Thử nghiệm hoạt tính sinh học của KGF tái
tổ hợp
Trong tự nhiên, KGF có khả năng tương tác đặc hiệu
với các tế bào biểu mô thông qua thụ thể KGF (KGFreceptor), từ đó hình thành một chuỗi phản ứng, kích
hoạt các con đường dẫn truyền tín hiệu KGF và thúc
đẩy quả trình tăng sinh, biệt hóa tế bào. Nghiên trước
đây cho thấy KGF kích thích tăng sinh tế bào A549
thông qua nhận diện thụ thể KGRF trên bề mặt tế bào
này [19]. Ở nghiên cứu này, trong điều kiện không
có tế bào keratinocyte chúng tôi kiểm tra cấu hình tự
nhiên của protein KGF tái tổ hợp thông qua việc nhận
diện thụ thể KGFR trên tế bào A549. Kết quả của thử
nghiệm (Hình 6) cho thấy mẫu KGF thu nhận từ dịch
biểu hiện P. pastoris có hoạt tính kích thích tăng sinh
1,2 lần ở nồng độ 50 ng/mL, 1,38 lần ở nồng độ 100
ng/mL, trong khi mẫu chứng dương là KGF thương
mại biểu hiện từ E. coli (R & D systems) có hoạt tính
kích thích tăng sinh ở nồng độ 50 ng/ml là 1,25 lần
và tăng dần đến 1,52 lần ở nồng độ 100 ng/ml. Tuy
nhiên, ở nồng độ 200 ng/mL, KGF thương mại cho
hoạt tính kích thích tăng sinh 1,75 lần, trong khi KGF
tái tổ hợp chỉ cho khả năng kích thích tăng sinh 1,16
lần, thấp hơn so với nồng độ 50 ng/ml và 100 ng/ml.
Kết quả này có thể do sự khác biệt về dung dịch trữ
giữa KGF thương mại và KGF tái tổ hợp, khác biệt về
thành phần muối trong dung môi có thể gây ra sự kết
cụm của các phân tử KGF tái tổ hợp khi sử dụng ở
nồng độ cao và từ đó làm giảm tác động của KGF tái
tổ hợp [20] . Kết quả thực nghiệm này cho thấy cần
tiến hành thêm các nghiên cứu nhằm khảo sát nồng
độ sử dụng tối ưu của KGF tái tổ hợp trong kích thích
tăng sinh tế bào, cũng như khảo sát dung dịch lưu trữ
KGF tái tổ hợp.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy chúng tôi đã tạo
thành công dòng nấm men P. pastoris tái tổ hợp mang
gen mã hóa cho protein KGF. Dưới sự kiểm soát của
promoter AOX1, protein KGF tái tổ hợp được biểu
hiện dưới dạng tiết và được tinh sạch bằng phương
pháp sắc ký ái lực Heparin với độ tinh sạch cao (>
99%) cũng như hoạt tính kích thích tăng sinh tế bào
tương tự như KGF tự nhiên. Với mục tiêu ứng dụng
KGF trong lĩnh vực dược phẩm và mỹ phẩm ở quy
mô lớn và giảm giá thành sản phẩm, cần tăng quy mô
biểu hiện và tối ưu hóa các điều kiện nuôi cấy có kiểm
soát, cũng như xây dựng quy trình thử nghiệm hoạt
tính sinh học trên nhiều mô hình khác nhau.
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tạo dòng, biểu hiện và thu nhận nhân tố tăng trưởng tế bào sừng KGF (Keratinocyte Growth Factor) tái tổ hợp dạng tiết ở nấm men Pichia pastoris, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(3):573-583
Open Access Full Text Article Bài Nghiên cứu
1Trường Đại học Khoa học Tự nhiên,
ĐHQG-HCM, Việt Nam
2Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học
Phân tử, Trường Đại học Khoa học Tự
nhiên, ĐHQG-HCM, Việt Nam
Liên hệ
Đặng Thị Phương Thảo, Trường Đại học
Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM, Việt Nam
Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học Phân
tử, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên,
ĐHQG-HCM, Việt Nam
Email: thaodp@hcmus.edu.vn
Lịch sử
Ngày nhận: 01-4-2020
Ngày chấp nhận: 18-5-2020
Ngày đăng: 01-7-2020
DOI : 10.32508/stdjns.v4i3.900
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Tạo dòng, biểu hiện và thu nhận nhân tố tăng trưởng tế bào sừng
KGF (Keratinocyte Growth Factor) tái tổ hợp dạng tiết ở nấmmen
Pichia pastoris
Nguyễn PhạmAnh Thư1, Nguyễn Thị Thùy Trang1, Nguyễn Hiếu Nghĩa1, Đặng Thị Phương Thảo1,2,*
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
TÓM TẮT
Nhân tố tăng trưởng tế bào sừng (KGF - Keratinocyte Growth Factor) là nhân tố tăng trưởng hoạt
động theo cơ chế cận tiết, do tế bào trung mô tiết ra, có vai trò kích thích sự tăng sinh, biệt hóa và
di chuyển của tế bào biểu mô đồng thời hỗ trợ tái tạo biểu mô tổn thương. Trong các nghiên cứu
gần đây, KGF tái tổ hợp được sản xuất từ nhiều hệ thống biểu hiện như vi khuẩn, tế bào thực vật,
tế bào côn trùng, tế bào động vật có vú nhưng mức độ biểu hiện thấp, chi phí cao và khó khăn
trong quy trình thu nhận. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng nấm men Pichia pastoris làm
tế bào chủ để biểu hiện protein KGF dạng tiết dưới sự điều hoà của promoter AOX1 với cảm ứng
methanol. Kết quả cho thấy dòng nấmmen Pichia pastoris X33:kgf có khả năng biểu hiện KGF tái tổ
hợp dạng tiết trong môi trường BMMY cảm ứng bằng 0,5% methanol. Protein tiết được thu nhận
và tinh chế bằng sắc ký ái lực heparin, đạt được 1,350 mg/l với độ tinh sạch 99,89%. Bên cạnh đó,
KGF tái tổ hợp cho thấy khả năng kích thích tăng sinh trên dòng tế bào A549 là tế bào có thụ thể
dành cho KGF tự nhiên.
