Thành phần loài khu hệ cá vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi

Chỉ số giống nhau và độ giàu có loài giữa các khu hệ cá. Dựa vào chỉ số giống nhau về thành phần loài của 7 khu hệ cá cho thấy, vùng ven biển cửa sông Trà Vinh và Bến Tre có mức tương đồng cao nhất 80%; tiếp đến là Quảng Ngãi và Nha Phu-Bình Cang 39%; Quảng Ngãi và Quảng Nam 42%; Quảng Nam và Nha PhuBình Cang 41%; Thái Bình và Bến Tre 37%; Quảng Nam và Sơn Trà 38%; Quảng Ngãi và Sơn Trà 36%. Phân tích nhóm cho thấy thành phần loài thuộc 7 khu hệ cá hình thành nên 2 nhóm: Nhóm 1: Trà Vinh, Bến Tre và Thái Bình; nhóm 2: Quảng Ngãi, Quảng Nam, Nha Phu-Bình Cang và Sơn Trà (hình 2). Phân tích độ giàu có loài của 7 khu hệ cá cho thấy, chỉ số độ giàu có về loài ở vùng biển ven bờ Quảng Ngãi chỉ đạt mức trung bình 34,2; Trà Vinh là cao nhất 38,2; tiếp đến là Thái Bình 38,0; Quảng Nam (37,9); Nha Phu-Bình Cang (35,1); Sơn Trà (30,9); Bến Tre (29,4). Điều này cho thấy, mặc dù độ giàu có về loài vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi chỉ ở mức trung bình, tuy nhiên nếu so sánh độ giàu có theo bậc bộ và họ thì khu hệ cá vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi khá đa dạng và phong phú so với 7 khu hệ cá nêu trên (bảng 3, hình 3).

pdf12 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thành phần loài khu hệ cá vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
166 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 2; 2018: 166-177 DOI: 10.15625/1859-3097/18/2/8562 THÀNH PHẦN LOÀI KHU HỆ CÁ VÙNG BIỂN VEN BỜ TỈNH QUẢNG NGÃI Lê Thị Thu Thảo*, Võ Văn Quang, Nguyễn Phi Uy Vũ Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam * E-mail: thaolehdh@gmail.com Ngày nhận bài: 25-9-2016 / Ngày chấp nhận đăng: 13-12-2016 TÓM TẮT: Thực hiện 3 chuyến khảo sát thu mẫu thành phần loài cá vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi trong năm 2014 tại 7 điểm thu mẫu. Kết quả đã ghi nhận được 178 loài thuộc 13 bộ, 68 họ và 125 giống. Phân tích cấu trúc quần xã khu hệ cá cho thấy: Bộ cá vược Perciformes là bộ cá phổ biến nhất chiếm 71,9%; tiếp đến là bộ cá nóc 8,4%; bộ cá bơn 5,6%; các bộ còn lại mỗi bộ có số loài, giống và họ rất ít. Các họ chiếm ưu thế về loài: Họ cá mú (Serranidae) 14 loài chiếm 7,9% tổng số loài; cá khế (Carangidae) 12 loài (6,7%); cá hồng (Lutjanidae), cá bống trắng (Gobiidae) 9 loài (5,1%); cá thu ngừ (Scombridae) 7 loài (3,9%); cá bơn sọc (Solidae) 6 loài (3,4%); cá sạo (Haemulidae), cá phèn (Mullidae), cá nóc (Tetraodontidae) 5 loài (2,8%);... So sánh với 6 khu hệ cá cửa sông vùng biển ven bờ của Việt Nam (Thái Bình, Sơn Trà, Quảng Nam, Nha Phu-Bình Cang, Bến Tre và Trà Vinh) ghi nhận, vùng ven biển cửa sông Trà Vinh và Bến Tre có mức tương đồng cao nhất 80%; tiếp đến là Quảng Ngãi và Nha Phu-Bình Cang 39%; Quảng Ngãi và Quảng Nam 42%; Quảng Nam và Nha Phu-Bình Cang 41%; Thái Bình và Bến Tre 37%; Quảng Nam và Sơn Trà 38%; Quảng Ngãi và Sơn Trà 36%. Phân tích nhóm cho thấy thành phần loài thuộc 7 khu hệ cá hình thành nên 2 nhóm: Nhóm 1: Trà Vinh, Bến Tre và Thái Bình; nhóm 2: Quảng Ngãi, Quảng Nam, Nha Phu-Bình Cang và Sơn Trà. Độ giàu có về loài của Quảng Ngãi đạt (34,2), Trà Vinh cao nhất (38,2), tiếp đến Thái Bình (38,0), Quảng Nam (37,9), Nha Phu-Bình Cang (35,1), Sơn Trà (30,9), Bến Tre (29,4). Tính đa đạng về thành phần loài cá theo các bậc taxon trên từng vùng thể hiện tính đặc trưng riêng cho từng khu hệ. Từ khóa: Khu hệ cá, danh sách loài, vùng biển ven bờ, tỉnh Quảng Ngãi. MỞ ĐẦU Quảng Ngãi trải dài từ 14°32’ đến 15°25’ vĩ độ Bắc và 108°06’ đến 109°04’ kinh độ Đông, với chiều dài bờ biển 144 km, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Bình Định, phía tây giáp tỉnh Kon Tum, phía đông giáp Biển Đông. Theo tính toán của các nhà khoa học, khoảng 80% sản lượng thủy sản đánh bắt hàng năm của Việt Nam là vùng ven bờ và thềm lục địa [1]. Vì vậy, các vùng biển ven bờ (theo Nghị định 33/2010/NĐ-CP) có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững, duy trì và phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tính đa dạng sinh học làm phong phú môi trường và cuộc sống của cộng đồng dân cư ven biển và góp phần phát triển kinh tế xã hội trên toàn vùng. Trong những năm qua, do phát triển