Như vậy, trên cơ sở phân tích ảnh hưởng của
các tác nhân nấu tới hiệu suất và tính chất của
bột giấy, với mục tiêu duy trì mức tiêu hao
H2O2≤3% so với nguyên liệu KTĐ (để đảm bảo
hiệu quả kinh tế trong sản xuất bột giấy chất
lượng thường), có thể xác định được một chế độ
công nghệ tạo bột giấy thích hợp như sau:
- Nấu: lượng tác chất nấu so với nguyên liệu
khô tuyệt đối: 3% H2O2, 3% CH3COOH, 1% TiO2.
Nhiệt độ xử lý: 100oC, thời gian nấu: 120 phút.
- Nghiền thô: tới độ nghiền 20-25oSR;
- Trích ly kiềm sau nấu: 1%NaOH, ở
100oC, thời gian xử lý: 60 phút.
- Nghiền tinh: tới độ nghiền ~40oSR;
- Rửa bột, vắt nước và sấy khô.
Với một quy trình xử lý nguyên liệu kết hợp
nghiền và trích ly kiềm bột sau nấu, có thể thu
được bột giấy hiệu suất khoảng 64-65%, hàm
lượng lignin trong bột 12-13%. Đáng chú ý là quy
trình công nghệ này cho phép tách loại tới trên
60% lượng lignin có trong nguyên liệu ban đầu.
Để kiểm tra tính hiệu quả của quá trình sản xuất
bột giấy, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát ảnh
hưởng của thời gian nấu, lượng kiềm sử dụng cho
công đoạn trích ly kiềm và thời gian xử lý. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, có thể tăng lượng kiềm trong
công đoạn trích ly kiềm để thu bột có hàm lượng
lignin thấp hơn, song khi lượng kiềm vượt quá
1,25% thì mức độ tách loại lignin tăng không đáng
kể (chỉ đạt 11%), trong khi đó hiệu suất bột giảm
đáng kể (chỉ còn ~61%). Như vậy với quy trình
nấu trên thì lượng dùng 1% NaOH là thích hợp.
Thay đổi thời gian trích ly kiềm cũng cho kết quả
tương đương. Tương tự, nấu ở nhiệt độ thấp hơn
(70oC) với thời gian nấu kéo dài (180 phút) và trích
ly kiềm với cùng một lượng kiềm song kéo dài thời
gian (120 phút) cũng cho hiệu suất bột và tính chất
bột tương đương. Như vậy, có thể nói để thu được
cùng một sản phẩm mục tiêu, quy trình công nghệ
nêu trên cho phép áp dụng ở những điều kiện thực
tiễn có thể điều chỉnh.
Phân tích và so sánh tính chất cơ lý học của bột
giấy hiệu suất cao từ thân ngô với một số loại bột
giấy khác (bảng 1) cho thấy bột hiệu suất cao từ
thân cây Ngô có các chỉ số độ bền cơ học tương
đương bột giấy phế liệu hòm hộp carton cũ
(OCC) và bột giấy cũng từ nguyên liệu thân Ngô
sản xuất bằng phương pháp kiềm lạnh truyền
thống phổ biến với lượng dùng NaOH 10% so với
nguyên liệu KTĐ. Với tính chất như vậy, loại bột
giấy này hoàn toàn phù hợp làm nguyên liệu sản
xuất giấy carton, bao gói công nghiệp.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tạo bột giấy hiệu suất cao từ thân cây ngô sử dụng xúc tác nấu thân thiện môi trường, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Công nghiệp rừng
78 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2-2015
TẠO BỘT GIẤY HIỆU SUẤT CAO TỪ THÂN CÂY NGÔ
SỬ DỤNG XÚC TÁC NẤU THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
TS. Trường Đại học Lâm nghiệp
TÓM TẮT
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu quy trình công nghệ thân thiện môi trường tạo bột giấy từ thân cây Ngô,
bao gồm các công đoạn nấu, nghiền và trích ly kiềm. Dịch nấu chứa hydropeoxit và axit axetic bổ sung TiO2.