Từ khoá: heparin, KGF, nhân tố tăng trưởng, Pichia pastoris
GIỚI THIỆU
KGF hay FGF7, là nhân tố tăng trưởng được sinh tổng
hợp bởi các tế bào có nguồn gốc trung mô, được phát
hiện và phân lập lần đầu tiên vào năm 1989 bởi Rubin
và cộng sự từ dòng tế bào nguyên bào sợi phổi M426
trong phôi thai người [1, 2]. Các nghiên cứu cho thấy
rằng KGF có nhiều chức năng khác nhau bao gồm
kích thích phân chia, tăng sinh và biệt hóa các dòng
tế bào biểu mô và tế bào sừng [1, 3, 4]. Bên cạnh đó,
KGF còn có vai trò trong việc tái tạo, sửa chữa các mô
và cơ quan tổn thương thông kích thích sự di chuyển
của các tế bào sừng và biểu mô ở miệng vết thương,
từ đó thúc đẩy tiến trình làm lành vết thương [5, 6].
Hiện nay, KGF đã được nghiên cứu rộng rãi và ứng
dụng trong nhiều lĩnh vực như mỹ phẩm, dược phẩm
và hỗ trợ trong điều trị ung thư [7–9].
Việc hóa trị và xạ trị thời gian dài trong điều trị ung
thư có thể gây ra nhiều tác dụng phụ đối với cơ thể
bệnh nhân mà phổ biến nhất là giảm sức đề kháng,
dẫn đến người bệnh phải đối mặt thêm với các hội
chứng khác như loét miệng, nhiễm trùng hay rụng
tóc [10]. Để giải quyết tình trạng trên, thị trường xuất
hiện nhiều sản phẩm hướng đến hỗ trợ bệnh nhân
trong điều trị ung thư, trong đó có nhiều sản phẩm có
bản chất sinh học. Palifermin (KepivanceTM) là sản
phẩmKGF tái tổ hợp sản xuất trên hệ thống E. coli đã
được FDA Hoa Kì phê chuẩn vào ngày 15/12/2004,
chấp thuận cho thương mại và sử dụng để làm giảm
hội chứng viêm loét màng nhầy niêm mạc miệng ở
các bệnh nhân ung thư máu ác tính trải qua nhiều trị
lần hóa trị và xạ trị.
Với tiềm năng ứng dụng lớn trong nhiều lĩnh vực,
tuy nhiên việc sử dụng KGF vẫn còn hạn chế vì giá
thành cao do lượng KGF thu nhận tự nhiên tương đối
thấp. Theo theo thống kê, trung bình một bệnh nhân
có trọng lượng 70 kg sẽ tốn khoảng 5000 euro cho
một lần điều trị bằng Palifermin [11], tương đương
khoảng hơn 100 triệu VNĐ. Với mục tiêu thu nhận
KGF với lượng lớn hơn, có nhiều chiến lược biểu hiện
tái tổ hợp đã và đang được tiến hành trên nhiều hệ
thống như vi khuẩn E.coli [12, 13], tế bào cây thuốc
lá [6], tế bào con tằm [14], tế bào chuột lang Trung
Quốc – CHO [15], tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều
nhược điểm như lượng KGF thu nhận thấp, bản thân
KGF gây độc cho tế bào chủ biểu hiện như ở hệ thống
E. coli [12]; đồng thời, hiệu quả sản xuất thấp do chi
phí cao ở hệ thống biểu hiện tế bào động vật có vú,
Năm 2018, Bahadori và cộng sự đã biểu hiện thành
công KGF dạng tiết ở hệ thống tế bào nấm men P.
pastoris với hoạt tính kích thích tăng sinh trên dòng
tế bào A549 và NIH3T3. Nhận thấy P. pastoris là hệ
thống tế bào chủ biểu hiện với nhiều ưu điểm như
Trích dẫn bài báo này: Thư N P A, Trang N T T, Nghĩa N H, Thảo D T P. Tạo dòng, biểu hiện và thu nhận
nhân tố tăng trưởng tế bào sừng KGF (Keratinocyte Growth Factor) tái tổ hợp dạng tiết ở nấmmen
Pichia pastoris . Sci. Tech. Dev. J. - Nat. Sci.; 4(3):573-583.
573
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(3):573-583
khả năng biến đổi sau dịch mã và gấp cuộn protein
tương đồng với tế bào động vật, đặc biệt promoter
mạnh và khả năng tiết protein ngoại bào giúp protein
tái tổ hợp ở hệ thống này biểu hiện ở mức độ cao,
có thể chiếm tới hơn 80% tổng protein tiết [16–18],
chúng tôi lựa chọn P. pastoris nhằm biểu hiện KGF tái
tổ hợp. Với chiến lược trên, gen mã hóa cho protein
KGF được dòng hóa vào vector pPICZaA sau đó gắn
chèn vào DNA bộ gen của nấm men P. pastoris X33
nhờ cơ chế tái tổ hợp tương đồng. Dưới sự kiểm soát
của promoter AOX1- cảm ứng bởi methanol, protein
KGF dạng tiết được biểu hiện, thu nhận và tinh sạch
bằng sắc ký ái lực heparin, sau đó, đánh giá hoạt tính
sinh học dựa trên khả năng kích thích tăng sinh tế bào
A549. Kết quả của đề tài hướng tới giảm giá thành của
các sản phẩm thương mại hiện tại và góp phần hỗ trợ
các bệnh nhân trong việc điều trị ung thư cũng như
mở rộng ứng dụng trong các lĩnh vực khác như mỹ
phẩm hay các sản phẩm chăm sóc sức khỏe.
