Kết quả bảng 2 cho thấy, trong thành phần hóa học chính
của một số loài thuộc chi Rhodamnia đều có thành phần
α-pinene [20], tuy nhiên thành phần này thấp hơn nhiều so
với loài mà chúng tôi nghiên cứu (α-pinene đạt 90,47%),
chỉ có loài R. dumicola Guymer & Jessup có hàm lượng
α-pinene khá cao (65,3%). Nhìn chung, các loài này có
thành phần hóa học tương đối khác nhau, loài R. acuminata
được đặc trưng bởi Liminene (16,8%) và β-phellandrene
(9,9%); R. argentea đặc trưng bởi Globulol (11,6%) và
Spathulenol (7,4%); R. australis và R. blairiana được đặc
trưng bởi β-pinene và α-pinene; R. costata chủ yếu là các
Eudesmol. Bicyclogermacrene (30,6%) và Globulol (11,5%)
đặc trưng cho loài R. glabrescens.
Trong thành phần hóa học chính của một số loài thuộc chi
Syzygium nhìn chung đều chứa Eugenol và Caryophyllene.
Tuy nhiên, mỗi loài được đặc trưng bởi một vài chất chính
khác nhau, loài S. aromaticum và S. caryophyllatum có
hàm lượng Eugenol cao nhất (74,28-83,58%) [22, 23],
trong khi đó loài S. cordatum có thành phần chất chính
là 6,10,14-trimethylpentadecane-2-one (14,41%) và
2,3-butanediol diacetate (13,13%) [25]. Khi so sánh loài
chúng tôi nghiên cứu (S. zeylanicum) với các loài khác cùng
chi trong bảng 2 cho thấy có sự khác biệt, loài nghiên cứu được
đặc trưng bởi Bicyclogermacrene (25%) và β-caryophyllene
(20,14%), trong đó Bicyclogermacrene không có trong thành
phần chính của các loài đã công bố ở bảng 2.
Tinh dầu của một số loài thuộc họ Sim có hoạt tính sinh
học chống lại các vi khuẩn [6, 11, 26], côn trùng [10], nấm
[7, 11], ức chế protease ngoại bào của Escherichia coli [16]
và có tiềm năng chống bệnh ung thư [8, 9]. Hoạt tính sinh
học của tinh dầu có thể phụ thuộc vào hợp chất chính hoặc
sự kết hợp giữa hợp chất chính và một số thành phần phụ
khác. Các hợp chất có mặt trong tinh dầu của R. dumetorum
và S. zeylanicum cho thấy tiềm năng về hoạt tính sinh học
có thể sử dụng để điều trị một số bệnh cho con người. Ví dụ:
β-caryophyllene và α-humulene là những chất chính trong
tinh dầu của S. zeylanicum tạo ra các enzyme giải độc ức chế
quá trình gây ung thư [8], còn hợp chất Bicyclogermacrene
có tác dụng kháng khuẩn và tiêu diệt một số loại nấm [27,
28]. Trong khi đó, α-pinene và β-pinene là những hợp chất
chính trong tinh dầu của R. dumetorum có hoạt tính diệt
vi khuẩn, chống lại một số loại nấm (có độc tính cao đối
với Candida albicans, giết chết 100% lượng chủng trong
vòng 60 phút), đồng thời có khả năng ức chế các hoạt động
phospholipase và esterase [29].
Kế
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thành phần hóa học tinh dầu loài Tiểu sim (Rhodamnia dumetorum (Poir) Merr & Perry) và Trâm tích lan (Syzygium zeylanicum (L) DC), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1262(11) 11.2020
Khoa học Tự nhiên
Đặt vấn đề
Theo J. Parnell và cs (2002) [1], họ Sim (Myrtaceae)
gồm 14 chi, 204 loài, chủ yếu là cây gỗ hoặc cây bụi, phân
bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới; theo phân loại
của J.M. Christenhusz Maarten và W. Byng James (2016),
họ Sim có 132 chi và 5.950 loài [2]; Thực vật chí Trung
Quốc ghi nhận 13 chi, 122 loài [3]. Tại Việt Nam, theo
Phạm Hoàng Hộ họ Sim gồm 14 chi, 101 loài [4]; còn theo
Nguyễn Tiến Bân (2003), họ này có 15 chi với 107 loài [5].
