Khối lượng sơ sinh/con trung bình 3
lứa đẻ đầu của tổ hợp lai Dx(LYVCN-MS15)
đạt 1,34kg, thấp hơn so với của tổ hợp lai
Dx(YLVCN-MS15) chỉ đạt 1,35kg. Sự sai khác
giữa 2 giá trị trung bình của 2 tổ hợp lai này
không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Kết quả
này cao hơn công bố của tác giả Nguyen Van
Duc (1997).
Khối lượng sơ sinh/ổ của 2 tổ hợp lai
Dx(LYVCN-MS15) và Dx(YLVCN-MS15)
tương ứng đạt 17,90 và 18,01kg, cao hơn giá
trị 12,59 và 12,57kg của 2 tổ hợp lai Lx(YVCNMS15) và Yx(LVCN-MS15) được công bố bởi
nhóm tác giả Lê Thế Tuấn và ctv (2020) là vì tổ
hợp lai này là con lai 4 giống, có đến 87,5% gen
là của D, L, Y và 12,5% gen của VCN-MS15,
trong khi đó ở nghiên cứu trước của nhóm tác
giả này là tổ hợp lai 3 giống Yx(LVCN-MS15)
và Lx(YVCN-MS15) nên chỉ có 75% gen L và Y
và 25% là gen VCN-MS15.
Kết quả nghiên cứu KLCS/con trung
bình 3 lứa đẻ đầu của lợn Lx(YVCN-MS15)
và Yx(LVCN-MS15) khi được phối với đực D
thì con lai 4 giống lúc cai sữa lần lượt là 6,52
và 6,46kg. Sự sai khác này không có ý nghĩa
thống kê (P>0,05).
Khối lượng cai sữa/ổ của 2 tổ hợp lai
Dx(LYVCN-MS15) và Dx(YLVCN-MS15)
tương ứng là 81,16 và 80,78kg, sự sai khác
này không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Kết
quả này cao hơn giá trị 79,45 và 78,65kg ở lợn
lai Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15) của
là con lai 4 giống D, L, Y, VCN-MS15 so với co
lai 3 giống L, Y, VCN-MS15 ở nghiên cứu trước.
Lợn nái lai Lx(YCN-MS15) và Yx(LCNMS15) có KCLĐ tương đối tốt, trung bình ở
hai nhóm khi được phối với đực D của 3 lứa
đẻ đầu lần lượt là 154,67±1,69 và 154,83±1,06
ngày. Sự sai khác giữa 2 giá trị trung bình này
không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05). Kết
quả này tương đương với giá trị 154,67±1,69
và 154,83±1,06 ngày được công bố bởi Lê Thế
Tuấn và ctv (2020a) khi nghiên cứu trên lợn
nái LxVCN-MS15 và YxVCN-MS15 vì chúng
đều có nguồn gen VCN-MS15. Kết quả nghiên
cứu này thấp hơn giá trị 195 và 192 ngày của
2 nhóm lợn nái lai Lx(YMC) và Yx(LMC) công
bố của Nguyen Van Duc (1997).
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tăng khối lượng, dày mỡ lưng, tiêu tốn thức ăn, đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái hậu bị và năng suất sinh sản của lợn nái lai Lx(yvcn-Ms15) và Yx(lvcn-ms15), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
DI TRUYỀN - GIỐNG VẬT NUÔI
KHKT Chăn nuôi số 255 - tháng 3 năm 2020 45
TĂNG KHỐI LƯỢNG, DÀY MỠ LƯNG, TIÊU TỐN THỨC ĂN,
ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC CỦA LỢN CÁI HẬU BỊ VÀ
NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI LAI Lx(YVCN-MS15)
VÀ Yx(LVCN-MS15)
Lê Thế Tuấn1*, Phạm Duy Phẩm1, Trịnh Hồng Sơn1, Trịnh Quang Tuyên1, Vũ Văn Quang1,
Nguyễn Thi Hương1, Phạm Sỹ Tiệp1 và Nguyễn Văn Đức2
Ngày nhận bài báo: 10/09/2019 - Ngày nhận bài phản biện: 18/09/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng: 18/10/2019
TÓM TẮT
Lợn cái lai Lx(YMS) và Yx(LMS) là kết quả tạo ra từ lợn lai LxVCN-MS15 và YxVCN-MS15 được
phối với L và Y tại Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương. Thí nghiệm được thực hiện: (1) Tuyển
chọn 80 lợn cái lai hậu bị Lx(YVCN-MS15) và 80 Yx(LVCN-MS15) để nuôi kiểm tra năng suất cá thể
nhằm xác định tăng khối lượng, dày mỡ lưng, tiêu tốn thức ăn và đặc điểm sinh lý sinh dục tại Trung
tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương, từ tháng 2/2015 đến tháng 10/2015 và tuyển chọn 30 lợn nái lai
Lx(YVCN-MS15) và 30 Yx(LVCN-MS15) cho phối với đực Duroc (D) để đánh giá năng suất sinh sản,
thực hiện tại Công Ty TNHH Một Thành Viên Hưng Tuyến, từ tháng 7/2015 đến tháng 12/2018. Kết