nuôi trồng thủy sản ồ ạt, nhất là nuôi biển, việc khai thác cá tạp làm thức ăn tươi của các nghề đánh bắt trở nên phổ biến, nên nguồn lợi cá vùng biển ven bờ bị suy giảm nghiêm trọng. Bên cạnh đó, những tác động khác của con người ảnh hưởng đến môi trường vùng biển ven bờ nên đã làm cho nguồn lợi suy giảm đáng kể và gây nên những ảnh hưởng không tốt đến đời sống của ngư dân vùng biển ven bờ nơi đây. Thành phần loài khu hệ cá vùng biển ven bờ 167 Bài báo cung cấp các dẫn liệu về tính đa dạng sinh học thành phần loài cá vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi, đưa ra một số nhận định về sự đa dạng loài theo các bậc taxon, các chỉ số sinh học giữa các khu hệ cá nhằm bổ sung thêm những hiểu biết về thành phần loài cá thuộc các khu hệ cá vùng biển ven bờ ở Việt Nam. TÀI LIỆU, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Điều tra và thu thập mẫu vật Hình 1. Sơ đồ vị trí thu mẫu thành phần loài cá vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi Tiến hành 3 chuyến thực địa thu mẫu vào tháng 5, 6 và 8 năm 2014 tại các vùng biển ven bờ thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Đây là thời điểm đánh bắt chính trong năm của các nghề khai thác thủy sản vùng biển ven bờ. Địa điểm thu mẫu: Tại các điểm tập kết cá, bến cá, bãi lên cá, cảng cá,... thuộc các xã phường vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi như: Xã Bình Đông, Tịnh Hòa, Nghĩa Phú, Phổ Quang và xã Phổ Thạnh; cảng cá Sa Kỳ (hình 1). Mẫu vật được thu trực tiếp từ sản phẩm đánh bắt vừa mang vào bến của các ghe, thuyền hoạt động khai thác thủy sản vùng biển ven bờ, gồm các nghề: Lồng (lờ, rập), te, giã cào, lưới cước (lưới ba màng), câu và lặn. Đây là các phương tiện đánh bắt có công suất nhỏ, thời gian hoạt động trên biển ngắn và đi về trong ngày (trước khi thu mẫu có tham vấn về ngư trường đánh bắt thuộc vùng biển ven bờ Quảng Ngãi). Mẫu vật thu được chụp ảnh ngay tại hiện trường, có gắn nhãn ghi rõ thông tin mẫu vật (nơi thu, ngày thu,...). Số lượng mẫu vật thu thập: 448 mẫu vật. Nguồn tài liệu. Kế thừa nguồn tài liệu của các tác giả công bố về thành phần loài thuộc 6 khu hệ cá từ năm 1994 đến năm 2013 (bảng 1). Bảng 1. Thống kê số lượng loài cá thuộc 8 khu hệ cá từ 1994 - 2010 STT Khu hệ cá Số lượng loài ghi nhận Nguồn tham khảo 1 Sông Thái Bình 233 [2] 2 Vùng biển nam bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng 164 [3] 3 Quảng Nam 128 [4] 4 Nha Phu-Bình Cang, tỉnh Khánh Hòa 190 [5] 5 Vùng ven biển cửa sông tỉnh Bến Tre 149 [6] 6 Vùng ven biển cửa sông tỉnh Trà Vinh 212 [7] Phƣơng pháp định loại. Việc định loại mẫu vật theo các tài liệu: [8-32]. Sắp xếp hệ thống phân loại bậc bộ, họ theo [33]; bậc giống và loài theo thứ tự của bảng chữ cái. Đối chiếu, xác định tên tiếng Việt theo các tài liệu: [20, 21, 24, 25, 29, 31, 32, 34-38]. Lê Thị Thu Thảo, Võ Văn Quang, 168 Cập nhật tên khoa học các loài cá trên cở sở dữ liệu [39-41]. Các chỉ số đa dạng sinh học. Phân tích cấu trúc của các khu hệ cá thông qua các chỉ số đa dạng bằng phần mềm Primer 6.0 (Clarke & Gorley (2006)): Chỉ số giống nhau (Similarity index) theo công thức của Bray-Curtis (1957): 1 1 100 1 p ij iki jk p ij iki Y Y S Y Y                 Trong đó: Yij và Yik là số lượng loài thứ i trong trạm (khu hệ cá) thứ j và k, (số lượng loài p = 1, 2, 3,..., i; số lượng trạm (khu hệ cá) n = 1, 2, 3,..., j). Độ giàu có loài (Margalef’s index) (Margalef (1958)):  1 log e S d N   Trong đó: S là số lượng loài, N là tổng số loài. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Thành phần loài, cấu trúc và tính đa dạng thành phần loài khu hệ cá vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi. Phân tích toàn bộ 448 mẫu vật thu được của các đợt khảo sát, đã xác định thành phần loài cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi bao gồm: 178 loài thuộc 13 bộ, 68 họ và 125 giống (phụ lục 1). Trong đó, đa dạng nhất là bộ cá vược Perciformes với 128 loài chiếm 71,9% tổng số loài, 42 họ chiếm 61,8% tổng số họ và 83 giống chiếm 66,4%; tiếp đến là bộ cá nóc: 15 loài (8,4%), 6 họ (8,8%), 10 giống (8,0%); bộ cá bơn: 10 loài (5,6%), 3 họ (4,4%), 8 giống (6,4%); các bộ còn lại mỗi bộ có số loài, giống và họ rất ít (bảng 2). Bảng 2. Cấu trúc theo các bậc taxon cá vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi STT Bộ Họ Giống Loài n % n % n % 1 Cá chình Anguilliformes 2 2,9 2 1,6 2 1,1 2 Cá trích Clupeiformes 3 4,4 5 4,0 6 3,4 3 Cá nheo Siluriformes 1 1,5 1 0,8 1 0,6 4 Cá mối Aulopiformes 1 1,5 3 2,4 3 1,7 5 Cá đối Mugiliformes 1 1,5 1 0,8 1 0,6 6 Cá suốt Atheriniformes 1 1,5 1 0,8 1 0,6 7 Cá nhói Beloniformes 2 2,9 4 3,2 4 2,2 8 Cá tráp mắt vàng Beryciformes 2 2,9 3 2,4 3 1,7 9 Cá gai Gasterosteiformes 1 1,5 1 0,8 1 0,6 10 Cá mù làn Scorpaeniformes 3 4,4 3 2,4 3 1,7 11 Cá vược Perciformes 42 61,8 83 66,4 128 71,9 12 Cá bơn Pleuronectiformes 3 4,4 8 6,4 10 5,6 13 Cá nóc Tetraodontiformes 6 8,8 10 8,0 15 8,4 Tổng 68 100,0 125 100,0 178 100,0 Bảng 2 cho thấy, cấu trúc và tính đa dạng thành phần loài khu hệ cá ở đây như sau: Tính đa dạng về bậc bộ: Trong tổng số 13 bộ cá đã xác định, bộ cá vược Perciformes chiếm ưu thế cả số lượng về họ, giống và loài: với 42 họ chiếm 61,8% tổng số họ; 83 giống chiếm 66,4% tổng số giống và 128 loài chiếm 71,9% tổng số loài (bảng 2). Tính đa dạng về bậc họ: Trong tổng số 68 họ, họ cá khế (Carangidae), cá bống (Gobiidae) có số lượng giống nhiều nhất, mỗi họ 9 giống (7,2%); tiếp đến là họ cá thu ngừ (Scombridae) 6 giống (4,8%); cá bơn sọc (Soleidae) 5 giống (4,0%); cá mú (Serranidae), cá sạo (Haemulidae), cá bàng chài (Labridae) mỗi họ 4 giống (3,2%); cá nhói (Belonidae), cá hồng (Lutjanidae), cá tráp (Sparidae) mỗi họ 3 giống (2,4%); các họ còn lại mỗi họ chỉ 1 - 2 giống (phụ lục 1). Tính đa dạng ở bậc giống: Trong tổng số 125 giống, giống Epinephelus có 10 loài; giống Lutjanus 7 loài; giống Decapterus, Parupeneus, Thành phần loài khu hệ cá vùng biển ven bờ 169 Chaetodon, Siganus mỗi giống 4 loài; giống Ambassis, Lethrinus, Lagocephalus mỗi giống 3 loài; các giống còn lại mỗi giống 1 - 2 loài (phụ lục 1). Tính đa dạng về bậc loài: Trong số 178 loài, đa dạng nhất là bộ cá vược với 128 loài chiếm 71,9%; tiếp theo là bộ cá nóc: 15 loài (8,4%); bộ cá bơn: 10 loài (5,6%); các bộ còn lại mỗi bộ có số loài, giống và họ rất ít (bảng 2). Chỉ số giống nhau và độ giàu có loài giữa các khu hệ cá. Dựa vào chỉ số giống nhau về thành phần loài của 7 khu hệ cá cho thấy, vùng ven biển cửa sông Trà Vinh và Bến Tre có mức tương đồng cao nhất 80%; tiếp đến là Quảng Ngãi và Nha Phu-Bình Cang 39%; Quảng Ngãi và Quảng Nam 42%; Quảng Nam và Nha Phu- Bình Cang 41%; Thái Bình và Bến Tre 37%; Quảng Nam và Sơn Trà 38%; Quảng Ngãi và Sơn Trà 36%. Phân tích nhóm cho thấy thành phần loài thuộc 7 khu hệ cá hình thành nên 2 nhóm: Nhóm 1: Trà Vinh, Bến Tre và Thái Bình; nhóm 2: Quảng Ngãi, Quảng Nam, Nha Phu-Bình Cang và Sơn Trà (hình 2). Phân tích độ giàu có loài của 7 khu hệ cá cho thấy, chỉ số độ giàu có về loài ở vùng biển ven bờ Quảng Ngãi chỉ đạt mức trung bình 34,2; Trà Vinh là cao nhất 38,2; tiếp đến là Thái Bình 38,0; Quảng Nam (37,9); Nha Phu-Bình Cang (35,1); Sơn Trà (30,9); Bến Tre (29,4). Điều này cho thấy, mặc dù độ giàu có về loài vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi chỉ ở mức trung bình, tuy nhiên nếu so sánh độ giàu có theo bậc bộ và họ thì khu hệ cá vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi khá đa dạng và phong phú so với 7 khu hệ cá nêu trên (bảng 3, hình 3). T h á i B ìn h B ế n T re T rà V in h S ơ n T rà N h a P h u -B ìn h C a n g Q u ả n g N a m Q u ả n g N g ã i Khu hệ cá 100 80 60 40 20 C h ỉ s ố g iố n g n h a u ( % ) Hình 2. Chỉ số giống nhau (%) của 7 khu hệ cá Bảng 3. Độ giàu có loài theo bậc bộ và họ của 7 khu hệ cá STT Khu hệ cá Độ giàu có loài Bậc bộ Bậc họ 1 Sông Thái Bình 4,4 14,6 2 Sơn Trà 3,9 14,3 3 Quảng Nam 4,5 15,7 4 Quảng Ngãi 3,4 14,5 5 Nha Phu-Bình Cang 3,3 13,5 6 Bến Tre 3,4 11,8 7 Trà Vinh 4,0 12,8 a T h á i B ìn h B ế n T re T rà V in h Q u ả n g N a m Q u ả n g N g ã i S ơ n T rà N h a P h u -B ìn h C a n g 100 95 90 85 80 75 C h ỉ s ố g iố n g n h a u ( % ) b Q u ả n g N g ã i B ế n T re T rà V in h N h a P h u -B ìn h C a n g T h á i B ìn h S ơ n T rà Q u ả n g N a m 100 90 80 70 60 Hình 3. Chỉ số giống nhau về bậc bộ (a), bậc họ (b) của 7 khu hệ cá KẾT LUẬN Đã ghi nhận được 178 loài cá thuộc 13 bộ, 68 họ và 125 giống ở vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi. Trong đó, bộ cá vược phổ biến nhất chiếm 71,9%; bộ cá