Bột giấy thu được sau đó xử lý bằng kiềm. Kết quả đã xác định được điều kiện nấu thích hợp ở 100oC trong
vòng 120 phút, với mức tiêu hao hóa chất là 3%H2O2, 3%CH3COOH và 1% TiO2 so với khối lượng nguyên
liệu khô tuyệt đối, quá trình trích ly kiềm được tiến hành ở 100oC trong thời gian 60 phút. Hiệu suất bột giấy
thu được đạt 65-66%, có hàm lượng lignin 12-13%. Tính chất cơ học của bột giấy thu được cho thấy loại bột
này phù hợp làm nguyên liệu sản xuất giấy carton, bao gói. Phương pháp tạo bột giấy này được xem là phương
pháp hiệu quả về mặt kinh tế và môi trường.
Từ khóa: Bột giấy, dịch nấu, giấy, kiềm, lignin.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu các công nghệ tiết kiệm năng
lượng, thân thiện môi trường từ lâu đã là vấn
đề bức thiết của công nghiệp giấy [1]. Bên
cạnh đó, vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn tài
nguyên thiên nhiên, nâng cao giá trị sản xuất
nông nghiệp là những vấn đề cần được chú
trọng đối với các nước nông nghiệp đang phát
triển như Việt Nam. Cùng với gỗ, các loại
nguyên liệu phi gỗ, như phế phụ phẩm, phế
thải nông nghiệp cũng được sử dụng rộng rãi
làm nguyên liệu sản xuất bột giấy theo nhiều
phương pháp khác nhau [2,3]. Trong số các
công nghệ mới được nghiên cứu gần đây đối
với nguyên liệu gỗ, đáng chú ý là vấn đề sử
dụng hydropeoxit làm tác nhân tách loại lignin
[4]. Tuy nhiên đối với nguyên liệu gỗ, do thành
phần lignin có cấu tạo phức tạp, nên hiệu quả
tách loại còn chưa cao [5].
Ở nước ta, sản xuất nông nghiệp hàng năm
tạo thành hàng triệu tấn phế phụ phẩm, phế
thải sau thu hoạch, riêng thân cây Ngô có thể
đạt vài triệu tấn, vẫn chưa có phương thức tận
dụng hiệu quả, gây lãng phí và không ít vấn đề
về bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Trong khi đó, hiện nay nước ta mới chỉ đáp ứng
được gần 50% nguyên liệu bột giấy cho sản
xuất các loại giấy, trong đó giấy carton, bao gói
là các loại sản phẩm có nhu cầu ngày càng tăng
cùng với tốc độ phát triển của công nghiệp.
Mục tiêu của nghiên cứu là thiết lập được
quy trình công nghệ thân thiện môi trường, tạo
bột giấy hiệu suất cao từ thân cây ngô có thể sử
dụng làm nguyên liệu sản xuất giấy carton, bao
gói, phù hợp với điều kiện sản xuất ở Việt Nam.
II. VẬT LIỆU VÀ THỰC NGHIỆM
Nguyên liệu được sử dụng cho nghiên cứu là
thân ngô có thành phần hóa học cơ bản như sau:
hàm lượng xenluloza 40,7%; lignin 21,6%;
pentozan 21%; độ tro 5,3%; hàm lượng các chất
tan trong nước nóng 18,2%; hàm lượng các chất
tan trong dung dịch NaOH 1%: 34,6%.
Quá trình tạo bột giấy được tiến hành bằng
các thiết bị chuyên dụng tại Phòng thí nghiệm
Bộ môn CN Xenluloza & Giấy, viện Kỹ thuật
Hóa học, trường Đại học Bách khoa Hà Nội,
theo sơ đồ công nghệ sau:
Công nghiệp rừng
79TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2-2015
Chú thích
- Thân Ngô được làm sạch đất cát, lá và bẹ
hong phơi khô, tạo dăm theo tiêu chuẩn (chiều
dài 1,5 – 2cm, chiều dày 2mm).
- Nấu bằng dung dịch hydropeoxit trong
môi trường axit (bổ sung CH3COOH và TiO2)
ở nhiệt độ 100oC với tỉ lệ dịch: 1:14 và thời
gian nấu 60-120 phút. Mức sử dụng hóa chất
nấu được điều chỉnh tùy thuộc vào mục tiêu
của từng thực nghiệm.