quả nghiên cứu cho thấy: (1) Tăng khối lượng, dày mỡ lưng, tiêu tốn thức ăn của 2 nhóm lợn cái lai
hậu bị Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15) là 726,63 và 727,44 g/con/ngày; 13,67 và 13,63mm; 2,66
và 2,67kg TA/kg TKL (P<0,05). (2) Yếu tố giống không ảnh hưởng đến tất cả các tính trạng sinh sản
nghiên cứu; Mùa vụ ảnh hưởng đến các tính trạng SCSS và KCLĐ; Lứa đẻ ảnh hưởng rất rõ rệt đến
các tính trạng SCSS, SCSSS, KLSS/ổ, SCCS và KLCS/ổ. (3) Tuổi phối giống và tuổi đẻ lần đầu là 221,77
và 222,20 ngày và 339,20 và 339,90ngày (P>0,05). (4) Năng suất sinh sản 90 ổ của 3 lứa đẻ đầu của mỗi
nhóm lợn nái lai này khi phối với đực D cho thấy năng suất sinh sản tốt: SCSS là 13,84 và 13,87 con;
SCSSS là 13,38±0,15 và 13,39±0,16 con; SCCS 12,46 và 12,51 con; KLSS/con là 1,34 và 1,35kg; KLCS/con
là 6,52 và 6,46kg; KLCS/ổ là 81,16 và 80,78 và KCLĐ là 154,67 và 154,83 ngày.
Từ khóa: Lợn Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15), sinh trưởng, sinh sản, yếu tố ảnh hưởng, lợn
đực Duroc.
ABSTRACT
Growth performance of gilts and reproduction of sows mating with Duroc boar of
Lx(YVCN-MS15) and Yx(LVCN-MS15) crossbred pigs
A total of 80 Lx(YVCN-MS15) and 80 Yx(LVCN-MS15) crossbred gilts were used for identify-
ing the ADG, FCR and BF in Thuy Phuong Pig Breeding Center from Feb 2015 to Oct 2015; and 30
Lx(YVCN-MS15) and 30 Yx(LVCN-MS15) sows were mated with D boars in order to identify the
reproductive traits in Hung Tuyen Limited Company, from Jul 2015 to Dec 2018. The experimental
results showed that: (1) The ADG, BF and FCR of these two gilt groups were 726.63 and 727.44 g/
pig/day, 13.67 and 13.63mm, 2.66 and 2.67 kg/kg; (2) The group of sows was not effecting to all
reproductive traits, however parities were effecting to NB, NBA, NW, BW, WW; (3) Age at first
mating and farrowing were 221.77 and 222.20 days and 339,20 and 339,90 days; and (4) The average
of reproductive traits from 90 first three parities of each group Lx(YVCN-MS15) and Yx(LVCN-
MS15) sows were good: The NB was 13.84 and 13.87 piglets, NBA was 13.38 and 13.39 piglets, NW
was 12.46 and 12.51 piglets, BW was 1.34 and 1.35kg and WW was 6.52 and 6.46kg, respectively.
These farrowing intervals were 154.67±1.69 and 154.83±1.06 days, respectively.
Keywords: Lx(YVCN-MS15) and Yx(LVCN-MS15) pigs, growth, reproduction, factor effecting,
Duroc boar.
1 Viện Chăn nuôi
2 Hội Chăn nuôi Việt Nam
* Tác giả liên hệ: ThS. Lê Thế Tuấn, PGĐ Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thuỵ Phương, Viện Chăn nuôi; ĐT: 0973162772; Email:
tuanlevcn@gmail.com
DI TRUYỀN - GIỐNG VẬT NUÔI
KHKT Chăn nuôi số 255 - tháng 3 năm 202046
1. ĐẠT VẤN ĐỀ
Lợn lai Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-
MS15) là kết quả tạo ra từ nhóm lợn lai YxVCN-
MS15 và LxVCN-MS15 được phối với đực L và
Y tại Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương,
Viện Chăn nuôi. Do lợn lai LxVCN-MS15 và
YxVCN-MS15 có nhiều vú, tuổi thành thục về
tính sớm, khả năng sinh sản cao, nuôi con khéo,
khả năng thích nghi cao và chống chịu bệnh tốt
với điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam (Nguyễn
Quế Côi và ctv, 2013; Phạm Duy Phẩm và ctv,
2014) nên được chọn làm nái cho phối giống
với đực D nhằm đánh giá khả năng sinh sản để
từ đó chọn làm nguyên liệu tạo dòng mẹ tổng
hợp chất lượng cao trong hệ thống giống lợn
của Việt Nam. Từ 2 nhóm lợn lai này, Nguyễn
Thi Hương (2018) đã nghiên cứu cho phối
giống với đực PiDu và đã thu được thành công
là khẳng định năng suất sinh sản cao, chứng
tỏ tính năng sinh sản cao của nhóm lợn lai này
được thể hiện tốt trong điều kiện chăn nuôi của
Việt Nam.
