KẾT LUẬN Cụm đảo Thổ Chu, mà tâm điểm là đảo Thổ Chu có tiềm năng tài nguyên vị thế lớn về tất cả các giá trị địa-tự nhiên, địa-kinh tế và địa-chính trị, hội tụ đủ điều kiện và có khả năng đảm trách đầy đủ các chức năng của một đơn vị hành chính cấp huyện ở vùng biển cực Tây Nam của Tổ quốc, gần giữa vịnh Thái Lan. Tài nguyên địa tự nhiên quý giá có được cơ bản nhờ các yếu tố hình thái, diện tích, cấu tạo các đảo, khả năng tiếp cận đảo, sự ổn định về động lực, ít thiên tai, cũng như nguồn tài nguyên thiên nhiên tại chỗ trên đảo và ven đảo phong phú cho phép định cư ổn định lâu dài một lượng dân số đáng kể và xây dựng cơ sở hạ tầng khai thác, bảo vệ vùng biển đảo. Tài nguyên địa-kinh tế to lớn của cụm đảo, không chỉ từ nguồn tại nguyên tại chỗ để phát triển nghề cá và du lịch, mà chính là quan hệ không gian trên biển với các ngư trường, bể dầu khí, các tuyến hàng hải để tạo ra các sản phẩm dịch vụ có giá trị. Tài nguyên địa-chính trị giá trị rất lớn của cụm đảo nhờ nằm trên tuyến tiền tiêu-biên giới, mang lại các lợi ích về mở rộng chủ quyền và đảm bảo lợi ích quốc gia trên biển, phòng thủ vững chắc và giám sát hiệu quả một vùng biển rộng lớn trên vịnh Thái Lan, bao gồm các vùng chủ quyền, vùng nước lịch sử và vùng chồng lấn trên vịnh.
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tài nguyên vị thế cụm đảo Thổ Chu, phía Nam Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
113
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 2; 2018: 113-123
DOI: 10.15625/1859-3097/18/2/9132
TÀI NGUYÊN VỊ THẾ CỤM ĐẢO THỔ CHU, PHÍA NAM VIỆT NAM
Nguyễn Đắc Vệ*, Trần Đức Thạnh, Trần Đình Lân,
Bùi Văn Vượng, Nguyễn Thị Minh Huyền
Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
*E-mail: vend@imer.vast.vn
Ngày nhận bài: 6-1-2017 / Ngày chấp nhận đăng: 16-3-2017
TÓM TẮT: Nằm ở gần trung tâm vịnh Thái Lan, cụm đảo Thổ Chu cách mũi Cà Mau khoảng
160 km về phía tây nam, cách đảo Phú Quốc khoảng 100 km về phía tây bắc. Cụm đảo gồm 8 hòn,
lớn nhất là đảo Thổ Chu rộng 12,15 km2, cao 167 m, cấu tạo từ đá trầm tích vụn thô. Mặc dù là cụm
đảo ven bờ xa bờ nhất của Việt Nam ở vịnh Thái Lan, nhưng các đặc điểm về cấu tạo địa chất, hình
thể và cấu trúc không gian, diện tích, độ cao và cảnh quan sinh thái; động lực và tính ổn định của
các quá trình tự nhiên, đã tạo ra giá trị lớn về tài nguyên địa-tự nhiên và môi trường sinh cư thuận
lợi cho cụm đảo. Về giá trị tài nguyên vị thế địa-kinh tế, cụm đảo thuộc huyện Phú Quốc, nhưng hội
tụ đủ các điều kiện trở thành đơn vị hành chính cấp huyện, thuộc tỉnh Kiên Giang. Đây là vị trí ưu
tiên đối với phát triển kinh tế biển-đảo của đất nước, là địa bàn tiềm năng lớn phát triển các lĩnh vực
kinh tế biển như thủy sản, bảo tồn thiên nhiên, du lịch và các dịch vụ quan trọng khác như khai thác
dầu khí, hàng hải và tìm kiến-cứu nạn trên biển. Về giá trị tài nguyên vị thế địa-chính trị, cụm đảo
có Hòn Nhạn là điểm cơ sở A1 có giá trị vô cùng to lớn về chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích
quốc gia trên vịnh Thái Lan. Nằm trong vùng địa-chính trị nhạy cảm cao, cụm đảo có giá trị lớn về
phòng thủ, có thể phát triển thành một cụm cứ điểm quân sự vững chắc, góp phần bảo vệ Tổ quốc
và đảm bảo an ninh trên biển.
Từ khóa: Cụm đảo Thổ Chu, tài nguyên vị thế, vị thế địa-tự nhiên, vị thế địa-kinh tế, vị thế địa-
chính trị.
MỞ ĐẦU
Tài nguyên vị thế là “những lợi ích có được
từ vị trí địa lý và các thuộc tính về cấu trúc, hình
thể sơn văn và cảnh quan, sinh thái của một khu
vực, có giá trị sử dụng cho các mục đích phát
triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc
phòng và chủ quyền quốc gia” [1]. Nó bao gồm
các nhóm giá trị: địa-tự nhiên, địa-kinh tế và địa-
chính trị, mà sự kết hợp giữa chúng tạo nên lợi
ích tổng hợp cho phát triển kinh tế - xã hội của
một lãnh thổ [2]. Tài nguyên vị thế đã được
nghiên cứu tổng quan [3] và cho các đối tượng
cụ thể như hệ thống cửa sông [4, 5], ven bờ [6],
hệ thống các đảo [7, 8].
Cụm đảo Thổ Chu thuộc tỉnh Kiên Giang,
bao gồm 8 hòn đảo lớn nhỏ nằm gần trung tâm
vịnh Thái Lan. Đây là một cụm đảo ven bờ
nằm ở vùng biển Tây Nam của Tổ Quốc, có
tiềm năng lớn đối với phát triển kinh tế, đảm
bảo an ninh và chủ quyền quốc gia trên biển.
Bài viết này trình bày về tài nguyên vị thế của
cụm đảo dựa trên kết quả điều tra, nghiên cứu
của đề tài cấp nhà nước KC.09.08/11-15
“Lượng giá kinh tế các hệ sinh thái biển - đảo
tiêu biểu phục vụ phát triển bền vững một số
đảo tiền tiêu ở vùng biển ven bờ Việt Nam”.
GIÁ TRỊ VỊ THẾ ĐỊA TỰ NHIÊN
Vị trí địa lý. Cụm đảo Thổ Chu gồm 8 đảo lớn
nhỏ, nằm tại vùng biển Tây Nam Việt Nam,
thuộc vịnh Thái Lan. Đảo Thổ Chu lớn nhất
trong cụm, có tọa độ 9o18’10”B và
Nguyễn Đắc Vệ, Trần Đức Thạnh,
114
103o12’42”Đ, trên các hải đồ của người
phương Tây từ các thế kỷ trước thường được
ghi tên là Poulo Panjang, gốc từ tiếng Mã Lai
nghĩa là “cù lao dài” hoặc “đảo dài” (hình 1).