Trong đó, loài Tiểu sim (Rhodamnia dumetorum) phân bố ở
Quảng Ninh, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà
Nẵng, Nam Bộ; Trâm tích lan (Syzygium zeylanicum) phân bố
ở Kon Tum, TP Hồ Chí Minh.
Hiện nay, tinh dầu của một số loài thuộc họ Sim được sử
dụng rộng rãi trên thế giới trong chăm sóc răng miệng (được
sử dụng như một chất khử trùng và giảm đau có hiệu quả),
chống lại một số vi khuẩn (chống nhiễm trùng) và nấm. Do
có các hoạt tính sinh học khác nhau, một số tinh dầu thuộc
họ Sim được sử dụng trong kem đánh răng, nước súc miệng,
xà phòng và các mặt hàng mỹ phẩm. Thành phần chính của
các loại tinh dầu này chủ yếu thuộc nhóm Monoterpene
và Sesquiterpes như: α-pinene, β-caryophyllene,
α-humulene, humulene epoxide, eugenyl acetate [6-8].
Ngoài ra, tinh dầu của Đinh hương (Syzygium aromaticum)
còn có tiềm năng chống bệnh ung thư [8, 9] và có khả năng
tiêu diệt một số loại côn trùng [10]; tinh dầu của Syzygium
gardneri có hoạt động kháng khuẩn chống lại vi khuẩn
Gram dương và Gram âm cũng như chống lại nấm Candida
albicans và C. glabrata [11].
Ở Việt Nam, nhiều loài trong họ Sim đã được sử dụng
làm thuốc chữa bệnh [12, 13] và cho tinh dầu [14]. Tuy nhiên,
chưa có công trình nào nghiên cứu về tinh dầu của 2 loài Tiểu
sim và Trâm tích lan được công bố. Do vậy, nghiên cứu được
thực hiện nhằm mục đích xác định các thành phần hóa học
trong tinh dầu của loài Tiểu sim và Trâm tích lan, đồng thời
xem xét các hoạt tính sinh học tiềm năng có trong tinh dầu
có thể chống lại một số tác nhân gây bệnh. Những kết quả
này có thể là cơ sở cho việc nghiên cứu sản xuất các chất
có hoạt tính sinh học mới có tác dụng chữa bệnh và có ý
nghĩa thương mại như: thuốc Alpha Pinene từ tinh dầu loài
R. dumetorum có tác dụng kháng viêm, chống nhiễm khuẩn.
Thành phần hóa học tinh dầu loài Tiểu sim
(Rhodamnia dumetorum (Poir.) Merr. & Perry)
và Trâm tích lan (Syzygium zeylanicum (L.) DC.)
Trần Hậu Khanh1, 2*, Phạm Hồng Ban1, Trần Minh Hợi3
1Viện Sư phạm Tự nhiên, Trường Đại học Vinh
2Sở KH&CN Hà Tĩnh
3Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam
Ngày nhận bài 15/5/2020; ngày chuyển phản biện 20/5/2020; ngày nhận phản biện 30/6/2020; ngày chấp nhận đăng 10/7/2020
Tóm tắt:
Trong nghiên cứu này, các tác giả trình bày kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu loài Tiểu sim (Rhodamnia
dumetorum) và Trâm tích lan (Syzygium zeylanicum). Kết quả cho thấy, hàm lượng tinh dầu đạt lần lượt là 0,82 và 0,12%
tương ứng theo nguyên liệu tươi. Tinh dầu được phân tích bằng sắc ký khí (GC) và sắc ký khí khối phổ (GC-MS). Loài
Tiểu sim đã xác định được 16 hợp chất chiếm 99,99% tổng lượng tinh dầu. Thành phần chính của tinh dầu là: α-pinene
(90,47%), β-caryophyllene (3,65%), Limonene (1,41%), β-pinene (1,03%). Loài Trâm tích lan đã xác định được 56 hợp
chất chiếm 98,19% tổng lượng tinh dầu, trong đó Bicyclogermacrene (25%), β-caryophyllene (20,14%), α-pinene (7,66%),
α-humulene (4,25%), δ-cadinene (3,47%), (E,E)-α-farnesene (2,82%), (E)-β-ocimene (2,44%), (E,Z)-farnesol (2,25%),
α-amorphene (2,05%) là các thành phần chính của tinh dầu. Trong tinh dầu của loài Tiểu sim và Trâm tích lan có chứa
một số hợp chất có hoạt tính sinh học có thể chống lại côn trùng, nấm và vi khuẩn. Đây là những dẫn liệu đầu tiên về
hóa học tinh dầu của 2 loài này ở Việt Nam.