Ở Việt nam, các nhóm lợn nái lai F1 giữa
L và Y với Móng Cái (MC) cũng cho năng
suất sinh sản về số con/ổ khá cao (Nguyễn
Văn Đức và ctv, 2010; Giang Hồng Tuyến và
Hà Thu Trang, 2011), song khối lượng của nái
lai F1 giữa L và Y với MC thấp (Nguyễn Văn
Đức và ctv, 2010) dẫn đến sử dụng giống MC
có những hạn chế nhất định. Để có tính trạng
số con và khối lượng cao hơn của lợn nái lai
F1 giữa L và Y với MC, lợn nái lai Lx(YVCN-
MS15) và Yx(LVCN-MS15) là một lựa chọn
có tiềm năng lớn (Nguyễn Thi Hương, 2018).
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đã tiến hành
nghiên cứu các tính trạng tăng khối lượng,
dày mỡ lưng, tiêu tốn thức ăn, đặc điểm sinh
lý sinh dục của lợn cái lai hậu bị và từ đó
tuyển chọn làm nái lai Lx(YVCN-MS15) và
Yx(LVCN-MS15) cho phối giống với đực D để
đánh giá năng suất sinh sản tiến tới sử dụng
chúng làm nguyên liệu tạo dòng mẹ tổng hợp
để từ đó sản xuất các tổ hợp lợn lai thương
phẩm 4 giống có năng suất cao, chất lượng tốt
phục vụ chăn nuôi nông hộ mang lại hiệu quả
chăn nuôi lợn cao hơn trong điều kiện chăn
nuôi của nước ta.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu
Lợn lai Lx(YVCN-MS15), Yx(LVCN-MS15),
lợn đực giống D, lợn lai tạo thành giữa chúng.
2.2. Phương pháp
Giai đoạn hậu bị: Chọn 80 con lợn cái lai
hậu bị Lx(YVCN-MS15) và 80 con Yx(LVCN-
MS15) tương đối đồng đều về khối lượng,
ngoại hình đưa vào nuôi kiểm tra năng suất
cá thể để đánh giá tăng khối lượng trung bình
ngày (TKL), dày mỡ lưng (DML) và tiêu tố
thức ăn (TTTA) bằng các phương pháp thông
dụng, từ tháng 2/2015 đến tháng 10/2015 tại
Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương.
Giai đoạn sinh sản: Tuyển chọn 30 lợn cái lai
Lx(YVCN-MS15) và 30 lợn cái lai Yx(LVCN-
MS15) tương đối đồng đều về khối lượng,
ngoại hình đã qua KTNSCT để phối với lợn
đực D nhằm theo dõi đánh giá đặc điểm sinh
lý sinh dục và năng suất sinh sản từ tháng
07/2015 đến tháng 12/2018 tại Công Ty TNHH
Một Thành Viên Hưng Tuyến. Tuyển chọn 3
lợn đực giống D đạt các chỉ tiêu KTNSCT và
chất lượng tinh đạt yêu cầu của Quyết định
67/2002/QĐ-BNN đưa vào phối giống tạo lợn
lai thương phẩm 4 giống theo công thức sau:
♂ D phối ♀ L(YVCN-MS15)Dx(LYVCN-
MS15), ♂ D phối ♀ Y(LVCN-MS15)
Dx(YLVCN-MS15)
Tất cả lợn thí nghiệm đều được chăm
sóc nuôi dưỡng theo qui trình chăn nuôi của
Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương. Số
liệu về sinh lý sinh dục và năng suất sinh sản
của đàn lợn được thu thập và xác định theo
các phương pháp thông dụng về các chỉ tiêu:
- Tuổi động dục lần đầu (TĐDLĐ, ngày);
khối lượng động dục lần đầu (KLĐDLĐ, kg);
tuổi phối giống lần đầu (TPGLĐ, ngày); Khối
lượng phối giống lần đầu (KLPGLĐ, kg); tuổi
đẻ lứa đầu (TĐLĐ, ngày).
- Số con sơ sinh/ổ (SCSS, con), số con sơ
sinh sống/ổ (SCSSS, con) và số con cai sữa/ổ
(SCCS, con).
- Khối lượng sơ sinh/con (KLSS/con),
khối lượng sơ sinh/ổ (KLSS/ổ), khối lượng cai
DI TRUYỀN - GIỐNG VẬT NUÔI
KHKT Chăn nuôi số 255 - tháng 3 năm 2020 47
sữa/con (KLCS/con) và khối lượng cai sữa/ổ
(KLCS/ổ, kg)
- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (KCLĐ, ngày).