Hình 1. Vị trí đảo Thổ Chu (Poulo Panjang) trong vịnh Thái Lan [9]
Vịnh Thái Lan rộng khoảng 320.000 km²
được bao bọc bởi 4 quốc gia gồm Malaysia,
Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Đỉnh phía
bắc vịnh là vùng cửa sông Chao Phraya, gần
Băng Cốc, đường đóng cửa vịnh được nối từ
mũi Cà Mau tới thành phố Kota Bharu thuộc bờ
Malaysia. Các đảo trên vịnh tập trung ở phần sát
bờ phía đông, trong đó thuộc vùng biển Việt
Nam có khoảng 165 hòn lớn nhỏ với tổng diện
tích 693,47 km2 [10], tiêu biểu là đảo Phú Quốc,
đảo An Thới, cụm Thổ Chu, cụm đảo Hải Tặc,
đảo Phú Dự, đảo Nam Du... Trừ một số đảo có
diện tích đáng kể như Phú Quốc (567 km2), Phú
Dự (25 km2), Thổ Chu (12 km2), Hòn Dứa
(6 km2), phần lớn các đảo có diện tích rất nhỏ,
từ vài trăm mét vuông đến (1 - 2 km2). Cụm đảo
Thổ Chu, nằm xa bờ nhất trong vịnh, được xem
là các đảo ở cực tây nam (TN) của Việt Nam,
cách đảo Phú Quốc khoảng 100 km về phía tây
bắc (TB), cách bờ Rạch Giá 190 km về phía TB,
cách mũi Cà Mau khoảng 160 km về phía TN và
cách bờ bán đảo Mã Lai 340 km về phía đông
nam (ĐN) [10].
Hình thể và cấu trúc không gian
Diện tích và hình dáng các đảo. Cụm đảo có
tổng diện tích khoảng 13,7 km2, lớn nhất là đảo
Thổ Chu 12,15 km2 và nhỏ nhất là Hòn Khô
chỉ khoảng 15 m² (bảng 1 và hình 2). Độ cao có
mối tương quan nhất định với diện tích các đảo,
đảo Thổ Chu cao phổ biến 100 - 150, cao nhất
167 m. Ba đảo (Hòn Xanh, hòn Cao Cát, Hòn
Từ) với diện tích khoảng 0,1 - 1 km2 có độ cao
nằm trong khoảng 40 - 60 m. Ba hòn đảo còn
lại (Hòn Nhạn, Hòn Khô và hòn Cái Bàn) với
diện tích dưới 0,1 km2 có độ cao từ một vài mét
đến dưới 25 m. Các đảo nằm cách đảo Thổ Chu
gần nhất 3 km về hướng tây (Hòn Khô) và xa
nhất 18 km về hướng ĐB (hòn Cái Bàn). So với
toàn hệ thống đảo ven bờ Việt Nam (2.773 hòn
và diện tích 1.721 km2), cụm đảo Thổ Chu có 8
hòn (0,29%) và tổng diện tích 13,7 km2 (0,8%).
Phân loại theo kích thước [10], cụm đảo có 1
đảo thuộc nhóm đảo trung bình (trong tổng số
22 hòn có diện tích >10 - 100 km2); không có
đảo nhỏ; có 6 hòn đảo rất nhỏ (> 0,01 - 1,0
km2) và 1 hòn cực nhỏ (≤ 0,01 km2).
Tài nguyên vị thế cụm đảo Thổ Chu,
115
Bảng 1. Một số đặc điểm hình thái của các đảo trong cụm Thổ Chu
STT Tên đảo
Diện tích đảo
(km
2
)
Độ cao đảo
(m)
Khoảng cách tới
đảo Thổ Chu (km)
Hướng (so với
đảo Thổ Chu)
1 Thổ Chu 12,154 167 0
2 Hòn Từ 0,843 60 5 ĐB
3 Hòn Cao Cát 0,357 45 7 ĐB
4 Hòn Xanh (hòn Kèo Ngựa) 0,200 41 2,5 NĐN
5 Hòn Cái Bàn (Hòn Mô) 0,093 - 18 ĐB
6 Hòn Nhạn (Hòn Chim, Hòn Hàng) 0,065 25 6 TN
7 Hòn Đá Bạc 0,027 - 17 ĐB
8 Hòn Khô 15 m
2
1 3 T
Nguồn: Số liệu được tính toán trên ảnh vệ tinh Landsat8 chụp ngày 27/12/2013.
Hình 2. Hiện trạng tự nhiên cụm đảo Thổ Chu
Đảo Thổ Chu (hình 3) bề mặt khá thoải,
nhìn xa như một chiếc mâm khổng lồ nhô trên
mặt biển, do cấu tạo từ các lớp đá trầm tích
nằm ngang. Hòn Từ cũng có dạng mâm, bờ
vách dốc tương tự Thổ Chu, hòn Cao Cát dạng
đồi rất thoải, Hòn Xanh dạng đồi hình nón với
sườn khá dốc. Hòn Nhạn, hòn Đá Bạc và Hòn
Khô là những đảo đá trơ trọi. Trừ Hòn Khô cực
nhỏ nằm ở phía tây đảo Thổ Chu, 6 hòn còn lại
gần như nằm trên một khối nâng hẹp dạng
tuyến, nằm sát bờ phía ĐN đảo Thổ Chu.
Hình 3. Toàn cảnh đảo Thổ Chu dạng bàn
Bờ, vách và bãi biển ven đảo. Hình thái bờ các
đảo không quá phức tạp, gồm các dạng cơ bản
là bờ đá - vách đá, thềm mài mòn (bãi triều rạn
đá), bãi cát biển và thềm tích tụ biển và vụng
biển. Tổng diện tích vùng triều ven cụm đảo
78,23 ha, bao gồm bãi cát biển 34,23 ha và bãi
triều rạn đá 44 ha.
Vách bờ đảo thường đi cùng thềm mài mòn
chiếm phần lớn chiều dài bờ các đảo, được hình
thành do tác động mài mòn trực tiếp của sóng
biển, cao đến trên chục mét như phía bờ phía
TB đảo Thổ Chu. Nhiều nơi, vách bờ thẳng dốc
đứng và thềm mài mòn rất hẹp có thể từ nguồn
gốc vách kiến tạo (hình 4). Vách bờ đảo dốc và
thềm mài mòn hẹp gây khó khăn cho tiếp cận
đảo, nhưng lại có ý nghĩa rất lớn đối với phòng
thủ và bảo vệ đảo trong điều kiện xa bờ và lực
lượng tại chỗ hạn chế.