Từ khóa: họ Sim, Tiểu sim, Trâm tích lan.
Chỉ số phân loại: 1.4
*Tác giả liên hệ: Email: tranhaukhanh@gmail.com
1362(11) 11.2020
Khoa học Tự nhiên
Cũng có thể kết hợp tinh dầu loài loài R. dumetorum với các
hoạt chất Anethol, Borneol, Camphene, Cineol và Fenchone
để sản xuất thuốc làm tan sỏi tiết niệu. Ngoài ra, tinh dầu
loài S. zeylanicum có thể được sử dụng làm thuốc điều trị
bệnh lo âu, trầm cảm và hỗ trợ điều trị bệnh xoang...
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Vật liệu
Lá loài Tiểu sim và Trâm tích lan được thu hái ở Khu
bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, tỉnh Hà Tĩnh vào tháng 7/2019
(THK 810, THK 818). Tiêu bản của 2 loài này đã được định
loại, so với mẫu chuẩn và lưu giữ ở Bộ môn Thực vật, Viện
Sự phạm Tự nhiên, Trường Đại học Vinh.
Phương pháp
Tách tinh dầu: lá (1 kg) được cắt nhỏ và chưng cất bằng
phương pháp lôi cuốn hơi nước trong thời gian 2 giờ ở áp
suất thường theo Dược điển Việt Nam IV [15].
Phân tích tinh dầu: hoà tan 1,5 mg tinh dầu đã được làm
khô bằng Na
2
SO
4
khan trong 1 ml n-hexan tinh khiết loại
dùng cho sắc ký và phân tích phổ.
GC: được thực hiện trên máy Agilent Technologies
HP 6890N Plus gắn vào detectơ FID của Hãng Agilent
Technologies (Mỹ). Cột sắc ký HP-5MS với chiều dài 30 m,
đường kính trong (ID) 0,25 mm, lớp phim mỏng 0,25 mm
đã được sử dụng. Khí mang sử dụng là H
2
. Nhiệt độ buồng
bơm mẫu (kỹ thuật chương trình nhiệt độ - PTV) 250oC.
Nhiệt độ Detectơ 260oC. Chương trình nhiệt độ buồng điều
nhiệt: 60oC (2 phút), tăng 4oC/phút cho đến 220oC, dừng ở
nhiệt độ này trong 10 phút.
GC-MS: việc phân tích định tính được thực hiện trên
hệ thống thiết bị GC-MS của Hãng Agilent Technologies.
Agilent Technologies HP 6890N ghép nối với Mass
Selective Detector Agilent HP 5973 MSD. Cột HP-5MS có
kích thước 0,25 mm x 30 m x 0,25 mm và HP1 có kích
thước 0,25 mm x 30 m x 0,32 mm. Chương trình nhiệt độ
với điều kiện 60oC/2 phút; tăng nhiệt độ 4oC/1 phút cho đến
220oC, sau đó lại tăng nhiệt độ 20o/phút cho đến 260oC, với
He làm khí mang. Việc xác nhận các cấu tử được thực hiện
bằng cách so sánh các dữ kiện phổ MS của chúng với phổ
chuẩn đã được công bố trước đó [16-19].
Kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu từ lá Tiểu
sim và Trâm tích lan cho thấy, hàm lượng tinh dầu đạt lần
lượt là 0,82 và 0,12% trọng lượng tươi, tinh dầu có màu
vàng nhạt, được phân tích bằng GC và GC-MS (bảng 1).