- Ngoài ra, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa
(TLNS, %) và tuổi cai sữa (TCS, ngày) cũng
được theo dõi để xác định sự ảnh hưởng của
các yếu tố đến các tính trạng sinh sản của tất
cả các lứa đẻ.
2.3. Xử lý số liệu
Bộ số liệu được xử lý bằng chương trình
SAS 9.1 (2002). Các tham số thống kê bao gồm
dung lượng mẫu (n), giá trị trung bình (Mean)
và sai số chuẩn (SE).
So sánh các giá trị trung bình theo phương
pháp Tukey ở mức ý nghĩa P<0,05. Mô hình
thống kê sử dụng là Yijkl = µ + Gi + Mj + Lk +
€ijkl. Trong đó, Yijkl là chỉ tiêu nghiên cứu, µ: trung
bình quần thể, Gi: ảnh hưởng của nhóm giống thứ
i (i=2), Mj là mùa vụ thứ j (j=4: Xuân tháng 2-4,
Hạ tháng 5-7, Thu tháng 8-10 và Đông tháng 11-
01), Lk là lứa đẻ thứ k (k=7: lứa 1, 2, 7 để phân
tích các yếu tố ảnh hưởng và lứa 1, 2, 3 để xác định
năng suất sinh sản trung bình 3 lứa đẻ đầu và €ijkl
là sai số ngẫu nhiên.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khả năng sinh trưởng của lợn cái hậu bị
Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15)
Lợn cái lai Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-
MS15) có tuổi bắt đầu đưa vào KTNSCT (Tuổi
bắt đầu) là 70,63 và 70,64 ngày (P>0,05), tương
ứng với khối lượng (KL) bắt đầu KTNSCT là
25,15 và 25,08 kg/con.
Tuổi kết thúc KTNSCT (Tuổi kết thúc) cho
thấy nhóm lợn Lx(YVCN-MS15) đạt 162,63
ngày, tương đương với nhóm Yx(LVCN-
MS15) là 162,64 ngày (P>0,05), tương ứng
với giá trị KL kết thúc trung bình là 90,03 và
90,04kg (P>0,05).
Chỉ tiêu TKL của 2 nhóm lợn cái lai
Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15) giai
đoạn hậu bị là 726,63 và 727,44kg. Như vậy,
TKL giữa 2 nhóm này là tương đương nhau
(P>0,05). Kết quả nghiên cứu này cao hơn giá
trị 694,17 và 689,01g/con của lợn lai Dx(LVCN-
MS15) và Dx(YVCN-MS15) xác định được của
Phạm Duy Phẩm và ctv (2018); cao hơn giá
trị 0,44 và 0,44 kg/con/ngày của 2 nhóm lợn
nái lai 3 giống Lx(YMC) và Yx(LMC) đã được
công bố của Nguyen Van Duc (1997). Kết quả
này chứng tỏ rằng giống lợn VCN-MS15 có
khả năng sinh trưởng nhanh hơn nhiều so với
giống lợn MC vì giữa 2 nhóm lợn lai này cùng
có chung 75% gen lợn L và Y, duy nhất khác
nhau ở chỗ 25% gen lợn MC ở nghiên cứu của
Nguyen Van Duc (1997) và 25% gen lợn VCN-
MS15 ở nghiên cứu này.
Tính trạng dày mỡ lưng (DML) lúc kết
thúc KTNSCT của 2 nhóm lợn cái lai hậu bị
Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15) cũng
không có sự sai khác nhau: Nhóm Lx(YVCN-
MS15) là 13,67mm, cao hơn nhóm Yx(LVCN-
MS15) (13,63mm). Kết quả này tốt hơn so với
giá trị 27 và 28mm của Nguyen Van Duc (1997)
đã xác định được trong nghiên cứu 2 nhóm
lợn nái lai 3 giống Lx(YMC) và Yx(LMC),
chứng tỏ giống lợn MC có DML cao hơn so
với lợn VCN-MS15.
Chỉ tiêu tiêu tốn thức ăn (TTTA) trong
giai đoạn hậu bị cũng chỉ rõ cả 2 nhóm lợn
cái lai Lx(YVNC-MS15) và Yx(LVCN-MS15)
đều tương đối tốt, với các giá trị tương ứng là
2,66kg và 2,67kg TA/kg TKL. Tuy sự chênh lệch
giữa 2 giá trị trung bình này nhỏ, nhưng sự sai
khác giữa chúng có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Kết quả này tuy có cao hơn so với giá trị 2,62
và 2,64kg TA/kg TKL xác định được của Phạm
Duy Phẩm và ctv (2018), nhưng thấp giá trị 3,7
và 3,8kg TA/kg TKL trên 2 nhóm lợn nái lai 3
giống Lx(YMC) và Yx(LMC) của Nguyen Van
Duc (1997) khi tổng hợp số liệu trên một số cơ
sở của cả nước.