Hình 4. Vách dốc đứng lộ đá gốc phân lớp
nằm ngang, thềm mài mòn và rừng xanh
tốt ở bờ TN Hòn Từ
Bãi cát biển ven các đảo thường nằm ở
cung bờ lõm, đi kèm phía sau là thềm biển tích
tụ cao 4 - 6 m hoặc 2 - 3 m, mặc dù phân bố
hạn chế hơn, nhưng khá điển hình ở đảo Thổ
Chu, Hòn Từ và hòn Cao Cát; có mặt tại Hòn
Xanh và hòn Cái Bàn; hoàn toàn vắng mặt ở
Nguyễn Đắc Vệ, Trần Đức Thạnh,
116
những hòn cực nhỏ như Hòn Nhạn, Hòn Khô
và hòn Đá Bạc.
Tại đảo Thổ Chu, Bãi Ngự (hình 5) nằm tại
vụng Bến Ngự ở bờ phía tây, dài khoảng 750
m, rộng 15 - 25 m, phía sau bãi là thềm cát biển
cao 4 - 5 m. Bãi Mun dài khoảng 350 m, rộng
15 - 30 m, nhỏ và hẹp hơn Bãi Ngự, nằm ở bờ
phía ĐN, trên bờ một vụng nhỏ. Bãi Dong dài
khoảng 140 m, rộng khoảng 20 m nhỏ và hẹp,
cùng nằm ở bờ phía ĐN đảo, phân cách với Bãi
Mun ở phía TN qua một mũi nhô đá gốc. Hai
bãi này tạo ra một tích tụ nối đảo cổ dạng yên
ngựa nối với mũi nhô đá gốc. Ngoài ra, tại phía
cực nam đảo Thổ Chu còn có Bãi Nhất, dài
khoảng 100 m. Trên các hòn vệ tinh của Thổ
Chu, đáng kể có bãi Hòn Từ, nằm ở phía đông
đảo này, dài 250 m, rộng 25 - 30 m.
Hình 5. Vụng Bến Ngự và Bãi Ngự
ở phía TN đảo Thổ Chu
Bãi cát biển và thềm biển đi kèm có giá trị
vị thế tự nhiên lớn, mang lại lợi ích dễ tiếp cận
vào đảo, là nơi định cư sinh (mặt bằng, nước
giếng sinh hoạt) và cơ sở xây dựng hạ tầng
tại đảo, đặc biệt là nơi đổ bộ khi có các hoạt
động tác chiến. Trong trận quyết chiến diệt bọn
xâm lược Pôn Pốt vào các ngày 24 - 27/5/1975,
lực lượng ta đã bí mật đổ bộ tập kết lên bãi biển
hòn Cao Cát, sau đó đổ bộ tấn công mũi chính
lên Bãi Ngự và đồng loạt tại các Bãi Mun, Bãi
Dong và Bãi Nhất để giải phóng đảo Thổ Chu1.
1Hà Thành, 2009. Cụm đảo Thổ Chu và trận chiến
giải phóng đảo. Báo Quân đội Nhân dân. Thứ Hai,
ngày 27/4/2009.
Vùng biển ven đảo. Vùng nước bao quanh cụm
đảo Thổ Chu tới độ sâu 30 m rộng khoảng
4.427,4 ha, bao gồm ven đảo Thổ Chu và Hòn
Xanh 3.771 ha; ven Hòn Nhạn 77,06 ha; ven
Hòn Khô 54,14 ha; ven Hòn Cao và Hòn Từ
525,2 ha [11].
Trong vùng nước này, tại đảo Thổ Chu có
một số vụng nhỏ nằm ở bờ phía TN và ĐN là
nơi tàu thuyền trú đậu tránh gió bão và thường
có kèm bãi cát biển, là nơi tiếp cận lên đảo
thuận lợi. Vụng Bến Ngự có cấu trúc nửa kín,
độ sâu tới 10 m, được tạo ra nhờ hai mũi nhô
đá gốc, là nơi neo trú chính của cụm đảo
(nhưng không thích hợp vào mùa gió Tây
Nam), là bến chính đã có cầu cảng và là nơi tập
trung dân cư. Vụng Mun ở phía ĐN Thổ Chu,
sâu tới 8 m, hiện đã có mộ cầu bến nhỏ, là nơi
neo đậu và trú tránh gió bão luân đổi vào mùa
gió Tây Nam. Vụng Dong nằm ở phía ĐB và
ngăn cách với vụng Mun qua một mũi nhô, có
thể hỗ trợ neo trú cho vụng Mun khi sóng, gió
hướng TN và nam mạnh.
Địa hình đáy biển gần sát bờ đảo thường
khá dốc, sau đó thoải dần đều ra đến độ sâu
khoảng 20 - 30 m, với nền trầm tích đáy phổ
biến là cát chứa bùn sét và cuội sạn, cát chứa
cuội sạn thường phân bố ở sát ven các đảo [12].
Trên nền địa hình đáy đến độ sâu 30 m có
mặt các đồi ngầm và rãnh ngầm. Các đồi ngầm
ở độ sâu trung bình 16 - 25 m, trầm tích bề mặt
phổ biến cát chứa cuội sạn phổ biến ở phần
phía nam và hạn chế hơn ở phần phía ĐB và
TN cụm đảo. Các rãnh ngầm có trắc diện ngang
hình chữ V, sâu nhất đến 96 m, mặt đáy là trầm
tích bùn sét. Rãnh phía ĐB nằm phân cách giữa
đảo Thổ Chu và hòn Từ, dài 4 km, hướng ĐB-
TN, rộng trung bình 0,8 - 1 km, sâu trung bình
50 - 60 m, sâu nhất 96 m. Rãnh phía TN nằm
phân cách giữa đảo Thổ Chu và Hòn Khô,
hướng ĐB-TN, dài khoảng 2,5 km, rộng 0,5 -
1 km, sâu trung bình 40 - 50 m, sâu nhất 60 m
[12]. Tổng diện tích vùng nước bao quanh cụm
đảo Thổ Chu trong khoảng độ sâu 30 - 40 m
khoảng 19.200 ha [11], nền đáy phổ biến cát
chứa bùn sét.
Cấu tạo địa chất. Các đảo thuộc cụm đảo đều
được cấu tạo từ các đá trầm tích cát kết, xen ít
bột kết và sạn sỏi kết. Phân lớp trầm tích gần
như nằm ngang ở đảo Thổ Chu, uốn lượn nhẹ
theo trục đường phương hướng bắc - nam, tạo
Tài nguyên vị thế cụm đảo Thổ Chu,
117
nên góc dốc nghiêng thoải, thường 10 - 15o và
không vượt quá 20o ở các đảo khác. Ở các hòn
Cái Bàn, hòn Đá Bạc và Hòn Xanh, hướng dốc
phân lớp về phía tây; ở hòn Nhạn hướng TTB;
hòn Cao Cát và Hòn Từ hướng đông.