VẬT LIỆU – PHƯƠNG PHÁP
Chủng, plasmid và tế bào
Chủng E.coli DH5a [F j80 lacZ DM15 D(lacZYA-
argF) U169 recA1 endA1 hsdR17 (rK , mK+) phoA
supE44 l thi-1 gyrA96 relA1] dùng để cấu trúc vec-
tor tái tổ hợp, được nuôi cấy trong môi trường LB
(Trypton 1%, cao nấm men 0,5%, NaCl 0,5%).
Chủng nấm men P. pastoris X33 [Hoang dại, Mut+]
dùng để biểu hiện KGF, được nuôi cấy trong môi
trường YPD (Dextrose 2%, peptone 2%, cao nấmmen
1%).
Plasmid pPICZaA (V195-20, Invitrogen) có kích
thước 3593bp được dùng làm vector dòng hóa gen
kgf , mang gen kháng zeocin hỗ trợ quá trình sàng
lọc dòng tái tổ hợp, promoter AOX cảm ứng bởi
methanol, trình tự tín hiệu tiết a-MF giúp hỗ trợ tiết
protein ngoại bào.
Gen mã hóa cho protein KGF (gen kgf) được tham
khảo từ Genbank [Genbank: M60828.1], thiết kế lại
dựa trên trình tự protein KGF từ ngân hàng dữ liệu
protein Drugbank [Drugbank: Palifermin DB00039]
và tối ưu hóa nhằm phù hợp với bộ mã di truyền của
chủng chủ biểu hiện P. p astoris.
Dòng tế bào A549 (ATCC: CCL-1859) có thụ thể
KGFR được sử dụng để thử hoạt tính sinh học của
protein KGF.
Cấu trúc vector tái tổ hợp pPICZaA-kgf
Sau khi được tổng hợp hóa học từ trình tự đã thiết
kế, gen kgf được khuếch đại bằng phương pháp PCR
bằng cặp mồi đặc hiệu KGF-F/R với trình tự lần lượt
là AAG GGG TAT CTC TCG AGA AAA GAT CTT
ACG ATT ACA TGG AAGG và GCG GCC GCC
GCG GCT CGA GTC ATT AAG TAA TAG CCA
TTG GCAA. Chu kỳ PCR được thiết lập như sau:
Biến tính 94oC 3 phút, lặp lại 30 lần chu kỳ 94oC 30
giây, 55oC 30 giây, 72oC 30 giây, kéo dài 72oC 5 phút,
ổn định 32oC 3 phút. Vector pPICZaA được tách
chiết bằng phương pháp SDS-kiềm và được cắt mở
vòng bằng enzyme XhoI. Sản phẩm PCR và sản phẩm
cắt được kiểm tra bằng phương pháp điện di trên gel
agarose 1,2%.
Gen kgf được tinh sạch bằng phương pháp tủa cồn,
plasmid sau khi cắt được tinh sạch qua cột silica gel
bằng bộ kit EZ-10 (Biobasic), sau đó gen kgf được
dòng hóa vào plasmid pPICZaA theo cơ chế tái tổ
hợp tương đồng bằng bộ kit eClone được cung cấp bởi
bộ môn Công nghệ Sinh học Phân từ và Môi trường
– trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG TP.
HCM. Cấu trúc vector tái tổ hợp và sơ đồ tạo dòng
được thể hiện ở Hình 1. Sản phẩm nối được biến nạp
vào tế bào E.coli DH5a bằng phương pháp hóa biến
nạp và sàng lọc trên môi trường LB agar với kháng
sinh zeocin (nồng độ 50 mg/ml). Các thể biến nạp
được sàng lọc bước đầu bằng phản ứng PCRkhuẩn lạc
bằng mồi đặc hiệu, các khuẩn lạc cho kết quả dương
tính được tiến hành tách chiết plasmid bằng phương
pháp SDS– kiềm. Các plasmid sau khi tách chiết được
sử dụng làm mạch khuôn cho phản ứng PCR với cặp
mồi KGF-F và AOX-R để xác nhận gen đã chèn vào
plasmid pPICZaA đúng khung đọc mở như thiết kế.
Cuối cùng, vector tái tổ hợp được giải trình tự bằng
cặp mồi AOX-F và AOX-R.
Tạo dòng nấm men P. pastoris X33 mang
vector tái tổ hợp pPICz aA-kgf
Để cấu trúc chủng nấm men P. pastoris::kgf, các plas-
mid tái tổ hợpmang gen kgf được cắtmở vòng với en-
zyme SacI tại vị trí vùng promoter AOX1 nhằm tăng
khả năng sát nhập vào bộ gen của nấm men, sau đó
được đưa vào tế bào chủ P. pastoris bằng phương
pháp điện biến nạp với điện dung 25 mF, điện trở 200
W, hiệu điện thế 1,5 kV trong 5,0 ms.
Nhằm phát hiện sự hiện diện của gen trong các thể
biến nạp, các khuẩn lạc mọc được trên đĩa YPD với
kháng sinh zeocin với nồng độ 100 mg/ml được kiểm
tra bằng kĩ thuật PCR khuẩn lạc sàng lọc với mồi đặc
hiệu KGF-F và KGF-R. Các khuẩn lạc nấmmen được
phá lớp vách dày chứa chitin và đườngmannose bằng
lyticase trước khi sử dụng làm khuôn cho phản ứng
PCR.Các khuẩn lạc cho kết quả PCRdương tính được
tách chiết DNA bộ gen và kiểm tra kiểu hình bằng
phản ứng PCR với cặp mồi AOX-F/R.