Tóm lại, 2 nhóm lợn cái lai Lx(YVCN-
MS15) và Yx(LVCN-MS15) giai đoạn hậu bị
đều có TKL và DML là tương đương nhau. Kết
quả nghiên cứu này chứng tỏ con lai 3 giống
khi sử dụng nguồn gen giống lợn VCN-MS15
cho TKL cao hơn, DML thấp hơn và TTTA
thấp hơn so với giống lợn MC. Các tổ hợp lai
này có khả năng phát triển và cho năng suất
thịt tương cao trong điều kiện chăn nuôi nông
hộ của Việt Nam.
DI TRUYỀN - GIỐNG VẬT NUÔI
KHKT Chăn nuôi số 255 - tháng 3 năm 202048
Bảng 1. Kết quả kiểm tra năng suất lợn cái
hậu bị Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15)
(n=80/nhóm)
Chỉ tiêu
Lx(YVCN-
MS15)
Yx(LVCN-
MS15)
Tuổi bắt đầu, ngày 70,63±0,11 70,64±0,17
KL bắt đầu, kg 25,15±0,13 25,08±0,15
Tuổi kết thúc, ngày 162,63±0,11 162,64±0,17
KL kết thúc, kg 90,03±0,15 90,04±0,14
TKL, g/con/ngày 726,63±1,44 727,44±1,63
DML, mm 13,67±0,06 13,63±0,05
TTTA, kg TA/kg TKL 2,66b±0,00 2,67a±0,00
3.2. Năng suất sinh sản lợn Lx(YVCN-MS15)
và Yx(LVCN-MS15) phối với đực giống D
3.2.1. Yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản
lợn Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15) khi
được cho phối với đực D
Các chỉ tiêu về năng suất sinh sản 3 lứa
đẻ đầu của lợn nái lai Lx(YVCN-MS15) và
Yx(LVCN-MS15), khi được cho phối với lợn
đực giống D cho thấy yếu tố giống của lợn nái
không ảnh hưởng đến tất cả các tính trạng sinh
sản sử dụng trong nghiên cứu; yếu tố mùa vụ
chỉ ảnh hưởng đến SCSS và ảnh hưởng rõ rệt
đến tính trạng KCLĐ; trong lúc đó, yếu tố lứa
đẻ ảnh hưởng rất rõ rệt đến các tính trạng SCSS,
SCSSS, KLSS/ổ, SCCS và KLCS/ổ (Bảng 2).
Bảng 2. Yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh
sản lợn nái Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-
MS15)
Chỉ tiêu Giống Mùa vụ Lứa đẻ
SCSS, con ns * ***
SCSSS, con ns ns ***
KLSS/con, kg ns ns ns
KLSS/ổ, kg ns ns ***
TLNS, % ns ns ns
TCS, ngày ns ns ns
SCCS, con ns ns ***
KLCS/con, kg ns ns ns
KLCS/ổ, kg ns ns ***
KCLĐ, ngày ns ** ns
Ghi chú: ***, **, * là sai khác ở mức 0,001; 0,01; 0,05 và
ns là sai khác không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).
3.2.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái
Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15)
Tuổi động dục lần đầu (TĐDLĐ) của lợn
cái Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15) lần
lượt là 180,97 và 181,33 ngày (P>0,05). Kết quả
này tương đương với các giá trị từ 180,7 ngày
đến 183,4 ngày trong nghiên cứu chọn lọc
qua 4 thế hệ trên lợn lai 3 giống LRYSMS của
Nguyễn Thi Hương (2018).
Khối lượng động dục lần đầu (KLĐDLĐ)
tương ứng là 103,17 và 102,97kg. Kết quả
này tương đương với giá trị từ 103,5kg đến
106,6kg trong nghiên cứu chọn lọc trên lợn
lai 3 giống LRYSMS của Nguyễn Thi Hương
(2018) thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu lợn
Thụy Phương.
Tuổi phối giống lần đầu (TPGLĐ) của
2 nhóm lợn cái lai Lx(YVCN-MS15) và
Yx(LVCN-MS15) lần lượt là 221,77 và 222,20
ngày. Kết quả này tương đương với giá trị
từ 220,3 ngày đến 223,2 ngày trong nghiên
cứu chọn lọc qua 4 thế hệ trên lợn lai 3 giống
LRYSMS của Nguyễn Thi Hương (2018).
Khối lượng phối giống lần đầu (KLPGLĐ)
là 123,70 và 123,57kg. Kết quả này tương
đương với giá trị từ 121,5 kg đến 123,7kg trong
nghiên cứu chọn lọc qua 4 thế hệ trên lợn lai
3 giống LRYSMS của Nguyễn Thi Hương
(2018), nhưng thấp hơn giá trị 390 ngày của cả
2 nhóm lợn cái lai Lx(YMC) và Yx(LMC) công
bố của Nguyen Van Duc (1997). Kết quả này
có thể thấy sinh lý sinh dục của lợn cái có gen
VCN-MS15 tốt hơn lợn MC (Bảng 3).