Theo Saurin, E., (1951), trầm tích ở cụm
đảo Thổ Chu thuộc “cát kết thượng” (Jura -
Creta). Fontaine, H., (1967) công bố phát hiện
các hoá thạch thân gỗ silic hoá và cho rằng
những cát kết ở Thổ Chu tương đương phần
trên của loại Khorat, có tuổi Jura [13]. Trên bản
đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 [14],
chúng được xếp vào hệ tầng Phú Quốc, tuổi
Jura không chia (J pq). Trên tờ bản đồ địa chất
lệ 1:200.000 các trầm tích hệ tầng Phú Quốc
được xếp vào tuổi Creta sớm (K1 pq) [15]. Bùi
Phú Mỹ và nnk., (2002) [16] đã phát hiện một
tập hợp hoá thạch phong phú và xác lập phân vị
địa tầng mới là Hệ tầng Thổ Chu, tuổi Creta
(K tc).
Nhờ có nền đá gốc vững chắc, bờ và các
đảo trong cụm ổn định lâu dài về hình dạng và
kích thước. Nền móng tốt nên có thể xây dựng
các công trình ngầm để tránh thiên tai và phòng
vệ. Trong điều kiện mưa nhiều, địa hình không
dốc, đá cát kết, cuội sạn đã tạo vỏ phong hóa
dày, trung bình 0,5 - 3 m thuận lợi cho phát
triển lớp phủ thực vật. Đảo khá rộng, đá gốc có
lỗ hổng, khe nứt, phân lớp giữ nước mưa tạo
nguồn nước ngầm phong phú, thậm chí có nước
dòng chảy bề mặt, thuận lợi cho dân sinh - kinh
tế. Đá trên các đảo còn là nguồn vật liệu xây
dựng quý, đặc biệt trường hợp khẩn cấp.
Động lực và tính ổn định. Trên bản đồ nguy
hiểm động đất cho thời gian 950 năm, cụm đảo
nằm trong khu vực ít nguy hiểm nhất, với chế độ
động đất cấp VI-VII (MSK-64) [17]. Lớp phủ
thực vật trên đảo khá tốt, khả năng xói mòn đất
hạn chế, nên cần phải bảo vệ. Quá trình mài mòn
bờ đảo đá gốc rất chậm, không gây biến động
đáng kể. Tuy nhiên, các bãi biển có thể bị thu
hẹp nếu mực biển dâng cao do biến đổi khí hậu.
Khí hậu khu vực cụm đảo khá ôn hòa, nóng
ấm quanh năm với nhiệt độ trung bình năm
27,2oC. Lượng mưa trung bình 3.001 mm/năm,
số ngày mưa trung bình 171,3 ngày mưa/năm,
tập trung vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng
11. Đây là vùng rất ít bão, trong 56 năm (1951 -
2007) chỉ có 17 cơn bão ở vịnh Thái Lan (vùng
biển Việt Nam 343 cơn). Bão vào các tháng 10
- 12, thường không lớn, nhưng cũng có cơn bão
rất lớn như bão Linda (1997). Vùng biển không
có sương mù, nhưng nhiều dông, trung bình
56,6 ngày dông/năm, phân bố vào các tháng 3 -
11. Gió mùa TN có tốc độ (trung bình 3,5 - 7,8
m/s) mạnh hơn gió mùa ĐB (4,1 - 5,5 m/s).
Vùng biển Thổ Chu có chế độ nhật triều, mực
triều thiên văn cao nhất khoảng 100 cm và nhỏ
nhất khoảng 50 cm. Sóng biển có độ cao trung
bình 0,75 - 1,25 m. Sóng yếu mùa Đông và
mùa Xuân, mạnh vào mùa Hè - mùa gió Tây
Nam. Sóng mạnh nhất vào tháng 7 và 8, độ cao
sóng lớn nhất trong năm 2,5 - 3 m, sóng lớn
trong bão chu kỳ 20 năm là 4,5 m. Dòng chảy
tổng hợp khi triều lên có hướng từ nam tới bắc,
khi triều xuống thì ngược lại. Tốc độ dòng
trung bình 10 - 20 cm/s, cực đại 60 cm/s. Dòng
chảy gió trong mùa gió ĐB hướng về phía TB,
mùa gió TN hướng về phía ĐN [18].
Đặc điểm địa hình bờ đảo và sự luân đổi
hướng sóng, gió theo mùa ảnh hưởng lớn đến
khả năng tiếp cận đảo và vị trí định cư dân trên
đảo. Dân cư hiện tập trung tại Bãi Ngự, đến
mùa gió Tây Nam, khoảng hơn 200 hộ tạm di
dời sang Bãi Dong để bám sát các hoạt động
dịch vụ hàng hóa và thủy sản theo bến và đến
mùa gió Đông Bắc lại quay về Bãi Ngự.
GIÁ TRỊ VỊ THẾ ĐỊA-KINH TẾ
Vị trí ưu tiên đối với phát triển kinh tế biển-
đảo của đất nước - không gian vươn xa của
kinh tế Tây Nam Bộ trên vịnh Thái Lan.
Cụm đảo Thổ Chu thuộc huyện Phú Quốc,
Kiên Giang, được xác định là có tiềm năng phát
triển kinh tế, đồng thời là căn cứ vững chắc để
bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền vùng
biển, đảo Tây Nam của Tổ quốc. Cụm đảo có
vị trí độc tôn gần giữa vịnh Thái Lan, hoàn toàn
có điều kiện trở thành điểm sáng về an ninh
quốc phòng và phát triển kinh tế. Cùng với thế
mạnh đánh bắt và chế biến hải sản (đặc biệt là
mực xuất khẩu), là sự phát triển của các ngành
nghề kinh doanh dịch vụ: Tạp hóa, ngư lưới cụ,
cơ sở hàn tiện, sửa chữa máy móc, dược phẩm,
ăn uống giải khát,... nên đời sống của dân đảo
không ngừng được cải thiện. Theo Quyết định
số 186/QĐ-TTg ngày 24/1/2014 của Thủ tướng
phê duyệt đề án xây dựng đảo thanh niên toàn
quốc giai đoạn 2013 - 2020, Thổ Chu là một
trong các đảo thanh niên, cùng với Đảo Trần
Nguyễn Đắc Vệ, Trần Đức Thạnh,
118
(Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Cồn
Cỏ (Quảng Trị) và Hòn Chuối (Cà Mau). Các
đảo thanh niên có định hướng chung: Quy
hoạch, sắp xếp dân cư trên đảo; xây dựng cơ
sở hạ tầng; phát triển các ngành nghề khai thác
và nuôi trồng, chế biến hải sản, dịch vụ hậu cần
nghề cá, phát triển du lịch, vận tải, kết hợp cứu
hộ, cứu nạn trên biển; bảo vệ môi trường sinh
thái; phát triển văn hóa, y tế, giáo dục; phối
hợp, góp phần bảo vệ vững chắc biển đảo. Đảo
Thổ Chu được nhấn mạnh về sắp xếp, ổn định
dân cư tại chỗ, khai thác tiềm năng kinh tế
biển, phát triển sản xuất kết hợp bảo đảm quốc
phòng - an ninh vùng biển Tây Nam.