Chemical composition
of essential oils of Rhodamnia
dumetorum (Poir.) Merr. & Perry
and Syzygium zeylanicum (L.) DC.
Hau Khanh Tran1, 2*, Hong Ban Pham1, Minh Hoi Tran3
1School of Natural Sciences Education, Vinh University
2Ha Tinh Department of Science and Technology
3Institute of Ecology and Biological Resources, VAST
Received 15 May 2020; accepted 10 July 2020
Abstract:
Chemical compositions of essential oils obtained
from the leaf of Rhodamnia dumetorum and Syzygium
zeylanicum were reported, corresponding oil content 0.82
and 0.12%. The analysis was performed by means of Gas
chromatography-flame ionization detector (GC-FID) and
Gas chromatography coupled with mass spectrometry
(GC-MS). Sixteen components were identified in leaf oil
of R. dumetorum, which presented about 99.99% of the
total composition of the oil. The major constituents of
the essential oil were α-pinene (90.47%), β-caryophyllene
(3.65%), Limonene (1.41%), β-pinene (1.03%). Fifty-six
components were identified in leaf oil of S. zeylanicum,
which presented about 98.19% of the total composition
of the oil. The major constituents of the essential oil were
Bicyclogermacrene (25%), β-caryophyllene (20.14%),
α-pinene (7.66%), α-humulene (4.25%), δ-cadinene
(3.47%), (E,E)-α-farnesene (2.82%), (E)-β-ocimene
(2.44%), (E,Z)-farnesol (2.25%), α-amorphene (2.05%).
Essential oils of R. dumetorum and S. zeylanicum may
be active against gram-positive and gram-negative
bacteria as well as against the fungi and insects. For the
first time, the chemical compositions of the essential oils
of R. dumetorum and S. zeylanicum from Vietnam were
reported.
Keywords: Myrtaceae, Rhodamnia dumetorum, Syzygium
zeylanicum.
Classification number: 1.4
1462(11) 11.2020
Khoa học Tự nhiên
Bảng 1. Thành phần hóa học tinh dầu lá loài Tiểu sim và Trâm tích
lan.
TT Hợp chất RI
Tỷ lệ (%)
Tiểu
sim
Trâm
tích lan
1 α-thujene 930 0,37 -
2 α-pinene 939 90,47 7,66
3 β-pinene 984 1,03 0,43
4 Myrcene 991 - 1,13
5 o-cymene 1029 0,12 -
6 Limonene 1033 1,41 0,27
7 (Z)-β-ocimene 1037 - 1,77
8 (E)-β-ocimene 1049 - 2,44
9 Terpinolene 1094 0,26 -
10 Linalool 1101 - 0,54
11 Trans-verbenol 1151 0,13 -
12 4Z-decenal 1195 - 0,12
13 α-terpineol 1197 0,12 -
14 Decenal 1206 - 0,20
15 Octyl acetate 1210 - 0,31
16 Sabinyl acetate 1306 0,17 -
17 δ-elemene 1347 - 0,91
18 α-ylangene 1385 - 0,15
19 α-copaene 1389 - 0,22
20 Cis-β- elemene 1403 - 1,10
21 α-gurjunene 1425 - 0,25
22
(E)-caryophyllene
(=β-caryophyllene)
1437 3,65 20,14
23 β-gurjunene (=Calarene) 1445 - 0,29
24 Aromadendrene 1456 0,42 0,98