Tuổi đẻ lứa đầu (TĐLĐ) của 2 nhóm lợn
cái lai Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15)
lần lượt là 339,20 và 339,90 ngày (P>0,05).
Kết quả này tương đương với các giá trị dao
động từ 338,4 ngày đến 341,8 ngày của lợn nái
LRYSMS qua các thế hệ thực hiện tại Trung
tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương vì chúng
cùng có 25% gen của giống VCN-MS15. Thế
nhưng, thấp hơn các giá trị 345,96 ngày trên
lợn VCN21 và VCN22 của Vũ Văn Quang
(2016); 360,2 ngày của lợn cái F1(LxY) và 358,7
ngày của lợn nái F1(YxL) của Nguyễn Tiến
Mạnh (2012); 390 ngày của cả 2 nhóm lợn cái
lai Lx(YMC) và Yx(LMC) công bố của Nguyen
Van Duc (1997).
DI TRUYỀN - GIỐNG VẬT NUÔI
KHKT Chăn nuôi số 255 - tháng 3 năm 2020 49
Bảng 3. Sinh lý sinh dục của lợn nái
Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15)
(Mean±SE; n=30 con/nhóm)
Chỉ tiêu Lx(YVCN-MS15) Yx(LVCN-MS15)
TĐDLĐ, ngày 180,97±0,60 181,33±0,58
KLĐDLĐ, kg 103,17±0,37 102,97±0,44
TPGLĐ, ngày 221,77±0,72 222,20±0,73
KLPGLĐ, kg 123,70±0,43 123,57±0,36
TĐLĐ, ngày 339,20±0,73 339,90±0,78
3.2.3. Năng suất sinh sản trung bình 3 lứa đầu
của lợn Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15)
phối với đực D
Năng suất sinh sản trung bình của 3 lứa đẻ
đầu của 2 nhóm lợn nái lai Lx(YVCN-MS15) và
Yx(LVCN-MS15) khi được phối với đực giống
D cho thấy tất cả các chỉ tiêu về năng suất sinh
sản được nghiên cứu đều tương đương nhau,
không có sự khác biệt rõ rệt.
Bảng 3. Năng suất sinh sản trung bình 3 lứa đẻ
đầu của lợn nái Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-
MS15) được phối với đực D (n=90 ổ/nhóm)
Chỉ tiêu
♂D phối ♀Lx(YV-
CN-MS15)
♂D phối ♀Yx(LV-
CN-MS15)
SCSS, con 13.84±0.18 13.87±0.18
SCSSS, con 13,38±0,15 13,39±0,17
SCCS, con 12,46±0,16 12,51±0,15
KLSS/con, kg 1,34±0,01 1,35±0,01
KLSS/ổ, kg 17,90±0,22 18,01±0,23
KLCS/con, kg 6,52±0,04 6,46±0,03
KLCS/ổ, kg 81,16±1,15 80,78±1,03
KCLĐ, ngày 154,67±1,69 154,83±1,06
Ghi chú: Các giá trị Mean trong cùng hàng có
chữ cái khác nhau là sự sai khác có ý nghĩa thống
kê (P<0,05).
Số con sơ sinh/ổ trung bình 3 lứa đẻ đầu
của lợn nái lai Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-
MS15) khi được phối với đực giống D lần lượt
đạt 13,84 và 13,87 con. Kết quả này cao hơn giá
trị trung bình hai lứa đẻ đầu (11,78 con) khi
lợn nái VCN-MS15 được phối với đực Pi và D
của Lê Đức Thạo (2017).
Số con sơ sinh sống/ổ trung bình 3 lứa
đẻ đầu của lợn cái lai Lx(YVCN-MS15) và
Yx(LVCN-MS15) khi được phối với đực
giống D lần lượt là 13,38±0,15 và 13,39±0,16
con (P>0,05). Kết quả này cao hơn so với giá
trị 10,35±0,03 của Hai Le Thanh và ctv (1997),
nghiên cứu trên lợn lai F1(LxMC) và F1(YxMC);
cao hơn cùng giá trị 10,50 và 10,50 con của lợn
nái lai 3 giống Lx(YMC) và Yx(LMC) công
bố của Nguyen Van Duc (1997). Kết quả này
chứng tỏ rằng nguồn gen lợn VCN-MS15 có
khả năng cho SCSSS cao hơn giống MC.
Số con cai sữa/ổ trung bình 3 lứa đẻ đầu
của lợn nái Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-
MS15) khi được phối với đực giống D lần lượt
là 12,46±0,16 và 12,51±0,15 con (P>0,05). Kết quả
nghiên cứu này cao hơn giá trị 9,10 và 9,00 con
của 2 nhóm lợn nái lai Lx(YMC) và Yx(LMC)
công bố của Nguyen Van Duc (1997).