Khai thác hải sản và hậu cần nghề cá. Tổng
trữ lượng cá nổi và cá tầng đáy ở vùng biển ven
bờ Tây Nam Bộ thuộc vịnh Thái Lan (hình 6)
khoảng 50,6 vạn tấn và khả năng khai thác 20,2
vạn tấn/năm [19], trong đó cá nổi chiếm
khoảng 63% và cá tầng đáy chiếm khoảng 37%
[20]. Vùng biển đảo Thổ Chu có tổng giá trị
kinh tế đạt thấp nhất 565,24 tỷ đồng/năm
(25,121 triệu USD/năm) và cao nhất là
4.098,44 tỷ đồng/năm (182 triệu USD/năm),
trong đó nhóm giá trị sử dụng trực tiếp 62,86%,
nhóm giá trị sử dụng gián tiếp 37,06%, nhóm
giá trị phi sử dụng >1%. Tổng giá trị kinh tế
thấp nhất ở Thổ Chu thấp hơn Bạch Long Vĩ
(26,624 triệu USD/năm) và cao hơn Cồn Cỏ
(11,9 triệu USD/năm). Tuy nhiên, nếu quy về
đơn vị diện tích 1 ha thì Thổ Chu 125,47 triệu
đồng/1 ha/năm, thấp hơn so với Cồn Cỏ (307
triệu đồng/1 ha/năm) và cao hơn so với vùng
đảo Bạch Long Vĩ (94,3 triệu đồng/1 ha/năm)
[11].
Tổng sản lượng khai thác hải sản vùng biển
đảo Thổ Chu 40.809 tấn/năm, cho giá trị
631.820 triệu đồng/năm, trong đó từ hoạt động
chế biến 5.040 triệu đồng/năm. Sản lượng các
nhóm động vật đáy 566 tấn/năm cho giá trị
49.134,4 triệu đồng/năm; Sản lượng khai thác
cá trên rạn san hô và rạn đá 605 tấn/năm, giá trị
41.392,2 triệu đồng/năm. Sản lượng cá vùng
nước ven đảo 39.637 tấn/năm, giá trị 536.253,6
triệu đồng/năm.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết
định số 18/2009/QĐ-TTg về Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven
biển Việt Nam thuộc vịnh Thái Lan thời kỳ đến
năm 2020. Cho đến năm 2014, có khoảng 50 -
100 thuyền khai thác nguồn lợi động vật đáy
quanh đảo (tôm, cua, mực, hải sâm,) bằng
các nghề lặn, câu và lưới. Có khoảng 150
phương tiện từ nhiều địa phương khai thác
nguồn lợi cá rạn với các nghề chính là: lặn, câu
chạy, câu bủa, câu giàn, lưới bao rạn với các
đối tượng có giá trị kinh tế cao như: Mú, gáy,
chình, thu,... Tham gia khai thác thủy sản đến
độ sâu khoảng 30 m nước ven đảo có khoảng
150 tàu (50 tàu thuyền nhỏ <50 CV và 100 tàu
lớn có công suất 150 - 300 CV).
Hình 6. Phân bố các bãi cá ở vùng biển
Tây Nam Bộ [20]
Địa bàn thuận lợi phát triển kinh tế dịch vụ
biển
Dịch vụ dầu khí. Thổ Chu có tiền đề phát triển
du lịch dầu khí. Bể trầm tích dầu khí Mã lai -
Thổ Chu nằm ở phía bắc cụm đảo, kéo dài
hướng TB-ĐN, có diện tích khoảng 100.000
km2, bao gồm các lô 37 đến 44, 46, 48/95, 50,
51, B và 52/97, chứa khí nhiều hơn dầu và xếp
thứ 4 về triển vọng và tiềm năng dầu khí của
Việt Nam. Đã đưa vào khai thác các mỏ Cái
Nước, Sông Đốc, PM-3CAA và chuẩn bị đưa
vào khai thác các mỏ Hoa Mai, cụm mỏ Rạch
Tàu - Phú Tân - Khánh Mỹ, Kim Long, Ác
Quỷ, Cá Voi. Ngoài ra, đã phát hiện được dầu
khí tại cấu tạo Bắc Kim Long [21].
Tài nguyên vị thế cụm đảo Thổ Chu,
119
Dịch vụ hàng hải. Nằm gần đường hải biên
quốc tế Băng Cốc - Kông Pông Xom - Sài Gòn
- Hồng Kông, Thổ Chu được xem là một vị trí
chiến lược quan trọng. Hải đăng đảo Thổ Chu
được thiết lập vào ngày 25/1/2000, có tầm hiệu
lực vào ban đêm là 12 hải lý (22,2 km) và tâm
sáng trong phạm vi 140 m. Khi có kênh đào
Kra, cụm đảo Thổ Chu nằm rất gần tuyến hàng
hải mới này, sẽ có thêm cơ hội phát triển, đồng
thời gánh thêm trách nhiệm và thách thức bảo
vệ chủ quyền, tài nguyên và môi trường biển
thuộc chủ quyền Việt Nam.
Dịch vụ du lịch và nghỉ dưỡng. Thổ Chu có
tiềm năng phát triển bền vững du lịch biển -
đảo, để du lịch và các dịch vụ kèm theo trở
thành ngành mũi nhọn tại địa phương, đóng
góp tích cực vào tổ chức hợp lý không gian du
lịch trong toàn vùng. Đây là một điểm du lịch
sinh thái biển đảo, đầy hứa hẹn, nơi dừng chân
cho tàu du lịch viễn dương.
Dịch vụ tìm kiếm cứu nạn và hỗ trợ y tế trên
biển. Do nhu cầu khai thác và bảo vệ biển đảo,
Thổ Chu có điều kiện để phát triển một trung
tâm tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ y tế, kèm theo
bên tránh trú gió bão trên biển. Tuy nhiên, cần
cấp bách xây dựng khu âu tầu neo trú ổn định
cho cả hai mùa gió.