- Rửa bột và nghiền thô sử dụng thiết bị
rửa và nghiền của phòng thí nghiệm.
- Xử lý bằng dung dịch NaOH (trích ly kiềm)
ở 100oC trong vòng 1-2h với mức dùng NaOH
1-2% so với nguyên liệu khô tuyệt đối (KTĐ).
- Nghiền tinh và rửa bột: sử dụng thiết bị
nghiền tinh hiện có của phòng thí nghiệm.
Các thông số công nghệ thích hợp như mức
dùng hóa chất, nhiệt độ và thời gian xử lý đã
được xác định để thiết lập quy trình công nghệ
phù hợp.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Trong quá trình tạo bột giấy, hydropeoxit
trong môi trường axit được sử dụng làm tác
nhân phân hủy lignin, còn TiO2 được sử dụng
làm chất xúc tác quá trình tách loại lignin.
Công đoạn xử lý bột giấy bằng NaOH nhằm
mục đích chính là trích ly lignin đã bị phân hủy
ra khỏi bột để nâng cao chất lượng bột giấy.
Để xác lập được chế độ công nghệ thích
hợp, tác giả đã tiến hành nghiên cứu xác lập
các giá trị thích hợp của các thông số công
nghệ trong công đoạn nấu và trích ly kiềm.
Đối với quá trình nấu, kết quả khảo sát ảnh
hưởng của các yếu tố công nghệ, bao gồm hệ
tác chất H2O2-CH3COOH-TiO2, nhiệt độ và
thời gian nấu, tới hiệu suất bột giấy và hàm
lượng lignin trong bột cho thấy, trong trường
hợp xử lý nguyên liệu bằng nước nóng (cho
hiệu suất bột 77,5% với hàm lượng lignin
tương ứng 22,6%) chỉ có các chất tan trong
nước bị phân hủy và hòa tan. Ở trạng thái độc
lập, các tác chất nấu nêu trên có ảnh hưởng rất
nhỏ tới hiệu suất bột và hàm lượng lignin trong
bột. Cụ thể, nấu trong vòng 120 phút với dung
dịch của từng tác chất riêng biệt, sau đó xử lý bột
bằng 1% NaOH trong 60 phút cho hiệu suất bột
74,2-75,8% với hàm lượng lignin trong bột
tương ứng 18,4-20,6%. Trong khi đó xử lý
nguyên liệu bằng dung dịch của 3 tác chất nấu
kết hợp cho hiệu quả tách loại lignin khá rõ rệt.
Với mục tiêu đạt hiệu suất bột khoảng 65%,
kết quả khảo sát ảnh hưởng của lượng hóa chất
nấu tới hiệu suất và tính chất của bột (hình
1,2,3) cho thấy, với thời gian nấu 120 phút và
mức dùng cố định của hai thành phần trong
dung dịch nấu, mức dùng của tác nhân thứ ba
sẽ đạt một “ngưỡng” bão hòa, tức khi tăng mức
dùng cao hơn giá trị “ngưỡng”, mức độ tách
loại lignin hoặc không thay đổi hoặc tăng
không đáng kể. Những giá trị “ngưỡng” này có
thể xem là các giá trị thích hợp đối với quá
trình tạo bột giấy có hiệu suất theo mục tiêu
ban đầu.