Khối lượng sơ sinh/con trung bình 3
lứa đẻ đầu của tổ hợp lai Dx(LYVCN-MS15)
đạt 1,34kg, thấp hơn so với của tổ hợp lai
Dx(YLVCN-MS15) chỉ đạt 1,35kg. Sự sai khác
giữa 2 giá trị trung bình của 2 tổ hợp lai này
không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Kết quả
này cao hơn công bố của tác giả Nguyen Van
Duc (1997).
Khối lượng sơ sinh/ổ của 2 tổ hợp lai
Dx(LYVCN-MS15) và Dx(YLVCN-MS15)
tương ứng đạt 17,90 và 18,01kg, cao hơn giá
trị 12,59 và 12,57kg của 2 tổ hợp lai Lx(YVCN-
MS15) và Yx(LVCN-MS15) được công bố bởi
nhóm tác giả Lê Thế Tuấn và ctv (2020) là vì tổ
hợp lai này là con lai 4 giống, có đến 87,5% gen
là của D, L, Y và 12,5% gen của VCN-MS15,
trong khi đó ở nghiên cứu trước của nhóm tác
giả này là tổ hợp lai 3 giống Yx(LVCN-MS15)
và Lx(YVCN-MS15) nên chỉ có 75% gen L và Y
và 25% là gen VCN-MS15.
Kết quả nghiên cứu KLCS/con trung
bình 3 lứa đẻ đầu của lợn Lx(YVCN-MS15)
và Yx(LVCN-MS15) khi được phối với đực D
thì con lai 4 giống lúc cai sữa lần lượt là 6,52
và 6,46kg. Sự sai khác này không có ý nghĩa
thống kê (P>0,05).
Khối lượng cai sữa/ổ của 2 tổ hợp lai
Dx(LYVCN-MS15) và Dx(YLVCN-MS15)
tương ứng là 81,16 và 80,78kg, sự sai khác
này không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Kết
quả này cao hơn giá trị 79,45 và 78,65kg ở lợn
lai Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-MS15) của
DI TRUYỀN - GIỐNG VẬT NUÔI
KHKT Chăn nuôi số 255 - tháng 3 năm 202050
nhóm tác giả Lê Thế Tuấn và ctv (2020) vì đây
là con lai 4 giống D, L, Y, VCN-MS15 so với co
lai 3 giống L, Y, VCN-MS15 ở nghiên cứu trước.
Lợn nái lai Lx(YCN-MS15) và Yx(LCN-
MS15) có KCLĐ tương đối tốt, trung bình ở
hai nhóm khi được phối với đực D của 3 lứa
đẻ đầu lần lượt là 154,67±1,69 và 154,83±1,06
ngày. Sự sai khác giữa 2 giá trị trung bình này
không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05). Kết
quả này tương đương với giá trị 154,67±1,69
và 154,83±1,06 ngày được công bố bởi Lê Thế
Tuấn và ctv (2020a) khi nghiên cứu trên lợn
nái LxVCN-MS15 và YxVCN-MS15 vì chúng
đều có nguồn gen VCN-MS15. Kết quả nghiên
cứu này thấp hơn giá trị 195 và 192 ngày của
2 nhóm lợn nái lai Lx(YMC) và Yx(LMC) công
bố của Nguyen Van Duc (1997).
4. KẾT LUẬN
Tăng khối lượng và DML của lợn cái
lai hậu bị Lx(YVCN-MS15) và Yx(LVCN-
MS15) là 726,63; 727,44 g/con/ngày và 13,67;
13,63mm; nhưng TTTA là 2,66 và 2,67kg TA/
kg TKL (P<0,05).
Yếu tố giống không ảnh hưởng đến tất
cả các tính trạng sinh sản nghiên cứu; mùa
vụ ảnh hưởng đến SCSS và KCLĐ; lứa đẻ
ảnh hưởng đến các tính trạng SCSS, SCSSS,
KLSS/ổ, SCCS và KLCS/ổ.
Tuổi phối giống và đẻ lần đầu là 221,77 và
222,20 ngày và 339,20 và 339,90 ngày (P>0,05).
Giá trị trung bình về năng suất sinh sản
3 lứa đẻ đầu của lợn nái lai Lx(YVCN-MS15)
và Yx(LVCN-MS15) khi phối với đực D tốt:
SCSS là 13,84 và 13,87 con; SCSSS là 13,38±0,15
và 13,39±0,16 con; SCCS 12,46 và 12,51 con;
KLSS/con là 1,34 và 1,35kg; KLCS/con là 6,52
và 6,46kg; KLCS/ổ là 81,16 và 80,78 và KCLĐ
là 154,67 và 154,83 ngày.