nóc 8,4%; bộ cá bơn 5,6%; các bộ còn lại mỗi bộ có số loài, giống và họ rất ít. Các họ chiếm ưu thế về loài: Họ cá mú (Serranidae) 14 loài chiếm 7,9% tổng số loài; cá khế (Carangidae) 12 loài (6,7%); cá hồng (Lutjanidae), cá bống trắng (Gobiidae) 9 loài (5,1%); cá thu ngừ (Scombridae) 7 loài (3,9%); cá bơn sọc 6 loài (3,4%); cá sạo Lê Thị Thu Thảo, Võ Văn Quang, 170 (Haemulidae), cá phèn (Mullidae), cá nóc (Tetraodontidae) 5 loài (2,8%);... So với 6 khu hệ cá khác ở Việt Nam thì thành phần loài cá vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi cũng khá đa dạng, không chỉ đa dạng về bộ (gồm 13 bộ) mà còn đa dạng về họ (68 họ). TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014. Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Nxb. Văn hóa Thông tin. Tr. 26. 2. Vũ Trung Tạng, 1994. Các hệ sinh thái cửa sông Việt Nam. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. 271 tr. 3. Đinh Thị Phương Anh, Phan Thị Hoa, 2010. Thành phần loài cá ở vùng biển nam bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 36(1), 56-64. 4. Lê Thị Thu Thảo, Nguyễn Phi Uy Vũ, 2009. Thành phần loài cá vùng đất ngập nước ven biển tỉnh Quảng Nam. Báo cáo Khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ 3. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội. Tr. 333-341. 5. Võ văn Quang, Lê Thị Thu Thảo, Nguyễn Phi Uy Vũ, Trần Công Thịnh, 2013. Đặc điểm quần xã và hiện trạng nguồn lợi cá vùng Bình Cang và Nha Phu, tỉnh Khánh Hòa. Kỷ yếu Hội nghị Quốc tế Biển Động 2012. Tập 1. Nxb. Khoa học tự nhiên và Công nghệ. Tr. 294-304. 6. Lê Thị Thu Thảo, Nguyễn Văn Lục, 2001. Góp phẩn tìm hiểu thành phần loài cá vùng ven biển-cửa sông tỉnh Bến Tre. Tuyển tập Nghiên cứu biển, Tập XI. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. Tr. 201-210. 7. Nguyễn Văn Lục, Nguyễn Phi Uy Vũ, 2003. Thành phần loài cá vùng ven biển- cửa sông tỉnh Trà Vinh. Tuyển tập Nghiên cứu biển, Tập XIII. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. Tr. 197-206. 8. Allen, G. R., 1985. Snappers of the world: an annotated and illustrated catalogue of lutjanid species known to date. FAO Fisheries Synopsis. Vol. 6, No. 125, 208 pp. 9. Allen, G., Swainston, R., and Ruse, J., 1997. Marine fishes of the Great Barrier Reef and South-East Asia-a field guide for anglers and divers. Western Australia Museum, Perth, 292 pp. 10. Gerald, A., Roger, S., Paul, H., and Ned De, L., 2003. Reef Fish Identification, Tropical Pacific. 457 pp. 11. Randall, J. E., Allen, G. R., and Steene, R. C., 1990. Fishes of the Great Barrier Reef and Coral Sea. 506 pp. 12. Heemstra, P. C., and Randall, J. E., 1993. FAO species catalogue. v. 16: Groupers of the world (Family Serranidae, Subfamily Epinephelinae). An annotated and illustrated catalogue of the grouper, Rockcod, Hind, Coral grouper and Lyretail species known to date. FAO Fisheries Synopsis (FAO). 13. Shen, S. C. (ed.), 1993. Fishes of Taiwan. Department of Zoology, National Taiwan University, Taipei. 960 pp. 14. Axelrod, H. R., Burgess, W. E., Emmens, C. W., Pronek, N., Wallis, J. G., and Hunziker, R., 1997. Atlas of aquarium freshwater fishes. TFH Publications, Inc., Germany. 1023 pp. 15. Burgess W. E., Axelrod H. R. and Hunziker R., 2000. Atlas of Marine Aquarium Fishes. Published by T.F.H. Publications, INC. Third edition. 784 pp. 16. Carpenter, K. E., and Niem, V. H., 1999. FAO species identification guide for fishery purposes: The living marine resources of the western Central Pacific. Vol. 3. Batoid fishes, chimaeras and bony fishes, Pt. 1 (Elopidae to Linophrynidae). Pp. 1397-2068. 17. Carpenter, K. E., and Niem, V. H., 1999. FAO species identification guide for fishery purposes: The living marine resources of the western Central Pacific. Vol. 4. Bony fishes part 2 (Mugilidae to Carangidae). Pp. 2069-2790. 18. Carpenter, K. E., and Niem, V. H., 2001. FAO species identification guide for fishery purposes. The living marine resources of the Western Central Pacific. Volume 5. Bony fishes part 3 (Menidae to Pomacentridae). Pp. 2791-3380. Thành phần loài khu hệ cá vùng biển ven bờ 171 19. Carpenter, K. E., and Niem, V. H., 2001. FAO species identification guide for fishery purposes. The living marine resources of the Western Central Pacific. Volume 6. Bony fishes part 4 (Labridae to Latimeriidae), estuarine crocodiles, sea turtles, sea snakes and marine mammals. FAO Library. Pp. 3381-4218. 