Thân ngô Làm sạch Tạo dăm theo
quy cách
Nấu
Rửa Nghiền
thô
Xử lý bằng dung dịch
kiềm
Nghiền
tinh
Rửa Bột hợp cách
Công nghiệp rừng
80 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2-2015
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Lượng H2O2,% so với nguyên liệu KTĐ
%
Hiệu suất bột Lignin trong bột
Hình 01. Ảnh hưởng của lượng H2O2 tới hiệu suất và tính chất của bột giấy
(Lượng tác chất: 3%CH3COOH, 1% TiO2)
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
0 0.5 1 1.5 2
Lượng TiO2,% so với nguyên liệu KTĐ
%
Hiệu suất bột Lignin trong bột
Hình 02. Ảnh hưởng của lượng TiO2 tới hiệu suất và tính chất của bột giấy
(Lượng tác chất:3%H2O2, 3% CH3COOH)
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
0 1 2 3 4 5
Lượng CH3COOH,% so với nguyên liệu KTĐ
%
Hiệu suất bột Lignin trong bột
Hình 03. Ảnh hưởng của lượng CH3COOH tới hiệu suất và tính chất của bột giấy
(Lượng tác chất: 3%H2O2, 1% TiO2)
Công nghiệp rừng
81TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2-2015
Về phương diện hóa học, trong môi trường
axit, hydropeoxit tạo thành ion HO+ là phần tử
oxi hóa mạnh, song tính chọn lọc thấp, tức ngoài
phân hủy lignin, nó còn có thể gây ảnh hưởng
đến các thành phần khác của nguyên liệu, kể cả
xenluloza. Quá trình oxi hóa phân hủy lignin sẽ
diễn ra mạnh hơn nhờ sự thúc đẩy của các chất
xúc tác. So với các chất xúc tác khác [6], trong
trường hợp này dioxit titan là một chất xúc tác
tương đối hiệu quả, kể cả trên phương diện tách
loại lignin, cả về hiệu quả kinh tế.
Như vậy, trên cơ sở phân tích ảnh hưởng của
các tác nhân nấu tới hiệu suất và tính chất của
bột giấy, với mục tiêu duy trì mức tiêu hao
H2O2≤3% so với nguyên liệu KTĐ (để đảm bảo
hiệu quả kinh tế trong sản xuất bột giấy chất
lượng thường), có thể xác định được một chế độ
công nghệ tạo bột giấy thích hợp như sau:
- Nấu: lượng tác chất nấu so với nguyên liệu
khô tuyệt đối: 3% H2O2, 3% CH3COOH, 1% TiO2.
Nhiệt độ xử lý: 100oC, thời gian nấu: 120 phút.
- Nghiền thô: tới độ nghiền 20-25oSR;
- Trích ly kiềm sau nấu: 1%NaOH, ở
100oC, thời gian xử lý: 60 phút.
- Nghiền tinh: tới độ nghiền ~40oSR;
- Rửa bột, vắt nước và sấy khô.
Với một quy trình xử lý nguyên liệu kết hợp
nghiền và trích ly kiềm bột sau nấu, có thể thu
được bột giấy hiệu suất khoảng 64-65%, hàm
lượng lignin trong bột 12-13%. Đáng chú ý là quy
trình công nghệ này cho phép tách loại tới trên
60% lượng lignin có trong nguyên liệu ban đầu.
Để kiểm tra tính hiệu quả của quá trình sản xuất
bột giấy, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát ảnh
hưởng của thời gian nấu, lượng kiềm sử dụng cho
công đoạn trích ly kiềm và thời gian xử lý. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, có thể tăng lượng kiềm trong
công đoạn trích ly kiềm để thu bột có hàm lượng
lignin thấp hơn, song khi lượng kiềm vượt quá
1,25% thì mức độ tách loại lignin tăng không đáng
kể (chỉ đạt 11%), trong khi đó hiệu suất bột giảm
đáng kể (chỉ còn ~61%). Như vậy với quy trình
nấu trên thì lượng dùng 1% NaOH là thích hợp.
Thay đổi thời gian trích ly kiềm cũng cho kết quả
tương đương. Tương tự, nấu ở nhiệt độ thấp hơn
(70oC) với thời gian nấu kéo dài (180 phút) và trích
ly kiềm với cùng một lượng kiềm song kéo dài thời
gian (120 phút) cũng cho hiệu suất bột và tính chất
bột tương đương. Như vậy, có thể nói để thu được
cùng một sản phẩm mục tiêu, quy trình công nghệ
nêu trên cho phép áp dụng ở những điều kiện thực
tiễn có thể điều chỉnh.