Bảo tồn tự nhiên biển, đảo
Hình 7. Rừng xanh trên đảo Thổ Chu
Thổ Chu là một trong những đảo ven bờ
còn bảo tồn khá tốt sinh cảnh tự nhiên và đa
dạng sinh học. Theo Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ số 45/QĐ-TTg năm 2014 về quy
hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học cả
nước đến 2020, định hướng đến 2030, khu bảo
tồn biển thiên nhiên cụm đảo Thổ Chu có diện
tích 20.000 ha. Trên đảo có rừng xanh tốt
(hình 7), với gần 200 loài thực vật thuộc hơn 80
họ; thảm rừng còn tốt, độ che phủ trên 90% với
nhiều cây cổ thụ và cây gỗ lớn. Những loài ưu
thế trong quần xã rừng thuộc các họ: Bứa
(Clusiaceae), trinh nữ (Fabaceae: Minosoideae),
lim (Myrtaceae) và hồng xiêm (Sapotaceae).
Các loài cây kơnia, cám và đa cao tới 30 -
35 m, đường kính 70 - 120 cm. Cây Mai vàng
có thể cao tới 12 - 15 m, đường kính 20 -
25 cm. Các cây cổ thụ sót lại của họ cám và
kơnia, được coi là biểu tượng của đảo.
Trong quần xã thực vật ven biển có cây gỗ
lớn là bàng vuông và tung là các loài đặc trưng
cho Thổ Chu [11]. Động vật trên đảo có các
loài như sóc, khỉ, trăn, rắn, đặc biệt có loài
đặc hữu là thằn lằn chân ngón Thổ Chu
(Cyrtodactylus thochuensis)2. Hệ sinh thái rạn
san hô ven đảo Thổ Chu (hình 8) gồm 813 loài,
trong đó TVPD 110 loài, rong biển 57 loài,
ĐVPD 100 loài, san hô 202 loài, động vật đáy
247 loài, cá rạn 97 loài. Hệ sinh thái đáy mềm
ven đảo Thổ Chu (đến độ sâu 30 - 40 m) được
biết có 791 loài, trong đó thực vật phù du 196
loài, động vật phù du 144 loài, động vật đáy
203 loài, cá biển 240 loài, nguồn giống tôm và
cua 8 loài [11].
Hình 8. Rạn san hô bảo tồn rất tốt
ven đảo Thổ Chu
GIÁ TRỊ VỊ THẾ ĐỊA-CHÍNH TRỊ
Giá trị về chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi
ích quốc gia trên vùng biển Tây Nam
2ADB, 1999. Draft coastal and marine protected
areas plan. Hanoi: Asian Development Bank.
Nguyễn Đắc Vệ, Trần Đức Thạnh,
120
Vị trí địa-chính trị nhạy cảm. Từ đầu thế kỷ
XVIII đến trước khi có đường Brévié (1939),
cụm đảo Thổ Chu và toàn bộ các đảo nằm giữa
Việt Nam và Campuchia về cả lịch sử và pháp
lý đều thuộc chủ quyền của Việt Nam. Phía
Campuchia mới chỉ chính thức quản lý các đảo
ở phía bắc đường Brévié từ năm 1939. Sau đó,
tình hình tranh chấp các đảo trong khu vực này
diễn biến hết sức phức tạp. Ngày 10/5/1975,
chính quyền diệt chủng Pôn Pốt đã đổ quân
đánh chiếm đảo Thổ Chu và gây tội ác dã man
với hơn 500 thường dân Việt Nam trên đảo.
Sau trận chiến quyết liệt vào các ngày 24 đến
27/5/1975, quân đội Việt Nam đã tiêu diệt quân
xâm lược và giải phóng đảo. Ngày 7/7/1982,
hai nước Việt Nam và Campuchia đã ký Hiệp
định về vùng nước lịch sử giữa hai nước, lấy
đường Brévié 1939 phân chia đảo trong khu
vực và sau này sẽ thương lượng để hoạch định
đường biên giới trong vùng nước lịch sử. Ngày
24/4/1993, Chính phủ Việt Nam quyết định
thành lập xã đảo Thổ Châu. Khi mới thành lập
xã chỉ có khoảng chục hộ, đến nay đã dần có cơ
sở hạ tầng khá phát triển, dân cư đông đúc, sinh
sống nhờ các hoạt động đánh bắt và dịch vụ
nghề cá, tiểu thủ công, trồng trọt và chăn nuôi.
Với vị trí địa-chính trị nhạy cảm và tầm quan
trọng về kinh tế biển đảo, ngày 22/10/2014, tại
Kỳ họp thứ 13, HĐND tỉnh Kiên Giang khoá
VIII đã thông qua tờ trình về việc thành lập
huyện đảo Thổ Châu, trên cơ sở toàn bộ xã đảo
Thổ Châu hiện tại, với các điều kiện cơ bản:
Diện tích tự nhiên 1.395 ha, trong đó đất nông
nghiệp 61,79 ha, đất phi nông nghiệp 1.245,2
ha, đất ở 8,32 ha, đất chuyên dùng 1.236,88 ha;
dân số 518 hộ với 1.912 người.
Giá trị khẳng định và mở rộng chủ quyền quốc
gia trên biển. Trong tuyên bố của Chính phủ
nước CHXHCN Việt Nam ngày 12/11/1982,
hòn Nhạn (hình 9) thuộc cụm đảo Thổ Chu
(rộng khoảng 6,45 ha, cao 25 m, tọa độ
9°15’B - 103°27’Đ) là điểm đầu tiên và xa bờ
nhất trong hệ thống 11 điểm của đường cơ sở.
Bên trong đường cơ sở thẳng nối 11 điểm
nêu trên là vùng nội thủy, Việt Nam có chủ
quyền hoàn toàn, đầy đủ và tuyệt đối như trên
lãnh thổ đất liền, sau đó vùng lãnh hải rộng 12
hải lý và vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải
lý tính từ đường cơ sở, với lợi ích lớn về hải
sản, dầu khí, giao thông, và đặc biệt về an
ninh và quốc phòng.
Hình 9. Hòn Nhạn - Điểm A1 trong hệ thống
đường cơ sở
Theo hiệp định giữa Việt Nam và Thái Lan
ngày 9/8/1997 về phân định ranh giới hai nước
trên vịnh Thái Lan, Thổ Chu được hưởng 70%
hiệu lực trong phân định lãnh hải và vùng đặc
quyền kinh tế [22].