20. Nguyễn Nhật Thi, 2000. Động vật chí Việt Nam. Tập 2. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. 184 tr. 21. Nguyễn Nhật Thi, 2008. Cá biển Việt Nam. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. 244 tr. 22. Matsuura, K., Peristiwady, T., Sumadhiharga, O. K., and Tsukamoto, K., 2000. Field Guide to Lombok Island: Identification Guide to Marine Organisms in Seagrass Beds of Lombok Island, Indonesia. Fishes. Ocean Research Institute, University of Tokyo. 23. Kuiter, R. H., and Tonozuka, T., 2001. Pictorial guide to Indonesian reef fishes. Zoonetics. 865 pp. 24. Nguyễn Hữu Phụng, 2001. Động vật chí Việt Nam. Tập 10. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. 330 tr. 25. Nguyễn Khắc Hường, 2001. Động vật chí Việt Nam. Tập 12. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. 324 tr. 26. Shimada, K., and Nakabo, T., 2002. Fishes of Japan with pictorial keys to the species. 27. Kimura, S., and Matsuura, K., (Eds.), 2003. Fishes of Bitung: Northern Tip of Sulawesi, Indonesia. Ocean Research Institute, University of Tokyo. 28. Matsuura, K., and Kimura, S. (Eds.), 2005. Fishes of Libong Island, west coast of southern Thailand. Japan Society for the Promotion of Science, and, Ocean Research Institute, University of Tokyo. 29. Đỗ Thị Như Nhung, 2007. Động vật chí Việt Nam. Tập 17. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. 391 tr. 30. Kuiter, R. H., and Debelius, H., 2007. World atlas of marine fishes. Ikan- Unterwasserarchiv. 31. Nguyễn Khắc Hường, Trương Sĩ Kỳ, 2007. Động vật chí Việt Nam. Tập 20. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. 327 tr. 32. Nguyễn Văn Lục (chủ biên), Lê Thị Thu Thảo, Nguyễn Phi Uy Vũ, 2007. Động vật chí Việt Nam. Tập 19. Cá biển (Bộ cá vược) Perciformes, họ cá bướm Chaetodontidae và họ cá bàng chài Labridae. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. Tr. 116-234. 33. Nelson, J. S., 2006. Fishes of the world. Fourth edition. 601 pp. 34. Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Nhật Thi, 1994. Danh mục Cá biển Việt Nam. Tập II. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. 270 tr. 35. Nguyễn Hữu Phụng, Trần Hoài Lan, 1994. Danh mục Cá biển Việt Nam. Tập I. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. 116 tr. 36. Nguyễn Hữu Phụng, Lê Trọng Phấn, Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Phi Đính, Đỗ Thị Như Nhung, Nguyễn Văn Lục, 1995. Danh mục Cá biển Việt Nam. Tập III. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. 608 tr. 37. Nguyễn Hữu Phụng (chủ biên), Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Phi Đính, Đỗ Thị Như Nhung, 1997. Danh mục Cá biển Việt Nam. Tập IV. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. 424 tr. 38. Nguyễn Hữu Phụng, 1999. Danh mục Cá biển Việt Nam. Tập V. Nxb. Nông Nghiệp. 308 tr. 39. Froese, R., and Pauly, D., 2016. FishBase. World Wide Web electronic publication. www.fishbase.org, version (10/2015). 40. WoRMS Editorial Board, 2016. World Register of Marine Species. Available from at VLIZ. Accessed 2016-07-20. 41. Eschmeyer, W. N., (ed.), 1998. Catalog of fishes. Special Publication, California Academy of Sciences, San Francisco. 3 vols. 2905 pp. Lê Thị Thu Thảo, Võ Văn Quang, 172 SPECIES COMPOSITION OF FISH FAUNA IN THE COASTAL WATERS OF QUANG NGAI PROVINCE Le Thi Thu Thao, Vo Van Quang, Nguyen Phi Uy Vu Institute of Oceanography, VAST ABSTRACT: Three surveys were carried out in May, August and December 2014 at 7 sampling location to determine species composition of fish fauna in the coastal waters of Quang Ngai province (the Central Vietnam). A total number of 178 species of fishes were identified belonging to 125 genera, 68 families and 13 orders. Analysis of community structure of fish fauna showed that Perciformes order was the most popular, making up 71.9%; Tetraodontiformes (8.4%); Pleuronectiformes (5.6%). Serranidae family was the most abundant with 14 species, making up 7.9% of the total number of species; Carangidae: 12 species (6.7%); Lutjanidae, Gobiidae had the same number of species with 9 species (5.1%); Scombridae: 7 species (3.9%); Soleidae: 6 species (3.4%); Haemulidae, Mullidae, Tetraodontidae: 5 species (2.8%);... Cluster analysing based on the Bray-Curtis similarity index of nine fish faunas (Thai Binh, Son Tra, Thu Bon, Quang Nam, Nha Phu-Binh Cang, Ben Tre and Tra Vinh) showed that fish composition of the coastal estuaries of Tra Vinh and Ben Tre had the highest similarity (80%), subsequently fish fauna of Quang Ngai had similarity with that of Nha Phu-Binh Cang (39%), Quang Ngai and Quang Nam (42%), Quang Nam and Nha Phu-Binh Cang (41%), Quang Nam and Son Tra (38%), Thai Binh and Ben Tre (37%), Quang Ngai and Son Tra (36%). The result was also classified into two distinct groups of 7 fish faunas: Group 1-Tra Vinh, Ben Tre and Thai Binh; group 2-Quang Ngai, Quang Nam, Nha Phu- Binh Cang and Son Tra. The species richness (Margalef’s index) of Quang Ngai (34.2) was less abundant than other areas, the highest species richness belonged to Tra Vinh (38.2), Thai Binh (38.0), Quang Nam (37.8), Nha Phu-Binh Cang (35.1), Son Tra (30.9), Ben Tre (29.4). The diversity of species composition according to the level taxa in each region showed the characteristic of each fish fauna. Keywords: Fish fauna, species list, the coastal waters, Quang Ngai province. Phụ lục 1. Thành phần loài cá vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi STT Tên khoa học Tên tiếng Việt Anguilliformes Bộ cá Chình Muraenidae Họ cá Lịch biển Gymnothorax favagineus Bloch & Schneider,1801 Cá Lịch vân lớn Congridae Họ cá Chình biển Ariosoma anago (Temminck & Schlegel, 1846) Cá Chình bạc Clupeiformes Bộ cá Trích Engraulidae Họ cá Trỏng Encrasicholina heteroloba (Rüppell, 1837) Cá Cơm mõm nhọn Encrasicholina punctifer Fowler, 1938 Cá Cơm sọc xanh Stolephorus commersonnii Lacepède, 1803 Cá Cơm thường Chirocentridae Họ cá Lanh Chirocentrus dorab (Forsskål, 1775) Cá Rựa Clupeidae Họ cá Trích Escualosa thoracata (Valenciennes, 1847) Cá Mai Sardinella gibbosa (Bleeker, 1849) Cá Trích xương Siluriformes Bộ cá Nheo Thành phần loài khu hệ cá vùng biển ven bờ 173 Plotosidae Họ cá Ngát Plotosus lineatus (Thunberg, 1787) Cá Ngát Aulopiformes Bộ cá Mối Synodontidae Họ cá Mối Harpadon nehereus (Hamilton, 1822) Cá Khoai Saurida tumbil (Bloch, 1795) Cá Mối thường Synodus myops (Forster, 1801) Cá Mối đầu to Mugiliformes Bộ cá Đối Mugilidae Họ cá Đối Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) Cá Đối lá Atheriniformes Bộ cá Suốt Atherinidae Họ cá Suốt Atherinomorus lacunosus (Forster, 1801) Cá Suốt mắt to Beloniformes Bộ cá Nhói Hemiramphidae Họ cá Kìm Hyporhamphus limbatus (Valenciennes, 1847) Cá Kìm Belonidae Họ cá Nhói Ablennes hians (Valenciennes, 1846) Cá Quại vằn Strongylura strongylura (van Hasselt, 1823) Cá Nhói đuôi chấm Tylosurus crocodilus (Péron & Lesueur, 1821) Cá Nhói sấu Beryciformes Bộ cá Tráp mắt vàng Berycidae Họ cá Tráp mắt vàng Centroberyx rubricaudus Liu & Shen, 1985 Cá Tráp Holocentridae Họ cá Sơn đá Ostichthys japonicus (Cuvier, 1829) Cá Sơn đá Nhật Bản Sargocentron rubrum (Forsskål, 1775) Cá Sơn đá đỏ Gasterosteiformes Bộ cá Gai Fistulariidae Họ cá Mõm ống Fistularia petimba Lacepède, 1803 Cá Lao không vảy Scorpaeniformes Bộ cá Mù làn Dactylopteridae Họ cá Chuồn đất Dactyloptena orientalis (Cuvier, 1829) Cá Chuồn đất phương đông (tắc kè) Triglidae Họ cá Chào mào Lepidotrigla japonica (Bleeker, 1854) Cá Chào mào Nhật Bản Platycephalidae Họ cá Chai Platycephalus indicus (Linnaeus, 1758) Cá Chai Ấn Độ Perciformes Bộ cá Vược Ambassidae Họ cá Sơn biển Ambassis buruensis Bleeker, 1856 Cá Sơn biển bu ru Ambassis gymnocephalus (Lacepède, 1802) Cá Sơn đầu trần Ambassis kopsii Bleeker, 1858 Cá Sơn biển kốp sơ Latidae Họ cá Vược Lates calcarifer (Bloch, 1790) Cá Chẽm Psammoperca waigiensis (Cuvier, 1828) Cá Vược mõm nhọn Serranidae Họ cá Mú Cephalopholis boenak (Bloch, 1790) Cá Mú kẻ mờ Cephalopholis sonnerati (Valenciennes, 1828) Cá Mú đỏ Diploprion bifasciatum Cuvier, 1828 Cá Mú vàng nghệ Epinephelus areolatus (Forsskal, 1775) Cá Mú chấm Epinephelus bleekeri (Vaillant, 1878) Cá Mú Blee-ker Epinephelus chlorostigma (Valenciennes, 1828) Cá Mú Epinephelus coioides (Hamilton, 1822) Cá Mú mè Epinephelus fasciatus (Forsskål, 1775) Cá Mú sọc ngang đen Epinephelus