574
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(3):573-583
Hình 1: Cấu trúc vector tái tổ hợp pPICzaA/kgf và sơ đồ tạo dòng E.coli DH5a mang vector tái tổ hợp
Kiểm tra biểu hiện KGF dạng tiết của chủng
P. pastoris X33::kgf
Các dòng P. pastoris X33::kgf tái tổ hợp mang kiểu
hìnhMut+ được tiến hành hoạt hóa trongmôi trường
BMGY (cao nấm men 1%, peptone 2%, YNB 1,34%,
phosphate buffer 0.1MpH6,0; biotin 410 5%, glyc-
erol 1%), nuôi cấy lắc trong 16 – 18 giờ ở nhiệt độ
30oC, tốc độ 250 vòng/phút sau đó được cấy chuyền
sang môi trường BMMY (cao nấm men 1%, peptone
2%, YNB 1,34%, 10% phosphate buffer 1 M pH 6,0;
biotin 410 5 %, methanol 0,5%) với mật độ tế bào
khởi điểm OD600 =1 và bổ sung methanol với nồng
độ cuối 0,5% sau mỗi 24 giờ nuôi cấy. Mật độ tế bào
được xác định sau lần lượt 24 giờ, 48 giờ và 72 giờ
nhằm kiểm soát quá trình tăng trưởng của dòng nấm
men tái tổ hợp, bên cạnh đó, mức độ biểu hiện của
protein KGF trong dịch biểu hiện cũng được đánh giá
bằng phương pháp di SDS-PAGE và khẳng định lại
bằng phương pháp lai western với kháng thể đặc hiệu
kháng KGF. Cụ thể, mẫu protein được phân tách trên
575
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(3):573-583
gelpolyacrylamide và được chuyển thẩm lênmàng ni-
trocellulose, khóa màng trong sữa gầy 5% qua đêm,
sau đó tiến hành lai với kháng thể sơ cấp kháng KGF
(R&D Systems) nồng độ 1mg/ml và kháng thể thứ
cấp mouse – IgG gắn Horseradish peroxidase (HRP)
(R&D Systems) tỉ lệ 1/1000. Tín hiệu được ghi nhận
trên màng lai nhờ phản ứng giữa cơ chất peroxidase
(H2O2) và luminol với HRP.
Tinh chế thu nhận protein KGF tái tổ hợp
bằng sắc ký ái lực Heparin
Cột sắc ký ái lựcHeparin 5ml (GEHealthcare Life Sci-
ences) được cân bằng với 50 ml dung dịch A (20mM
Tris – HCl, pH 7,5), 200 ml dịch biểu hiện sau khi
thu nhận sẽ được lọc qua màng lọc 0,2mm sau đó tiến
hành nạp qua cột. Sau khi toàn bộ mẫu đã được nạp,
tiến hành rửa cột với 50ml 100% dung dịch A và 50
ml dung dịch 30% B (20mM Tris – HCl, pH 7,5, 2M
NaCl) nhằm loại bỏ một phần protein tạp bám không
đặc hiệu trên cột, sau đó protein mục tiêu KGF được
dung ly khỏi cột với 50% và 100% dung dịch B. Tốc
độ cho toàn quy trình là 5ml/phút. Các phân đoạn
sau tinh chế được tiến hành điện di SDS PAGE, đánh
giá độ tinh sạch bằng phầnmềmGel analyzer và định
lượng nồng độ protein mục tiêu bằng phương pháp
Bradford.
Thử nghiệm hoạt tính sinh học của protein
KGF tái tổ hợp bằng phương phápMTT
Thử nghiệm MTT được dùng để đánh giá hoạt tính
kích thích tăng sinh của KGF tái tổ hợp trên tế bào
A549. Tế bào A549 được nuôi cấy 3 ngày trong đĩa
F60, thu nhận và chuyển vào vào đĩa 96 giếng với
mật độ 104 tế bào/giếng trong môi trường nuôi cấy
DMEM/F12 có bổ sung 10% FBS, 100m l/ giếng. Ủ tế
bào ở 37oC, 5%CO2 trong 24 giờ. Loạimôi trường cũ,
rửa tế bào bằng môi trường DMEM/F12 không chứa
FBS, bổ sung 95 m l DMEM/F12 không chứa FBS. Bổ
sung 5m l KGF ở các nồng độ 25; 50; 100; 200 ng/m l
vào mỗi giếng và 5m l dung dịch pha loãng mẫu vào
chứng âm. Ủ tế bào ở 37oC, 5% CO2 trong 48 giờ. Bổ
sung 5m l MTT (5mg/ml) vào mỗi giếng. Ủ ở 37C,
5%CO2 trong 3 giờ. Hút bỏ toàn bộ dịch nổi, bổ sung
100m l dung dịch hoà tanMTT vàomỗi giếng. Đặt đĩa
lênmáy lắc trong 10 phút. Đo lượng tinh thể tím được
tạo thành bằng máy đọc đĩa 96 giếng ở bước sóng 550
nm. Thực hiện tương tự với mẫu KGF thương mại.
Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần và đánh giá thống
kê bằng T-test.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả tối ưu hóa trình tự genmã hóa cho
phân đoạn protein KGF
Trình tự gen kgf được dịch mã ngược từ trình tự
polypeptide của KGF thu từ ngân hàng dữ liệu Drug-
bank. Đây là trình tự protein KGF được biểu hiện và
thu nhận ở hệ thống E.coli và được sử dụng làm thuốc.
Vì vậy với mục tiêu biểu hiện protein KGF với cùng
trình tự polypeptide ở hệ thống Pichia pastoris, chúng
tôi tiến hành tối ưu một số bộ ba mã hóa của gene kgf
. Gen mục tiêu được tối ưu bằng phần mềm snap-
gene và kiểm tra trình tự bằng phần mềm Genscript.
Kết quả phân tích trình tự ở Bảng 1 cho thấy, trước
khi được tối ưu, gen kgf có chỉ số tương thích codon
(CAI) trên hệ thống Pichia pastoris đạt 0,8 – là chỉ số
thấp nhất trong khoảng lý tưởng (0,8 – 1,0). Sau khi
được tối ưu, chỉ số tương thích đạt 0,92, bên cạnh đó
tần suất sử dụng codon hiếm cũng giảm từ 7% xuống
0% - là chỉ số lý tưởng cho việc biểu hiện protein ngoại
lai. Đặc biệt, sau khi đã tối ưu, tỉ lệ GC trong phân tử
thay đổi không đáng kể (tăng 1,35%) và vẫnnằm trong
khoảng lý tưởng.