Giá trị về đảm bảo an ninh quốc phòng
Một cứ điểm quân sự vững chắc ở vùng biển
Tây Nam giữa vịnh Thái Lan. Từ bài học lịch
sử về cuộc xâm lăng của bọn diệt chủng Pôn
Pốt ngày ngày 10/5/1975, việc xây dựng một
cứ diểm quân sự mạnh tại cụm đảo Thổ Chu là
hết sức quan trọng. Đảo Thổ Chu có diện tích
lớn, mặt bằng rộng, rừng cây xanh tốt, bờ đảo
đá gốc dốc đứng, lại có các vụng kín neo đậu,
bãi cát đổ quân - xuất quân, lại có nhiều đảo vệ
tinh xa - gần hỗ trợ nên rất lợi thế về xây dựng
cứ điểm phòng thủ tập trung và liên hoàn, vững
chắc. Cứ điểm này góp phần duy trì hòa bình, ổn
định và phát triển vùng biển và ven biển Việt
Nam trên vịnh, ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả
các hoạt động xâm phạm chủ quyền và lợi ích
quốc gia trên biển và góp phần ngăn chặn nạn
cướp biển rất phức tạp ở các vùng nước gần các
tuyến hàng hải quốc tế.
Một mắt xích quan trọng trong phòng tuyến các
đảo trên vùng biển Tây Nam. Các đảo ven bờ
Nam Bộ gồm phần phía đông có 30 đảo với
diện tích 80,13 km2 và phần phía tây trong vịnh
Thái Lan có 165 đảo với tổng diện tích 613,34
km2. Chúng được phân thành 11 cụm: Côn
Đảo, Hòn Khoai, Thổ Chu, Nam Du, Hòn Rái,
Hòn Tre, Hòn Nghệ, Bà Lụa, Hải Tặc, An Thới
và Phú Quốc. Trong đó, 9 cụm sau thuộc Kiên
Tài nguyên vị thế cụm đảo Thổ Chu,
121
Giang. Theo đặc điểm phân bố, trong mối quan
hệ chức năng kinh tế với chức năng quốc
phòng, chúng được chia thành 3 lớp: Lớp đảo
tiền tiêu - biên giới (Hải Tặc, Phú Quốc, An
Thới và Thổ Chu); lớp đảo tiền tiêu (Hòn
Khoai, Côn Đảo) và lớp đảo, cụm đảo tuyến
trong (Nam Du, Hòn Rái, Hòn Tre, Hòn Nghệ,
Bà Lụa) [8]. Cụm đảo nằm xa bờ nhất trong lớp
đảo tiền tiêu - biên giới, nên trở thành mắt xích
trọng yếu nhất.
Trạm gác, tháp canh tiền tiêu và bao quát rộng
lớn trên vùng biển Tây Nam và cơ sở hậu cần
và vị trí trung chuyển cho các hoạt động tác
chiến xa bờ. Từ Thổ Chu có thể kiểm soát hầu
hết các tàu đi lại trong vịnh có liên quan đến
bốn nước. Cụm đảo là vị trí có tầm quan trọng
đặc biệt kiểm soát các hoạt động đảm bảo chủ
quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của
Việt Nam tại vùng nước lịch sử giáp ranh với
Campuchia (Hiệp định năm 1982), đường phân
giới trên vịnh với Thái Lan (Hiệp định năm
1997) và vùng biển chồng lấn với Malaysia
rộng 2.800 km2 gần cửa vịnh Thái Lan (văn bản
thoả thuận hợp tác khai thác chung vùng chồng
lấn, ký kết với Malaysia năm 1992). Với vị trí
tại điểm cực Tây của hệ thống đảo ven vờ Việt
Nam, gần giữa vịnh Thái Lan, cụm đảo có chức
năng tự nhiên và có lợi thế để thực hiện nhiệm
vụ an ninh chủ quyền và bảo vệ môi trường
trên vùng biển Tây Nam rộng lớn. Thổ Chu
nằm ở vị trí cửa ngõ của Kiên Giang và Cà
Mau, bảo vệ bao quát dải bờ biển dài 200 km
của hai tỉnh này. Những điều kiện thuận lợi về
vị trí, về tiềm năng bến bãi nêu trên cùng với
diện tích đảo đủ lớn, rất thuận lợi cho Thổ Chu
phát triển thành cơ sở hậu cần và vị trí trung
chuyển cho các hoạt động tác chiến xa bờ.
KẾT LUẬN
Cụm đảo Thổ Chu, mà tâm điểm là đảo
Thổ Chu có tiềm năng tài nguyên vị thế lớn về
tất cả các giá trị địa-tự nhiên, địa-kinh tế và
địa-chính trị, hội tụ đủ điều kiện và có khả năng
đảm trách đầy đủ các chức năng của một đơn vị
hành chính cấp huyện ở vùng biển cực Tây
Nam của Tổ quốc, gần giữa vịnh Thái Lan.
Tài nguyên địa tự nhiên quý giá có được cơ
bản nhờ các yếu tố hình thái, diện tích, cấu tạo
các đảo, khả năng tiếp cận đảo, sự ổn định về
động lực, ít thiên tai, cũng như nguồn tài
nguyên thiên nhiên tại chỗ trên đảo và ven đảo
phong phú cho phép định cư ổn định lâu dài
một lượng dân số đáng kể và xây dựng cơ sở hạ
tầng khai thác, bảo vệ vùng biển đảo.
Tài nguyên địa-kinh tế to lớn của cụm đảo,
không chỉ từ nguồn tại nguyên tại chỗ để phát
triển nghề cá và du lịch, mà chính là quan hệ
không gian trên biển với các ngư trường, bể
dầu khí, các tuyến hàng hải để tạo ra các sản
phẩm dịch vụ có giá trị.
Tài nguyên địa-chính trị giá trị rất lớn của
cụm đảo nhờ nằm trên tuyến tiền tiêu-biên giới,
mang lại các lợi ích về mở rộng chủ quyền và
đảm bảo lợi ích quốc gia trên biển, phòng thủ
vững chắc và giám sát hiệu quả một vùng biển
rộng lớn trên vịnh Thái Lan, bao gồm các vùng
chủ quyền, vùng nước lịch sử và vùng chồng
lấn trên vịnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Đức Thạnh, Trần Đình Lân, Nguyễn
Hữu Cử, 2009. Tài nguyên vị thế biển Việt
Nam: Định dạng, tiềm năng và định hướng
phát huy giá trị. Tạp chí Khoa học và Công
nghệ biển, 9(Phụ trương 1), 1-17.
2. Trần Đức Thạnh, Lê Đức An, Nguyễn Hữu
Cử, Trần Đình Lân, Nguyễn Văn Quân, Tạ
Hòa Phương, 2012. Biển đảo Việt Nam -
Tài nguyên vị thế và những kỳ quan địa
chất, sinh thái tiêu biểu. Nxb. Khoa học Tự
nhiên và Công nghệ. Hà Nội. 324 tr.
3. Trần Đức Thạnh, 2007. Một số dạng tài
nguyên vị thế biển Việt Nam. Tạp chí Khoa
học và Công nghệ biển, 7(4), 80-93.