fuscoguttatus (Forsskål, 1775) Cá Mú dây Lê Thị Thu Thảo, Võ Văn Quang, 174 Epinephelus merra Bloch, 1793 Cá Mú chấm tổ ong Epinephelus quoyanus (Valenciennes, 1830) Cá Mú đá Epinephelus sexfasciatus (Valenciennes, 1828) Cá Mú sáu sọc Epinephelus trimaculatus (Valenciennes, 1828) Cá Mú sao Triso dermopterus (Temminck & Schlegel, 1842) Cá Mú vây đen Priacanthidae Họ cá Trác Priacanthus tayenus Richardson, 1846 Cá Sơn thóc Apogonidae Họ cá Sơn Apogon multitaeniatus Cuvier, 1828 Cá Sơn vảy nhỏ Apogon semilineatus Temminck & Schlegel, 1842 Cá Sơn sọc nửa Taeniamia fucata (Cantor, 1849) Cá Sơn sọc đỏ Sillaginidae Họ cá Đục Sillago maculata Quoy & Gaimard, 1824 Cá Đục chấm Sillago sihama (Forsskål, 1775) Cá Đục bạc Lactariidae Cá Liệt lợ Lactarius lactarius (Bloch & Schneider, 1801) Cá Vạng mỡ Coryphaenidae Họ cá Nục heo Coryphaena hippurus Linnaeus, 1758 Cá Nục heo cờ Rachycentridae Họ cá Bớp Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766) Cá Bớp Carangidae Họ cá Khế Alepes djedaba (Forsskål, 1775) Cá Dóc Alepes kleinii (Bloch, 1793) Cá Ngân Carangoides orthogrammus (Jordan & Gilbert, 1882) Cá Khế Decapterus kurroides Bleeker, 1855 Cá Nục đỏ Decapterus macrosoma Bleeker, 1851 Cá Nục thuôn Decapterus maruadsi (Temminck & Schlegel, 1843) Cá Nục sò Decapterus russelli (Rüppell, 1830) Cá Nục gai Megalaspis cordyla (Linnaeus, 1758) Cá Sòng gió Parastromateus niger (Bloch, 1795) Cá Chim đen Scomberoides tol (Cuvier, 1832) Cá Bè tôn Selaroides leptolepis (Cuvier, 1833) Cá Chỉ vàng Trachinotus baillonii (Lacepède, 1801) Cá Sòng chấm Menidae Họ cá Lưỡi búa Mene maculata (Bloch & Schneider, 1801) Cá Lưỡi búa Leiognathidae Họ cá Liệt Gazza minuta (Bloch, 1795) Cá Ngãng Leiognathus brevirostris (Valenciennes, 1835) Cá Liệt mõm ngắn Leiognathus equulus (Forsskål, 1775) Cá Liệt lớn Photopectoralis bindus (Valenciennes, 1835) Cá Liệt vây hồng Lutjanidae Họ cá Hồng Lutjanus argentimaculatus (Forsskål, 1775) Cá Hồng bạc Lutjanus fulviflamma (Forsskål, 1775) Cá Hồng ánh vàng Lutjanus johnii (Bloch, 1792) Cá Hồng vảy ngang Lutjanus kasmira (Forsskål, 1775) Cá Hồng bốn sọc Lutjanus lutjanus Bloch, 1790 Cá Hồng trùng Lutjanus russellii (Bleeker, 1849) Cá Hồng chấm đen Lutjanus vitta (Quoy & Gaimard, 1824) Cá Hồng dải đen Paracaesio xanthura (Bleeker, 1869) Cá Miền xăng tô Pristipomoides filamentosus (Valenciennes, 1830) Cá Tía vây sợi Caesionidae Họ cá Miền Caesio cuning (Bloch, 1791) Cá Miền Gerreidae Họ cá Móm Gerres filamentosus Cuvier, 1829 Cá Móm gai dài Thành phần loài khu hệ cá vùng biển ven bờ 175 Gerres oyena (Forsskål, 1775) Cá Móm chỉ bạc Haemulidae Họ cá Sạo Diagramma pictum (Thunberg, 1792) Cá Kẽm hoa Parapristipoma trilineatum (Thunberg, 1793) Cá Sạo xám Plectorhinchus flavomaculatus (Cuvier, 1830) Cá Kẽm chấm vàng Plectorhinchus pictus (Tortonese, 1936) Cá Kẽm chấm Pomadasys maculatus (Bloch, 1793) Cá Sạo chấm Lethrinidae Họ cá Hè Lethrinus lentjan (Lacepède, 1802) Cá Hè chấm đỏ Lethrinus nebulosus (Forsskål, 1775) Cá Hè dài Lethrinus ornatus Valenciennes, 1830 Cá Hè mõm ngắn Nemipteridae Họ cá Lượng Nemipterus japonicus (Bloch, 1791) Cá Lượng Nhật Bản Nemipterus virgatus (Houttuyn, 1782) Cá Lượng dài đuôi Scolopsis bilineata (Bloch, 1793) Cá Tráo trác hai sọc Scolopsis vosmeri (Bloch, 1792) Cá Dơi tròn Sparidae Họ cá Tráp Acanthopagrus berda (Forsskål, 1775) Cá Tráp đuôi xám Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782) Cá Tráp vây vàng Evynnis cardinalis (Lacepède, 1802) Cá Bánh đường Pagrus auratus (Forster, 1801) Cá Tráp Sciaenidae Họ cá Đù Otolithes ruber (Bloch & Schneider, 1801) Cá Nạng hồng Mullidae Họ cá Phèn Parupeneus ciliatus (Lacepède, 1802) Cá Phèn Parupeneus heptacanthus (Lacepede, 1802) Cá Phèn rưng Parupeneus indicus (Shaw, 1803) Cá Phèn Ấn Độ Parupeneus multifasciatus (Quoy & Gaimard, 1825) Cá Phèn Upeneus tragula Richardson, 1846 Cá Phèn sọc đen Monodactylidae Họ cá Chim mắt to Monodactylus argenteus (Linnaeus, 1758) Cá Chim bạc Drepaneidae Họ cá Hiên Drepane punctata (Linnaeus, 1758) Cá Hiên chấm Kyphosidae Họ cá Bánh Lái Kyphosus vaigiensis (Quoy & Gaimard, 1825) Cá Bánh Lái Chaetodontidae Họ cá Bướm Chaetodon auriga Forsskal, 1775 Cá Nàng Đào đỏ Chaetodon ephippium Cuvier, 1831 Cá Nàng Đào đốm đen Chaetodon