Cấu trúc vector tái tổ hợp pPICzaA-kgf
Các khuẩn lạc cho kết quả PCR dương tính với vạch
DNA có kích thước tương ứng với kích thước chứng
dương gen kgf (468 bp) trên bản điện di được
tách plasmid tái tổ hợp bằng phương pháp SDS-kiềm
và kiểm tra sự gắn chèn của gen kgf lên plasmid
pPICZaA bằng phản ứng PCR với cặp mồi KGF-F và
AOX-R.
Kết quả điện di kiểm tra sản phẩm PCR với khuôn
mẫu là plasmid thu nhận từ các khuẩn lạc dương tính
ở các giếng 3, 4, 5, 6 (Hình 2) cho thấy có 3 giếng xuất
hiện vạch mục tiêu nằm giữa vạch 600 bp và 800 bp
của thang DNA (giếng 3, 4, 6) chứng tỏ các plasmid
tái tổ hợp ở các thể biến nạp này có gen kgf chèn đúng
vị trí mong muốn như thiết kế. Ngược lại, ở giếng 2,
sản phẩm PCR với khuôn là plasmid pPICZaA nên
không có vị trí bám đặc hiệu cho mồi KGF-F, do đó
sản phẩmkhông xuất hiện vạch. Thêmvào đó, kết quả
giải trình tự cho thấy gen kgf dòng hóa tương đồng
100% về mặt trình tự so với thiết kế ban đầu và đồng
khung dịch mã với trình tự a-MF. Như vậy, nghiên
cứu này đã cấu trúc thành công dòng tế bào E. coli
DH5a mang plasmid tái tổ hợp chứa gen mã hóa cho
protein KGF.
Tạo dòng nấm men P. pastoris X33 mang
genmã hóa protein KGF
Gen AOX1 chịu trách nhiệm chính cho cơ chế sử
dụng methanol ở nấm men P. pastoris, vì vậy sự sát
nhập plasmid tái tổ hợp vào vùng gen này có thể xảy
576
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(3):573-583
Bảng 1: Kết quả tối ưu hóa codon của trình tự gen kgf
Trước khi tối ưu Sau khi tối ưu Thông số lý tưởng
CAI (*) 0,8 0,92 0,8-1,0
CFD (%) (**) 7 0 <30%
Tỉ lệ GC (%) 34,39 35,74 30-70
*CAI (codon adaption index): Chỉ số tương thích codon
**CFD (codon usage frequency determination): Tần suất sử dụng codon hiếm.
Hình 2: Kiểm tra plasmid tái tổ hợp bằng phương pháp PCR (mồi KGF-F và AOX-R). T: Thang DNA; 1: Chứng
âm phản ứng PCR; 2: Sản phẩm PCR plasmid pPICZaA; 3 - 6. Sản phẩm PCR các plasmid tái tổ hợp.
ra hai trường hợp: tái tổ hợp theo cơ chế chèn gen
vẫn giữ nguyên vùng gen AOX1 nội sinh của nấm
men, giúp chủng có khả năng sinh trưởng tốt trênmôi
trường có methanol (chủng mang kiểu hình Mut+)
hoặc tái tổ hợp theo cơ thế thay thế, loại bỏ hoàn toàn
vùng gen AOX1 nội sinh của nấm men, khiến chủng
sinh trưởng yếu hơn trên môi trường có methanol
(chủng mang kiểu hình MutS). Kiểu hình của chủng
nấmmen tái tổ hợp được kiểm tra bằng phương pháp
PCR với cặp mồi AOX1 F/R. Kết quả phân tích sản
phẩm PCR (Hình 3) cho thấy trong số 4 thể biến nạp
tiến hành kiểm tra DNA bộ gen (giếng 5, 6, 7, 8), thể
biến nạp ở giếng 8 có xuất hiện 2 vạch mục tiêu theo
dự đoán là vạch gen AOX1 nội sinh của nấmmen với
kích thước 2,2 kb và vạch genAOX1 có chèn genmục
tiêu kgf nằm trên plasmid pPICZaA với kích thước
965 bp. Chủng nấm men tái tổ hợp này mang kiểu
hìnhMut+ và được dự đoán có khả năng sinh trưởng
tốt trên môi trường có methanol. Trường hợp chủng
nấm men chỉ mang vector pPICzaA không chèn gen
(Giếng 3), kết quả PCR với cặp mồi AOX sẽ cho vạch
nội sinh trên bộ gen nấmmen với kích thước 2,2 kb và
đoạn khuếch đại nằm trong vùng gen AOX của vector
với kích thước 589 bp.
Kiểm tra khả năng biểu hiện KGF dạng tiết
của chủng nấmmen P. pastoris X33::kgf
Chủng nấm men tái tổ hợp P. pastoris X33::kgf có
kiểu hình Mut+ được tiến hành nuôi cấy và cảm
ứng biểu hiện bằng methanol nồng độ cuối 0,5%,
tiến hành biểu hiện đồng thời với chủng P. pastoris
X33 và P. pastoris X33/pPICZaA làm đối chứng.
Kết quả kiểm tra khả năng tăng trưởng trong môi
trường BMMY với methanol là nguồn carbon duy
nhất (Hình 4 A) cho thấy chủng tái tổ hợp P. pastoris
X33::kgf có khả năng sử dụng methanol để tăng sinh
khối, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của chủng nấm
men tái tổ hợp thấp hơn so với 2 chủng đối chứng là
P. pastoris X33 và P. pastoris X33::pPICzaA
Kết quả điện di SDS-PAGE mẫu dịch biểu hiện từ P.
pastoris X33::kgf cho thấy ngoài vạch nội sinh của
chủng P. pastoris, có xuất hiện một vạch kích thước
khoảng 16 kDa, dự đoán đây là vạch protein KGFmục
577
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(3):573-583
Hình 3: Kiểm tra DNA bộ gen nấmmen tái tổ hợp bằng phương pháp PCR (mồi AOX-F/R). T: Thang DNA; 1.