25 Selina-5,11-diene 1460 - 0,23
26 Cis-muurola-4(14),5-diene 1466 - 0,22
27 α-humulene 1471 0,29 4,25
28 (E)-epi-9-caryophyllene 1479 - 0,68
29 Trans-cadina-1(6),4-diene 1487 - 0,68
30 γ-muurolene 1490 - 0,38
31 α-amorphene 1494 - 2,05
32 Germacrene D 1497 - 1,52
33 β-selinene 1503 - 0,37
34 Trans-muurola-4(14),5-diene 1510 - 0,83
35 (E,E)-α-farnesene 1511 - 2,82
36 Viridiflorene 1511 0,16 -
37 Bicyclogermacrene 1513 0,39 25,00
38 δ-amorphene 1521 - 1,29
39 γ-cadinene 1529 - 0,92
40 δ-cadinene 1536 - 3,47
41 Zonarene 1540 - 0,30
42 Trans-cadina-1,4-diene 1547 - 0,19
43 α-cadinene 1552 - 0,20
44 Germacrene B 1578 - 0,25
45 Palustrol 1588 - 0,41
46 Spathulenol 1596 0,51 0,92
47 Viridiflorol 1603 1,36
48 Caryophyllene oxide 1603 0,50 -
49 Cubeban-11-ol 1612 - 0,75
50 Rosifoliol 1621 - 0,32
51 Ledol 1624 - 0,23
52 Epi-6-cubenol 1628 - 0,27
53 1,10-di-epi-cubenol 1633 - 0,23
54 5-guaiene-11-ol 1642 - 0,23
55 1-epi-cubenol 1646 - 0,39
56 Epi-α-cadinol (=Tau-cadinol) 1657 - 1,50
57 Epi-α-muurolol (=T-muurolol) 1658 - 0,51
58 α-muurolol (=δ-cadinol) 1662 - 0,41
59 α-cadinol 1671 - 1,57
60 Neo-intermedeol 1675 - 0,19
61 (Z,Z)-farnesol 1723 - 1,77
62 (E,E)-farnesol 1727 - 0,20
63 (E,Z)-farnesol 1749 - 2,25
64 (E,E)-farnesylacetate 1844 - 0,12
Tổng 99,99 98,19
Monoterpene hydrocarbon 93,54 13,7
Monoterpene có chứa oxy 0,42 1,17
Sesquiterpene hydrocarbon 4,91 69,44
Sesquiterpene có chứa oxy 1,01 13,88
Các hợp chất khác 0,12 0,0
RI: Retention Index.
Từ lá Tiểu sim đã xác định được 16 hợp chất chiếm
99,99% tổng lượng tinh dầu. Trong tinh dầu được đặc trưng
bởi các Monoterpene hydrocarbon (93,54%), Sesquiterpene
hydrocarbon (4,91%), Sesquiterpenes có chứa oxy (1,01%),
monoterpene có chứa oxy (0,42%) và các thành phần khác
chiếm tỷ lệ rất thấp (0,12%). Các thành phần chính trong tinh
dầu là α-pinene (90,47%), β-caryophyllene (3,65%), Limonene
(1,41%) và β-pinene (1,03%).
Lá loài Trâm tích lan xác định được 56 hợp chất chiếm
98,19% tổng lượng tinh dầu. Trong đó chủ yếu là các
Sesquiterpene hydrocarbons (69,44%), Oxygenated
Sesquiterpenes (13,88%), Monoterpene hydrocarbons
(13,70%), Oxygenated monoterpenes chiếm tỷ lệ thấp
nhất (1,17%). Tinh dầu được đặc trưng bởi các thành phần
như: Bicyclogermacrene (25%), β-caryophyllene (20,14%),
α-pinene (7,66%), α-humulene (4,25%), δ-cadinene (3,47%),
(E,E)-α-farnesene (2,82%), (E)-β-ocimene (2,44%), (E,Z)-
farnesol (2,25%) và α-amorphene (2,05%).
1562(11) 11.2020
Khoa học Tự nhiên
Bảng 2. Các thành phần hóa học chính trong tinh dầu lá của một
số loài thuộc chi Rhodamnia và Syzygium đã được nghiên cứu.