Phân tích và so sánh tính chất cơ lý học của bột
giấy hiệu suất cao từ thân ngô với một số loại bột
giấy khác (bảng 1) cho thấy bột hiệu suất cao từ
thân cây Ngô có các chỉ số độ bền cơ học tương
đương bột giấy phế liệu hòm hộp carton cũ
(OCC) và bột giấy cũng từ nguyên liệu thân Ngô
sản xuất bằng phương pháp kiềm lạnh truyền
thống phổ biến với lượng dùng NaOH 10% so với
nguyên liệu KTĐ. Với tính chất như vậy, loại bột
giấy này hoàn toàn phù hợp làm nguyên liệu sản
xuất giấy carton, bao gói công nghiệp.
Bảng 01. Tính chất của một số loại bột giấy
TT Loại bột
Độ
nghiền,
0SR
Định lượng,
(g/m2)
Chỉ số độ bền cơ học
Chiều dài
đứt, m
Chỉ số xé,
mN.m2/g
Chỉ số bục,
kPa.m2/g
1 Bột hiệu suất cao từ thân cây ngô 40 77 3980 3,99 1,62
2 Kiềm lạnh thân ngô 40 80 4670 3,38 1,91
4 Bột OCC 40 87 3670 4,38 1,57
5 Bột giấy từ tạp chí cũ 60 70 3330 7,40 1,86
6 Bột bán hóa gỗ dương 36 70 5000 6,50 2,70
Trích nguồn tổng hợp kết quả nghiên cứu của Viện công nghiệp giấy và xenluylo
Công nghiệp rừng
82 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 2-2015
IV. KẾT LUẬN
Bài báo đã xác định được quy trình công
nghệ mới sản xuất bột giấy hiệu suất cao từ
thân cây Ngô, sử dụng các tác nhân thân thiện
môi trường, tiết kiệm năng lượng, các chỉ số
TS, COD, BOD của nước thải thấp hơn so với
phương pháp kiềm lạnh truyền thống. Bột giấy
có chất lượng tương đương bột giấy phế liệu
OCC, có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất
giấy carton, bao gói.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. United Nations Environmental. Programme
Regional Office for Asia and the Pacific and Asian
Institute Technology (2004). Cleaner Production in the
Pulp and Paper Industry.
2. Environmental Defense Fund (1996). Non-wood
fiber sources/Non wood Plant Fibers as Alternative
Fiber Sources for Papermaking White Paper 13
3. Method for Preparation of Pulp from Cornstalk
(2007).US Patent US 7,186,316 B1.
4. R. Z. Pen, A, et (2004). Fibre Chemistry, Vol.36,
No.2, P.116-118.
5. Kuznestsov S.A, et (2003). Journal Chemistry for
Sustainable Development, Vol. 11, P. 141-147.
6. R. Z.Pen (2005). Journal Chemistry of Plant raw
material, No.3, P.61-73.
STUDY ON CORN STALK PULPING WITH USING
OF ENVIRONMENTAL FRIENDLY COMPONENTS
Nguyen Thi Minh Nguyet
SUMMARY
This paper presents the research results of environmental friendly pulping process from cornstalks comprising
the steps of cooking, refining and alkaline extraction. The cooking liquor comprised hydrogen peroxide and
acetic acid with the presence of TiO2. The pulp was then subjected to sodium extraction. The optimal pulping
was determined at 100oC for 120 min with chemical doses (w % vs. bdmt) of H2O2 - 3, CH3COOH – 3, and
TiO2 – 1, followed by alkaline extraction using NaOH 0.1% at 100oC for 60 min. Cornstalks pulp yield was
65-66% with lignin content of 12-13%. Based on determined mechanical properties this pulp may be used for
carton and packaging paper production. The “black liquor” from cooking process may be recycled for the next
cooks. The waste water characteristics from pulping process such as TS, COD, BOD were lower than that from
traditional cold alkaline pulping. This method of pulping proved to be economical and environmental
efficiency.
Keywords: Alkaline, lignin, liquor, paper, pulp.
Người phản biện : PGS.TS. Cao Quốc An
Ngày nhận bài : 29/3/2015
Ngày phản biện : 04/5/2015
Ngày quyết định đăng : 09/6/2015
,
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tao_bot_giay_hieu_suat_cao_tu_than_cay_ngo_su_dung_xuc_tac_n.pdf