Chứng âm phản ứng PCR; 2. Sản phẩm PCR DNA bộ gen P. pastoris X33; 3. Sản phẩm PCR DNA bộ gen P. pastoris
X33/pPICZaA; 4. Sản phẩm PCR plasmid tái tổ hợp pPICZaA/kgf; 5 - 9. Sản phẩm PCR DNA bộ gen của nấmmen
tái tổhợp P. pastoris X33::kgf
tiêu (Hình 4 B, giếng 4). Nhằm khẳng định pro-
tein biểu hiện chính là KGF, tiến hành lai Western với
kháng thể đặc hiệu kháng KGF. Kết quả cho thấy trên
màng lai xuất hiện vạch tín hiệu tương ứng với vạch
proteincó kích thước 16 kDa trên bảng điện di SDS-
PAGE mẫu dịch biểu hiện của chủng P. pastoris X33::
kgf được cảm ứng bởi methanol (Hình 4 C, giếng 4).
Các giếng còn lại không xuất hiện vạch tín hiệu này.
Bên cạnh đó, ngoài vạch protein có kích thước 16 kDa
như dự đoán thì không xuất hiện vạch kích thước nào
khác. Điều này chứng tỏ protein biểu hiện dạng tiết
thu được ở dịchmôi trường chính là proteinKGFmục
tiêu và chúng tôi đã cấu trúc thành công chủng P. pas-
toris X33:: kgf có khả năng biểu hiện protein KGF
dạng tiết.
Tinh chế và thu nhận protein KGF tái tổ hợp
bằng sắc ký ái lực Heparin
50ml dịch môi trường sau biểu hiện được cho qua cột
heparin 5ml với tốc độ ổn định toàn bộ quy trình là 5
ml/phút, sau đó tiến hành rửa loại tạp bằng 100%A
và 30%B (Phân đoạn W - wash), cuối cùng rotein
KGF được dung ly ở phân đoạn 50%B và 100% B với
thể tích 15ml (Phân đoạn E – elution). Kết quả điện
di SDS-PAGE và định lượng nồng độ protein bằng
phương pháp Bradford cho thấy từ 50ml dịch biểu
hiện, với quy trình tinh chế trên đã thu được 67 mg
KGF có độ tinh sạch 99,89%, phân tích bằng phần
mềm gel analyzer (Hình 5, giếng E 50%B), (Bảng 2).
578
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(3):573-583
Hình4: Đánhgiábiểuhiệncủachủngnấmmentái tổhợp. (A)Đườngcong tăng trưởngcủa các chủngnấmmen
trongmôi trường BMMY. (B) Kết quả điện di SDS-PAGE và (C) Kết quả lai western các mẫu dịch biểu hiện. T: Thang
protein; 1: Chủng P. pastoris X33 có cảmứngmathanol; 2: Chủng P. pastoris X33/pPICZaA có cảmứngmathanol;3:
Chủng P. pastoris X33::kgf không cảm ứng methanol; 4: Chủng P. pastoris X33::kgf có cảm ứng methanol.
Bảng 2: Tổng hợp kết quả tinh chế KGF bằng sắc ký ái lực Heparin
Phân đoạn tinh chế Thể tích (ml) Nồng độ (mg/ml) Độ tinh sạch
(%)
KGF thu nhận (mg)
Tổng KGF
Mẫu biểu hiện (S) 50 116,71 18,46 15,82 791
Dung ly (E) 15 4,51 4,50 99,89 67,5
579
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(3):573-583
Hình 5: Đánh giá kết quả tinh chế KGF tái tổ hợp bằng phương pháp SDS-PAGE. T: thang protein (GE-
Healthcare); S: Mẫu dịch biểu hiện; F: Phân đoạn qua cột; W: Phân đoạn rửa cột; E: Phân đoạn dung ly
Hiệu suất thu hồi ở nghiên cứu này thấp hơn so với
nghiên cứu tương tự trên thế giới, cụ thể là nghiên
cứu của Bahadori và cộng sự năm 2018 (1,3mg <
3mg) [19]. Sự khác biệt trên có thể nằm ở quy trình
biểu hiện thu nhận protein KGF từ nấm men P. pas-
toris. Ở nghiên cứu của Bahadori năm 2018, tác giả
tiến hành thu nhận KGF ở thời điểm 96 giờ trong khi
nghiên cứu này thu nhận ở 72 giờ, đồng thời lượng
tế bào khởi điểm trong nghiên cứu của Bahadori cao
hơn gấp 1,5 lần so với nghiên cứu này. Kết quả trên
cho thấy cần có thêm nhiều nghiên cứu nhằm tối ưu
điều kiện biểu hiện nhằmhướng tới việc sản xuấtKGF
tái tổ hợp đạt hiệu quả cao.
Thử nghiệm hoạt tính sinh học của KGF tái
tổ hợp
Trong tự nhiên, KGF có khả năng tương tác đặc hiệu
với các tế bào biểu mô thông qua thụ thể KGF (KGF-
receptor), từ đó hình thànhmột chuỗi phản ứng, kích
hoạt các con đường dẫn truyền tín hiệu KGF và thúc
đẩy quả trình tăng sinh, biệt hóa tế bào. Nghiên trước
đây cho thấy KGF kích thích tăng sinh tế bào A549
thông qua nhận diện thụ thể KGRF trên bềmặt tế bào
này [19]. Ở nghiên cứu này, trong điều kiện không
có tế bào keratinocyte chúng tôi kiểm tra cấu hình tự
nhiên của protein KGF tái tổ hợp thông qua việc nhận
diện thụ thể KGFR trên tế bào A549. Kết quả của thử
nghiệm (Hình 6) cho thấy mẫu KGF thu nhận từ dịch
biểu hiện P. pastoris có hoạt tính kích thích tăng sinh
1,2 lần ở nồng độ 50 ng/mL, 1,38 lần ở nồng độ 100
ng/mL, trong khi mẫu chứng dương là KGF thương
mại biểu hiện từ E. coli (R & D systems) có hoạt tính
kích thích tăng sinh ở nồng độ 50 ng/ml là 1,25 lần
và tăng dần đến 1,52 lần ở nồng độ 100 ng/ml. Tuy
nhiên, ở nồng độ 200 ng/mL, KGF thương mại cho
hoạt tính kích thích tăng sinh 1,75 lần, trong khi KGF
tái tổ hợp chỉ cho khả năng kích thích tăng sinh 1,16
lần, thấp hơn so với nồng độ 50 ng/ml và 100 ng/ml.