Tên loài Nguồn gốc
Các thành phần hóa học chính
trong tinh dầu
Tài liệu
tham
khảo
R. acuminata C.T. White Úc
Liminene (16,8%),
β-phellandrene (9,9%),
δ-cadinene, α-pinene (4,9%),
Globulol (4,5%), α-cadinol
(4,3%), δ-cadinene (4,2%)
[20]
R. argentea Benth. Úc
Globulol (11,6%), Spathulenol
(7,4%) Caryophyllene oxide
(7,3%), Liminene (7,0%),
β-caryophyllene (4,9%),
δ-cadinene (4,6%)
[20]
R. australis A.J. Scott Úc
β-pinene (35,3%), α-pinene
(12,2%), Limonene (6,1%),
Guaiol (5,7%), α-eudesmol
(5,1%), γ-eudesmol (4,8%)
[20]
R. blairiana F. Muell. Úc
β-pinene (39,1%), α-pinene
(15,2%), Spathulenol (6,3%),
Globulol (6,1%)
[20]
R. costata A.J. Scott Úc
γ-eudesmol (17,6%),
α-eudesmol (16,3%), β-eudesmol
(15,2%), α-pinene (13,7%),
Viridiflorol (5,8%), Globulol
(4,2%)
[20]
R. dumicola Guymer &
Jessup
Úc
α-pinene (65,3%), allo-
aromadendrene (3,8%),
β-eudesmol (2,9%), Globulol
(2,7%)
[20]
R. glabrescens Guymer
& Jessup
Úc
Bicyclogermacrene (30,6%),
Globulol (11,5%),
Viridiflorol (7,8%), Viridiflorene
(6,7%)
[20]
S. zeylanicum (L.) DC. Ấn Độ
a-Humulene (24,0%),
Caryophyllene oxide (18,9%),
Humulene epoxide II
(17,6%), α-cadinol (12,2%),
β-caryophyllene (11,1%)
[21]
S. aromaticum (L.) Merr
and Perry
Madagascar
Eugenol (80,87-83.58%),
β-caryophyllene (11,65-15,02)
[22]
S. aromaticum (L.) Merr
and Perry
Indonesia
Eugenol (75,04-77,54%),
β-caryophyllene (17,04-19,53%)
[22]
S. caryophyllatum (L.)
Alston
Bangladesh
Eugenol (74,28%), Eucalyptol
(5,78%)
[23]
Syzygium cumini L. Ai Cập
α-pinene (17,53%), α-terpineol
(16,67%), Alloocimene
(13,55%), Caryophyllene
(5,41%)
[24]
Syzygium cordatum
Hochst. ex C.Krauss
Nam Phi
6,10,14-trimethylpentadecane-
2-one (14,41%), 2,3-butanediol
diacetate (13,13%), Ethane,
n-hexadecanoic acid (7,25),
2-chloro-1,1-bis(2-chloroethoxy)
(6,25%), Isopentyloxyethyl
acetate (5,03%)
[25]
Kết quả bảng 2 cho thấy, trong thành phần hóa học chính
của một số loài thuộc chi Rhodamnia đều có thành phần
α-pinene [20], tuy nhiên thành phần này thấp hơn nhiều so
với loài mà chúng tôi nghiên cứu (α-pinene đạt 90,47%),
chỉ có loài R. dumicola Guymer & Jessup có hàm lượng
α-pinene khá cao (65,3%). Nhìn chung, các loài này có
thành phần hóa học tương đối khác nhau, loài R. acuminata
được đặc trưng bởi Liminene (16,8%) và β-phellandrene
(9,9%); R. argentea đặc trưng bởi Globulol (11,6%) và
Spathulenol (7,4%); R. australis và R. blairiana được đặc
trưng bởi β-pinene và α-pinene; R. costata chủ yếu là các
Eudesmol. Bicyclogermacrene (30,6%) và Globulol (11,5%)
đặc trưng cho loài R. glabrescens.
Trong thành phần hóa học chính của một số loài thuộc chi
Syzygium nhìn chung đều chứa Eugenol và Caryophyllene.
Tuy nhiên, mỗi loài được đặc trưng bởi một vài chất chính
khác nhau, loài S. aromaticum và S. caryophyllatum có
hàm lượng Eugenol cao nhất (74,28-83,58%) [22, 23],
trong khi đó loài S. cordatum có thành phần chất chính
là 6,10,14-trimethylpentadecane-2-one (14,41%) và
2,3-butanediol diacetate (13,13%) [25]. Khi so sánh loài
chúng tôi nghiên cứu (S. zeylanicum) với các loài khác cùng
chi trong bảng 2 cho thấy có sự khác biệt, loài nghiên cứu được
đặc trưng bởi Bicyclogermacrene (25%) và β-caryophyllene
(20,14%), trong đó Bicyclogermacrene không có trong thành
phần chính của các loài đã công bố ở bảng 2.