Tóm lại, lợn lai Lx(YVCN-MS15) và
Yx(LVCN-MS15) đều cho TKL cao hơn, DML
thấp hơn, TTTA thấp hơn và SCSSS cao hơn so
với lợn nái lai Lx(YMC) và Yx(LMC) cho phép
chúng ta khẳng định nguồn gen của lợn VCN-
MS15 phát huy tốt hơn về cả sinh trưởng và
sinh sản so với lợn MC trong điều kiện chăn
nuôi của Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Quế Côi, Lê Thanh Hải, Phạm Duy Phẩm, Ngô
Văn Tấp, Nguyễn Tiến Thông, Lý Thị Thanh Hiên,
Phạm Thành Trung, Đinh Hữu Hùng, Trịnh Hồng Sơn
và Vũ Văn Quang (2013). Nghiên cứu lai tạo dòng lợn
mẹ tổng hợp có máu Móng Cái và Meishan đạt năng
suất sinh sản cao, phù hợp với một số vùng sinh thái
trọng điểm nhằm tạo ra ưu thế cạnh tranh về chất lượng
thịt đáp ứng yêu cầu của thị trường. Báo cáo Tổng kết đề
tài Khoa học và Phát triển công nghệ cấp Bộ.
2. Nguyen Van Duc (1997). Genetic characterisation
of indigenous and exotic pig breeds and crosses in
Vietnam. PhD Thesis, AGBU, The University ò New
England, Armidal, NSW, Australia.
3. Nguyễn Văn Đức, Bùi Quang Hộ, Giang Hồng Tuyến,
Đặng Đình Trung, Nguyễn Văn Trung, Trần Quốc
Việt và Nguyễn Thị Viễn (2010). Năng suất sinh sản,
sản xuất của lợn Móng Cái, Pietrain, Landrace, York-
shire và ưu thế lai của lợn lai F1(PixMC), F1(PixMC) và
F1(PixMC). Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi. 22:
29-36.
4. Le Thanh Hai, Vien N.T. and Duc N.V. (1997). Studies
of production and carcass traits of three exotic pig
breeds in south Vietnam. Hội nghị Di truyền và giống
vật nuôi quốc tế (AAABG), Australia, 12: 189-93.
5. Nguyễn Thi Hương (2018). Khả năng sinh trưởng, sinh
sản của lợn Landrace x (Yorkshire x VCN-MS15) qua
các thế hệ và sức sản xuất của đời con khi phối với đực
Pietrain x Duroc. Luận án Tiến sỹ, Viện Chăn nuôi.
6. Nguyễn Tiến Mạnh (2012). Đánh giá khả năng sinh
sản, sinh trưởng của 2 lợn lai giữa lợn nái F1(LxY) và
F1(YxL) phối với đực PiDu nuôi trong một số trang trại
ở Ninh Bình, Luận văn Thạc sĩ nông nghiệp, Trường
Đại học Nông nghiệp I Hà Nội.
7. Phạm Duy Phẩm, Lê Thanh Hải, Hoàng Đức Long, Lý
Thị Thanh Hiên, Nguyễn Long Gia và Đàm Tuấn Tú
(2014). Khả năng sản xuất của giống lợn VCN-MS15.
Tạp chí KHCN Chăn nuôi, 21: 61-64.
8. Phạm Duy Phẩm, Trịnh Hồng Sơn, Trịnh Quang
Tuyên, Nguyễn Thành Chung, Nguyễn Thi Hương,
Nguyễn Long Gia, Đàm Tuấn Tú, Đào Thị Bình An,
Hoàng Đức Long và Nguyễn Ngọc Minh (2018).
Nghiên cứu tạo các tổ hợp lai giữa giống lợn VCN-
MS15 với giống lợn ngoại Landrace và Yorkshire phục
vụ chăn nuôi nông hộ. Báo cáo Tổng kết nghiệm thu Đề
tài cấp Bộ Nông nghiệp và PTNT.
9. Vũ Văn Quang (2016). Khả năng sinh sản của lợn nái
VCN21, VCN22 phối với đực PIDU và khả năng sản
xuất của tổ hợp lai PIDU x VCN21, PIDU x VCN22.
Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Chăn nuôi, 2016
10. Lê Đức Thạo (2017). Nghiên cứu khả năng sản xuất của
một số tổ hợp lai giữa cái VCN-MS15 với đực ngoại ở
Thừa Thiên Huế. Luận án Tiến sỹ Nông nghiệp – Thừa
Thiên Huế.
11. Lê Thế Tuấn, Phạm Duy Phẩm, Trịnh Hồng Sơn, Trịnh
Quang Tuyên, Vũ Văn Quang, Nguyễn Thi Hương,
Phạm Sỹ Tiệp và Nguyễn Văn Đức (2020). Năng suất
sinh sản của lợn nái lai Landrace x VCN-MS15 và
Yorkshire x VCN-MS15. Bài đã được chấp nhận đăng
của TC KHKT Chăn nuôi ngày 08 tháng 09 năm 2019.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tang_khoi_luong_day_mo_lung_tieu_ton_thuc_an_dac_diem_sinh_l.pdf