Kết quả này có thể do sự khác biệt về dung dịch trữ
giữa KGF thương mại và KGF tái tổ hợp, khác biệt về
thành phần muối trong dung môi có thể gây ra sự kết
cụm của các phân tử KGF tái tổ hợp khi sử dụng ở
nồng độ cao và từ đó làm giảm tác động của KGF tái
tổ hợp [20] . Kết quả thực nghiệm này cho thấy cần
tiến hành thêm các nghiên cứu nhằm khảo sát nồng
độ sử dụng tối ưu của KGF tái tổ hợp trong kích thích
tăng sinh tế bào, cũng như khảo sát dung dịch lưu trữ
KGF tái tổ hợp.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy chúng tôi đã tạo
thành công dòng nấmmen P. pastoris tái tổ hợpmang
gen mã hóa cho protein KGF. Dưới sự kiểm soát của
promoter AOX1, protein KGF tái tổ hợp được biểu
hiện dưới dạng tiết và được tinh sạch bằng phương
pháp sắc ký ái lực Heparin với độ tinh sạch cao (>
99%) cũng như hoạt tính kích thích tăng sinh tế bào
tương tự như KGF tự nhiên. Với mục tiêu ứng dụng
KGF trong lĩnh vực dược phẩm và mỹ phẩm ở quy
mô lớn và giảm giá thành sản phẩm, cần tăng quy mô
biểu hiện và tối ưu hóa các điều kiện nuôi cấy có kiểm
soát, cũng như xây dựng quy trình thử nghiệm hoạt
tính sinh học trên nhiều mô hình khác nhau.
580
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(3):573-583
Hình 6: Hoạt tính sinh học của KGF tái tổ hợp trên dòng tế bào A549. Chứng âm (PBS) được xem có mức độ
tăng sinh 100%. *: p-value<0,05; **:p-value<0,01
DANHMỤC TỪ VIẾT TẮT
AOX: Alcohol oxidase
FGF: Fibroblast Growth Factor
KGF: KeratinocyteGrowth Factor/ FibroblastGrowth
Factor – 7
KGFR: Keratinocyte Growth Factor Receptor
LB: Luria-Bertani
MTT: Tetrazolium (3- [4,5- dimethylthiazol- 2- yl-]
2,5- diphenyltetrazolium bromide
PCR: Polymerase Chain Reaction
SDS-PAGE: Sodiumdodecyl sulfate – polyacrylamide
gel electrophoresis
XUNGĐỘT LỢI ÍCH
Các tác giả cam đoan rằng họ không có xung đột lợi
ích.
ĐÓNGGÓP CỦA TÁC GIẢ
Nghiên cứu này được thiết kế bởi tác giả Đặng Thị
PhươngThảo và NguyễnHiếu Nghĩa. Tác giả Nguyễn
Phạm AnhThư và NguyễnThịThùy Trang tiến hành
thu thập số liệu tại phòng thí nghiệm và xử lý kết
quả. Tác giảĐăngThị PhươngThảo và tác giảNguyễn
Phạm AnhThư tham gia viết bản thảo.
LỜI CÁMƠN
Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Khoa học Tự
nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
(ĐHQG-HCM) trong khuôn khổ đề tài mã số T2019-
22
TÀI LIỆU THAMKHẢO
[1] J. S. Rubin, H. Osada, P. W. Finch, W. G. Taylor, S. Rudikoff, and
S. A. Aaronson. Purification and characterization of a newly
identified growth factor specific for epithelial cells. Proceed-
ings of theNational Academyof Sciences, 86(3):802–806, 1989.
[2] P. W. Finch and J. S. Rubin. Keratinocyte growth fac-
tor/fibroblast growth factor 7, a homeostatic factorwith ther-
apeutic potential for epithelial protection and repair. Ad-
vances in cancer research, 91:70–137, 2004.
[3] J. S. Rubin, D. P. Bottaro, et al. Keratinocyte growth factor. Cell
biology international, 19(5):399–412, 1995.
[4] C. Marchese, A. Messina, A. Faggioni, et al. Human ker-
atinocyte growth factor activity on proliferation and differ-
entiation of human keratinocytes: differentiation response
distinguishes KGF from EGF family. Journal of cellular physiol-
ogy, 144(2):326–332, 1990.
[5] Y. Peng, S. Wu, Q. Tang, S. Li, and C. Peng. KGF-1 acceler-
ateswound contraction through the TGF-b1/Smad signaling
pathway in a double-paracrine manner. Journal of Biological
Chemistry, 294(21):8361–8370, 2019.
[6] Z. G. Feng, S. F. Pang, et al. Recombinant keratinocyte growth
factor 1 in tobacco potentially promotes wound healing in
diabetic rats. BioMed research international, 2014;.
[7] R. Araújo, M. Lôbo, K. Trindade, D. F. Silva, and N. Pereira. Fi-
broblast Growth Factors: A Controlling Mechanism of Skin
Aging. Skin pharmacology and physiology, 4(5):275–282,
2019.