Tinh dầu của một số loài thuộc họ Sim có hoạt tính sinh
học chống lại các vi khuẩn [6, 11, 26], côn trùng [10], nấm
[7, 11], ức chế protease ngoại bào của Escherichia coli [16]
và có tiềm năng chống bệnh ung thư [8, 9]. Hoạt tính sinh
học của tinh dầu có thể phụ thuộc vào hợp chất chính hoặc
sự kết hợp giữa hợp chất chính và một số thành phần phụ
khác. Các hợp chất có mặt trong tinh dầu của R. dumetorum
và S. zeylanicum cho thấy tiềm năng về hoạt tính sinh học
có thể sử dụng để điều trị một số bệnh cho con người. Ví dụ:
β-caryophyllene và α-humulene là những chất chính trong
tinh dầu của S. zeylanicum tạo ra các enzyme giải độc ức chế
quá trình gây ung thư [8], còn hợp chất Bicyclogermacrene
có tác dụng kháng khuẩn và tiêu diệt một số loại nấm [27,
28]. Trong khi đó, α-pinene và β-pinene là những hợp chất
chính trong tinh dầu của R. dumetorum có hoạt tính diệt
vi khuẩn, chống lại một số loại nấm (có độc tính cao đối
với Candida albicans, giết chết 100% lượng chủng trong
vòng 60 phút), đồng thời có khả năng ức chế các hoạt động
phospholipase và esterase [29].
Kết luận
Kết quả nghiên cứu đã cung cấp thông tin về thành
phần hóa học trong tinh dầu từ lá của loài Tiểu sim và Trâm
tích lan ở Khu bảo tồn thiên nhiên Kẽ Gỗ, tỉnh Hà Tĩnh. Các
thành phần hóa học trong tinh dầu lá của R. tomentosa và S.
1662(11) 11.2020
Khoa học Tự nhiên
zeylanicum chứa một số hợp chất chính có khả năng tiêu diệt vi
khuẩn, chống lại một số loại nấm và có tiềm năng chống bệnh
ung thư. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự khác
nhau đáng kể về một số thành phần có hàm lượng cao như:
α-pinene, β-pinene, Eugenol, β-caryophyllene, α-humulene,
Bicyclogermacrene, Caryophyllene oxide, Limonene ở các
loài khác nhau thuộc cùng một chi. Đây là những dẫn liệu
đầu tiên về thành phần hóa học trong tinh dầu của 2 loài
này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] J. Parnell, et al. (2002), Flora of Thailand, The Forest Herbarium,
Royal Forest Department, Bangkok, pp.778-914.
[2] J.M. Christenhusz Maarten, W. Byng James (2016), “The number
of known plant species in the world and its annual increase”, Phytotaxa,
261(3), pp.201-217.
[3] J. Chen, et al. (2007), Flora of China, Science Press, Beijing and
Missouri Botanical Garden Press, St Louis, Missouri, pp.321-359.
[4] Phạm Hoàng Hộ (2003), Cây cỏ Việt Nam, 2, Nhà xuất bản Trẻ.
[5] Nguyễn Tiến Bân (2003), Danh lục các loài thực vật Việt Nam,
Tập 2, Nhà xuất bản Nông nghiệp.
[6] A.H. Webb, F.W. Tanner (1944), “Effect of spices and flavouring
materials on growth of yeast”, Food Resis., 10, pp.273-282.
[7] L.B. Bullerman, F.Y. Lieu, S.A. Seier (1977), “Inhibition of
growth and aflatoxin production by cinnamon and clove oils, cinnamic
andehyde and eugenol”, J. Food Sci., 42, pp.1107-1109.
[8] G.Q. Zheng, et al. (1992), “Sesquiterpenes from clove (Eugenia
caryophyllata) as potential anticarcinogenic agents”, J. Nat. Prod., 55,
pp.999-1003.
[9] M. Islamuddin, D. Sahal, F. Afrin (2014), “Apoptosis-like death
in Leishmania donovani promastigotes induced by eugenol-rich oil of
Syzygium aromaticum”, J. Med. Microbial., 63, pp.74-85.