4. Lê Đức An, Uông Đình Khanh, Trần Đức
Thạnh, Võ Thịnh, 2011. Tài nguyên vị thế
hệ thống cửa sông Việt Nam. Tài nguyên và
Môi trường biển. Tập XVI. Nxb. Khoa học
Tự nhiên và Công nghệ. Hà Nội. Tr. 20-28.
5. Trần Đức Thạnh, Lê Đức An, Trịnh Thị
Minh Trang, 2014. Vùng cửa sông ở Hải
Phòng - Tài nguyên vị thế và tiềm năng
phát triển. Tạp chí Khoa học và Công nghệ
biển, 14(2), 110-121.
6. Trịnh Thị Minh Trang, Nguyễn Thị Nguyệt
Hà, Trần Đức Thạnh, 2015. Tài nguyên vị
thế vùng bờ Khánh Hòa: Tiềm năng và
triển vọng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ
biển, 15(1), 13-24.
Nguyễn Đắc Vệ, Trần Đức Thạnh,
122
7. Trần Đức Thạnh, Lê Đức An, 2012. Tài
nguyên vị thế tự nhiên đảo Bạch Long Vĩ.
Tạp chí Các Khoa học về Trái đất, 34(4),
477-485.
8. Lê Đức An, Uông Đình Khanh, Nguyễn
Ngọc Thành, 2009. Tài nguyên vị thế các
đảo ven bờ Nam Bộ với vấn đề an ninh
quốc phòng và phát triển kinh tế - xã hội.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển, 9(4),
77-87.
9. Arrowsmith, J., 1832. Burma, Siam and
Cochin China. In: World Atlas. Scale
1:4.600.000. 35, Essex Street, Strand,
London.
10. Lê Đức An, 2008. Hệ thống đảo ven bờ
Việt Nam - Tài nguyên và phát triển. Nxb.
Khoa học Tự nhiên và Công nghệ. Hà Nội.
199 tr.
11. Trần Đình Lân, Nguyễn Thị Minh Huyền,
Nguyễn Thị Thu và nnk., 2016. Lượng giá
kinh tế các hệ sinh thái biển - đảo tiêu biểu
phục vụ phát triển bền vững một số đảo tiền
tiêu ở vùng biển ven bờ Việt Nam”. Mã số
đề tài: KC.09.08/11-15. Tuyển tập kết quả
nổi bật các đề tài KH&CN KC.09/11-15.
Tập 2. Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công
nghệ. Hà Nội. Tr. 921-994.
12. Phạm Bá Trung, 2016. Đặc điểm địa hình
đáy và trầm tích tầng mặt vùng biển quần
đảo Thổ Chu. Tạp chí Khoa học và Công
nghệ biển, 16(2), 136-143.
13. Fontaine, H., 1967. Note sur l’archipel de
Tho-Chau. Archives Geology Vietnam, 10,
17-22.
14. Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao (chủ
biên), 1988. Bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ
1:500.000. Tổng cục Mỏ và Địa chất, Hà
Nội.
15. Nguyễn Ngọc Hoa (chủ biên), 1996.
Bản đồ địa chất và khoáng sản Việt Nam tỷ
lệ 1:200.000; loạt tờ đồng bằng Nam Bộ: tờ
Phú Quốc - Hà Tiên. Cục Địa chất Việt
Nam, Hà Nội.
16. Bùi Phú Mỹ, Trần Hồng Lĩnh, Khiếu Văn
Giáp, Hoàng Đình Khảm, 2002. Các trầm
tích màu đỏ ở cụm đảo Thổ Chu, tỉnh Kiên
Giang. Tạp chí Địa chất, A/268: 9-14.
17. Bùi Công Quế (chủ biên), 2010. Nguy hiểm
động đất và sóng thần ở Việt Nam. Nxb.
Khoa học Tự nhiên và Công nghệ. Hà Nội.
313 tr.
18. Đỗ Ngọc Quỳnh (chủ biên), 2013. Điều
kiện tự nhiên và tài nguyên vùng biển Tây
Nam Việt Nam. Nxb. Khoa học Tự nhiên và
Công nghệ. Hà Nội. 288 tr.
19. Lê Đức Tố (chủ biên), Hoàng Trọng Lập,
Trần Công Trục, Nguyễn Quang Vinh,
2004. Quản lý biển. Nxb. Đại học Quốc gia
Hà Nội. 204 tr.
20. Phạm Thược, 2007. Cơ sở khoa học của
việc bảo tồn đa dạng sinh học vùng biển
Tây Nam Bộ. Nxb. Nông nghiệp. Hà Nội.
175 tr.
21. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, 2011. Lịch sử
ngành dầu khí Việt Nam (đến năm 2010) -
Chương 7: Hoạt động thăm dò và khai thác.
Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật. Hà Nội.
Tr. 221-401.
22. Lưu Văn Lợi, 2007. Những điều cần biết về
Đất, Biển, Trời Việt Nam. Nxb. Thanh
Niên. Hà Nội, 303 tr.
POSITION RESOURCES OF THO CHU ISLAND GROUP,
SOUTHERN VIETNAM
Nguyen Dac Ve, Tran Duc Thanh, Tran Dinh Lan,
Bui Van Vuong, Nguyen Thi Minh Huyen
Institute of Marine Environment and Resources, VAST
ABSTRACT: Located near center of the Gulf of Thailand, the Tho Chu island group is
approximately far 160 km from Ca Mau southwestwards, and 100 km from Phu Quoc island
northwestwards. This group consists of 8 islands, of which the largest Tho Chu island is of 12.15
Tài nguyên vị thế cụm đảo Thổ Chu,
123
km2 wide and 167 m high, and composes of clastic sedimentary rocks. Despite the greatest distance
from the coast, this coastal island group has the characteristics of geological structure, morphology,
spatial structure, area, height, ecological landscape, dynamics and stability of natural processes that
create the great value of geo-natural position resources and favorable residential environment.
Regarding value of geo-economic position resources, the island group belongs to Phu Quoc district,
but it meets the good conditions to become a district-level administrative unit belonging to Kien
Giang province. This is a priority site for sea-island economic development, the island group has a
great potential to develop the marine economic sectors such as fisheries, natural conservation,
tourism and other important services such as oil and gas extraction, navigation and search-rescue at
sea. In terms of value of geo-political position resources, this island group includes Hon Nhan islet
as the basic point of A1, so has the great value for Vietnam’s sovereignty, sovereign rights and
interests in the Gulf of Thailand. Situating in the politically high sensitive region, the island group
possesses the high value on the defense, could develop into a firmly military outpost contributing to
national defense and security at sea.
Keywords: Island group of Tho Chu, position resources, geo-natural position, geo-economic
position, geo-political position.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tai_nguyen_vi_the_cum_dao_tho_chu_phia_nam_viet_nam.pdf