nguồn
gốc sinh học.
Người thực hiện: ThS. Đặng Bảo Hà
ThS. Nguyễn Thị Phương Dung
46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. WenJun Zhang1,2, FuBin Jiang1, JianFeng Ou1, Global pesticide consumption and
pollution: with China as a focus, Proceedings of the International Academy of Ecology
and Environmental Sciences, 2011, 1(2):125-144
2. Christos A. Damalas 1,* and Ilias G. Eleftherohorinos, Pesticide Exposure, Safety Issues,
and Risk Assessment Indicators, International Journal of Environmental Research and
Public Health , 2011, 8, 1402-1419; doi:10.3390/ijerph8051402
3. Chandler, David and Bailey, Alastair and Tatchell, G. Mark and Davidson,
Gill and Greeves, Justin and Grant, Wyn (2011), The development, regulation and use of
biopesticides for Integrated Pest Management, Philosophical Transactions of the Royal
Society B: Biological Sciences, 366 (1573). pp. 1987-1998
4. Dr. Jogen Ch. Kalita, Salma Mazid and Dr.Ratul Ch. Rajkhowa Department of Zoology
Cotton College Assam, India, A review on the use of biopesticides in insect pest
management, International Journal of Science and Advanced Technology (ISSN 2221-
8386) Volume 1 No 7 September 2011.
5. Pengfei Leng1, Zhiming Zhang1, Guangtang Pan1 and Maojun Zhao, Review:
Applications and development trends in biopesticides, African Journal of Biotechnology
Vol. 10(86), pp. 19864-19873, 30 December, 2011
6. Bikramjit Sinha, Global biopesticide research trends: a bibliometric assessment, The
Indian Journal of Agricultural Science, Vol 82, No 2 (2012).
7. Food and Agriculture Organization of the United Nations (FAO), Guidance for
harmonizing pesticide regulatory management in Southest Asia, Bangkok, 2012
8. Alastair Bailey, David Chandler et al. BIOPESTICIDES: Pest Management and
Regulation, www.cabi.org.
9. A Guide to the Development of Regulatory Frameworks for Microbial Biopesticides in
Sub-Saharan Africa, AATF, 8/2013.
10. PGS. TS. Đào Văn Hoằng, Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ Công Thương, Thuốc
BVTV có nguồn gốc sinh học: ứng dụng của Hóa học xanh cho nông nghiệp bền vững,
Tạp chí công nghiệp hóa chất số 9/2011.
11. PGS. TS. Nguyễn Trần Oánh (Chủ biên), TS. Nguyễn Văn Kiên, KS. Bùi Trọng Thủy,
Giáo trình Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, 2007.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tai_lieu_thuoc_tru_sau_sinh_hoc_huong_toi_nen_nong_nghiep_be.pdf