[10] M.A. Sukari, et al. (1992), “Toxicity studies of plant extracts on
insects and fish”, Pertanika, 14(1), pp.41-44.
[11] G. Raj, et al. (2008), “Chemical composition and antimicrobial
activity of the leaf oil of Syzygium gardneri Thw”, J. Essent. Oil Res., 20,
pp.72-74.
[12] Võ Văn Chi (2018), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Tập 2, Nhà
xuất bản Y học.
[13] Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà
xuất bản Y học.
[14] Lã Đình Mỡi, Lưu Đàm Cư, Trần Minh Hợi, Trần Huy Thái,
Ninh Khắc Bản (2000), Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam, Tập
1, Nhà xuất bản Nông nghiệp.
[15] Bộ Y tế (2010), Dược điển Việt Nam IV, Nhà xuất bản Y học.
[16] R.P. Adams (2001), Identification of essential oil components by
gas chromatography/quadrupole mass spectrometry, Allured Publishing
Corp, Carol Stream, IL.
[17] S.R. Heller, G.W.A. Milne (1983), EPA/NIH Mass Spectral Data
Base, U.S. Government Printing Office, Washington DC.
[18] E. Stenhagen, S. Abrahamsson, F.W. McLafferty (1974), Registry
of Mass Spectral Data, Wiley.
[19] National Institute of Science and Technology (2011), Chemistry
web book, Data from NIST Standard Reference Database 69, USA.
[20] Joseph J. Brophy, Robert J. Goldsack, Paul I. Forster (1997), “The
leaf essential oils of the Australian species of Rhodamnia (Myrtaceae)”,
Flavour and Fragrance Journal, 12, pp.345-354.
[21] B.R. Koranappallil, A.A.P. Anu, G.V. Tharayil (2015), “Leaf
essential oil composition of six Syzygium species from the Western Ghats,
South India”, Records of Natural Products, 9(4), pp.592-596.
[22] G. Razafimamonjison, et al. (2014), “Bud, leaf and stem essential
oil composition of Syzygium aromaticum from Madagascar, Indonesia
and Zanzibar”, International Journal of Basic and Applied Sciences, 3(3),
pp.224-233.
[23] M.N.I. Bhuiyan, et al. (2010), “Constituents of the essential oil
from leaves and buds of clove (Syzigium caryophyllatum (L.) Alston)”,
African J. Plant Sc., 4, pp.451-454.
[24] H.O. Elansary, et al. (2012), “Chemical composition, antibacterial
and antioxidant activities of leaves essential oils from Syzygium cumini L.,
Cupressus sempervirens L. and Lantana camara L. from Egypt”, J. Agri.
Sc., 4(10), pp.144-152.
[25] R.K. Chalannavar, H. Baijnath, B. Odhav (2011), “Chemical
constituents of the essential oil from Syzygium cordatum (Myrtaceae)”,
Afr. J. Biotechnol., 10(14), pp.2741-2745.
[26] L.J. Reddy, B. Jose (2011), “Chemical composition and
antibacterial activity of the volatile oil from the leaf of Syzygium
samarangense (Blume) Merr. & L.M. Perry”, Asian J. Biochem.
Pharmaceutical Res., 1, pp.263-269.
[27] N. Tabanca, et al. (2001), “Composition and antimicrobial
activity of the essential oil of Origanum × dolichosiphon P.H. Davis”,
Chemistry of Natural Compounds, 37, pp.238-241.
[28] A. Shafagha, M. Shafaghatlonbar (2011), “Antimicrobial activity
and chemical constituents of the essential oils from flower, leaf and stem
of Gypsophila bicolor from Iran”, Nat. Prod. Commun., 6(2), pp.275-276.
[29] Ana Cristina da Silva Rivas, et al. (2012), “Biological activities
of α-Pinene and β-pinene enantiomers”, Molecules Journal, 17(6),
pp.6305-6316.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
thanh_phan_hoa_hoc_tinh_dau_loai_tieu_sim_rhodamnia_dumetoru.pdf