[8] S. Ceccarelli, F. Romano, A. Angeloni, and C. Marchese. Po-
tential dual role of KGF/KGFR as a target option in novel ther-
apeutic strategies for the treatment of cancers and mucosal
damages. Expert opinion on therapeutic targets, 16(4):377–
393, 2012.
[9] P.W. Finch and J. S. Rubin. Keratinocyte growth factor expres-
sion and activity in cancer: implications for use in patients
with solid tumors. Journal of the National Cancer Institute,
98(12):812–824, 2006.
581
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(3):573-583
[10] N. Gegechkori, L. Haines, and J.J. Lin. Long Term and Latent
Side Effects of Specific Cancer Types. The Medical clinics of
North America, 101(6):1053, 2017.
[11] A. Barasch, J. Epstein, and K. Tilashalski. Palifermin for man-
agement of treatment-induced oral mucositis in cancer pa-
tients. Biologics: targets & therapy, 3:111, 2009.
[12] D. Ron, D. P. Bottaro, P. W. Finch, D. Morris, J. S. Rubin,
and S. Aaronson. Expression of biologically active recombi-
nant keratinocyte growth factor. Structure/function analysis
of amino-terminal truncation mutants. Journal of Biological
Chemistry, 268(4):2984–2988, 1993.
[13] Y. Luo, H. H. Cho, R. B. Jones, C. Jin, and W. L. McKeehan. Im-
provedproduction of recombinant fibroblast growth factor 7
(FGF7/KGF) from bacteria in high magnesium chloride. Pro-
tein expression and purification, 33(2):326–331, 2004.
[14] S. Y. Han, C. Y. Jin, et al. Production of Recombinant Human
Keratinocyte Growth Factor from Bombyx mori (Lepidopera:
Bombycidae) Bm5 Cells. Journal of Life Science, 21(6):907–
911, 2011.
[15] Y. R. Hsu, E. W. Hsu, et al. Human keratinocyte growth factor
recombinantly expressed in Chinese hamster ovary cells: iso-
lation of isoforms and characterization of post-translational
modifications. . Protein expressionandpurification, 12(2):189–
200, 1998.
[16] M. Ahmad, M. Hirz, H. Pichler, and H. Schwab. Protein expres-
sion inPichiapastoris: recent achievements andperspectives
for heterologous protein production. Applied microbiology
and biotechnology, 98(12):5301–5317, 2014.
[17] E. El-Mansi, J. Nielsen, D. Mousdale, and R. P. Carlson.
Metabolic analysis and optimization of microbail and animal
cell bioprocesses, Fermentation microbiology and biotech-
nology. Second ed: CRC press, 2018.
[18] T. D. Osslund, R. Syed, et al. Correlation between the 1.6
Å crystal structure and mutational analysis of keratinocyte
growth factor. Protein Science, 7(8):1681–1690, 1998.
[19] Z. Bahadori, H. R. Kalhor, and S.J. Mowla. Producing func-
tional recombinant human keratinocyte growth factor in
Pichia pastoris and investigating its protective role against ir-
radiation. Enzymeandmicrobial technology, 111:12–20, 2018.
[20] WeiWang and J. R. Chrostopher. Aggregration of therapeutic
proteins. Wiley, A JhnWiley & Sons, Inc, Publication, page 369,
2010.
582
Science & Technology Development Journal – Natural Sciences, 4(3):573-583
Open Access Full Text Article Research Article
1Department of Molecular and
Environmental Biotechnology, Faculty of
Biology and Biotechnology, University of
Science, VNU-HCM, Ho Chi Minh City,
Vietnam
2Laboratory of Molecular Biotechnology,
University of Science, VNU-HCM, Ho
Chi Minh City, Vietnam
Correspondence
Dang Thi Phuong Thao, Department of
Molecular and Environmental
Biotechnology, Faculty of Biology and
Biotechnology, University of Science,
VNU-HCM, Ho Chi Minh City, Vietnam
Laboratory of Molecular Biotechnology,
University of Science, VNU-HCM, Ho
Chi Minh City, Vietnam
Email: dtpthao@hcmus.edu.vn
History
Received: 01-4-2020
Accepted: 18-5-2020
Published: 01-7-2020
DOI : 10.32508/stdjns.v4i3.900
Heterologous expression of human KGF/FGF7 (Keratinocyte
growth factor) in Pichia pastoris
Nguyen PhamAnh Thu1, Nguyen Thi Thuy Trang1, Nguyen Hieu Nghia1, Dang Thi Phuong Thao1,2,*
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
ABSTRACT
Keratinocyte Growth Factor (KGF) is a paracrine-acting and epithelium-specific growth factor pro-
duced by cells of mesenchymal origin, play an important role in promoting proliferation, differenti-
ation, motility of epithelial cells and stimulating regeneration of damaged epithelial tissues. Recent
studies indicated that recombinant KGF is produced in many different expression systems such as
bacteria, insect cells, plant and mammalian cells. However, KGF's yields obtained from these sys-
tems is lowandproduction's cost is high especially inmammalian cells. In this study, the yeast Pichia
pastoriswas chosen as a host for KGF expression through induction of methanol by promoter AOX
on pPICzaA vector system. The results demonstrated that the Pichia pastoris X33:kgf transformants
secreted KGF directly into BMMYmedium after inducing by 0.5%methanol. The recombinant pro-
tein was purified by heparin affinity chromatography with the yield of 1.35 mg/l and the purity of
99.89% showed by SDS-PAGE. In addition, MTT assay showed the purified recombinant KGF had a
proliferation effect on A549 cell line since A549 known as a cell has KGF's receptor.
Key words: Growth factor, KGF, Pichia pastoris, heparin
Cite this article : Thu N P A, Trang N T T, Nghia N H, Thao D T P. Heterologous expression of human
KGF/FGF7 (Keratinocyte growth factor) in Pichia pastoris. Sci. Tech. Dev. J. - Nat. Sci.; 4(3):573-583.
583
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tao_dong_bieu_hien_va_thu_nhan_nhan_to_tang_truong_te_bao_su.pdf