lunula (Lacepède, 1802) Cá Bướm trăng Chaetodon melannotus Bloch & Schneider, 1801 Cá Bướm hai chấm Pomacanthidae Họ cá Chim xanh Pomacanthus imperator (Bloch, 1787) Cá Chim hoàng đế Terapontidae Họ cá Căng Pelates quadrilineatus (Bloch, 1790) Cá Căng bốn sọc Terapon jarbua (Forsskål, 1775) Cá Căng cát Terapon theraps Cuvier, 1829 Cá Căng vảy to Labridae Họ cá Bàng Chài Bodianus bilunulatus (Lacepède, 1801) Cá Bàng Chài sọc lưỡi liềm Cheilinus chlorourus (Bloch, 1791) Cá Bàng Chài đuôi xanh Cheilio inermis (Forsskål, 1775) Cá Bàng Chài lá tre Hemigymnus melapterus (Bloch, 1791) Cá Bàng Chài trót Uranoscopidae Họ cá Sao Uranoscopus tosae (Jordan & Hubbs, 1925) Cá Sao Eleotridae Họ cá Bống đen Lê Thị Thu Thảo, Võ Văn Quang, 176 Butis butis (Hamilton, 1822) Cá Bống cấu Butis koilomatodon (Bleeker, 1849) Cá Bống cửa Eleotris fusca (Forster, 1801) Cá Bống đen Gobiidae Họ cá Bống Acentrogobius caninus (Valenciennes, 1837) Cá Bống tro Arcygobius baliurus (Valenciennes, 1837) Cá Bống Exyrias puntang (Bleeker, 1851) Cá Bống vảy má Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) Cá Bống cát Oxyurichthys microlepis (Bleeker, 1849) Cá Bống chấm mắt Oxyurichthys tentacularis (Valenciennes, 1837) Cá Bống van mắt Parachaeturichthys polynema (Bleeker, 1853) Cá Bống nhiều râu Trypauchen vagina (Bloch & Schneider, 1801) Cá Rễ Cau dài Yongeichthys criniger (Valenciennes, 1837) Cá Bống vân mây Ephippidae Họ cá Tai Tượng Platax teira (Forsskål, 1775) Cá Bàn xa Scatophagidae Họ cá Nâu Scatophagus argus (Linnaeus, 1766) Cá Nâu Siganidae Họ cá Dìa Siganus canaliculatus (Park, 1797) Cá Dìa cana Siganus fuscescens (Houttuyn, 1782) Cá Dìa trơn Siganus guttatus (Bloch, 1787) Cá Dìa công Siganus spinus (Linnaeus, 1758) Cá Dìa hoa Zanclidae Họ cá Thù Lù Zanclus cornutus (Linnaeus, 1758) Cá Thù Lù Acanthuridae Họ cá Đuôi Gai Ctenochaetus strigosus (Bennett, 1828) Cá Răng gai mảnh, cá Răng gai viền mắt vàng Naso annulatus (Quoy & Gaimard, 1825) Cá Một Sừng sọc Sphyraenidae Họ cá Nhồng Sphyraena jello Cuvier, 1829 Cá Nhồng vằn Trichiuridae Họ cá Hố Trichiurus lepturus Linnaeus, 1758 Cá Hố hột Scombridae Họ cá Thu Ngừ Auxis rochei (Risso, 1810) Cá Ngừ Ồ Auxis thazard (Lacepède, 1800) Cá Ngừ Chù Euthynnus affinis (Cantor, 1849) Cá Ngừ chấm Katsuwonus pelamis (Linnaeus, 1758) Cá Ngừ vằn Rastrelliger kanagurta (Cuvier, 1816) Cá Bạc Má Sarda orientalis (Temminck & Schlegel, 1844) Cá Ngừ dưa gang Scomber japonicus Houttuyn, 1782 Cá Thu Nhật, cá Nục bông Centrolophidae Họ cá Chim gai Psenopsis anomala (Temminck & Schlegel, 1844) Cá Chim gai Ariommatidae Họ cá Chim Ấn Độ Ariomma indicum (Day, 1871) Cá Chim Ấn Độ Stromateidae Họ cá Chim trắng Pampus chinensis (Euphrasen, 1788) Cá Chim trắng vây tròn Pleuronectiformes Bộ cá Bơn Bothidae Họ cá Bơn vỉ Bothus myriaster (Temminck & Schlegel, 1846) Cá Bơn ba hoa Crossorhombus kanekonis (Tanaka, 1918) Cá Bơn mắt lệch Soleidae Họ cá Bơn sọc Aesopia cornuta Kaup, 1858 Cá Bơn sọc sừng Brachirus annularis Fowler, 1934 Cá Bơn sọc hình khuyên Brachirus siamensis (Sauvage, 1878) Cá Bơn Pardachirus pavoninus (Lacepède, 1802) Cá Bơn bình hoa Thành phần loài khu hệ cá vùng biển ven bờ 177 Solea ovata Richardson, 1846 Cá Bơn trứng Zebrias quagga (Kaup, 1858) Cá Bơn khoang râu Cynoglossidae Họ cá Bơn lưỡi bò Cynoglossus arel (Bloch & Schneider, 1801) Cá Bơn cát vảy to Cynoglossus bilineatus (Lacepède, 1802) Cá Bơn cát khoang mang Tetraodontiformes Bộ cá Nóc Triacanthidae Họ cá Bò ba gai Triacanthus biaculeatus (Bloch, 1786) Cá Bò ba gai mõm ngắn Balistidae Họ cá Bò Balistoides viridescens (Bloch & Schneider, 1801) Cá Bò vảy xanh Sufflamen chrysopterum (Bloch & Schneider, 1801) Cá Bò da vây vàng Monacanthidae Họ cá Bò giấy Aluterus monoceros (Linnaeus, 1758) Cá Bò một gai lưng Monacanthus chinensis (Osbeck, 1765) Cá Bò gai móc Ostraciidae Họ cá Nóc Hòm Lactoria cornuta (Linnaeus, 1758) Cá Nóc Sừng đuôi dài Ostracion cubicus Linnaeus, 1758 Cá Nóc Hòm tròn lưng Ostracion rhinorhynchos Bleeker, 1851 Cá Nóc Hòm dô trán Tetraodontidae Họ cá Nóc Arothron hispidus (Linnaeus, 1758) Cá Nóc chuột vân bụng Arothron immaculatus (Bloch & Schneider, 1801) Cá Nóc chuột vằn mang Lagocephalus inermis (Temminck & Schlegel, 1850) Cá Nóc răng mỏ chim Lagocephalus lunaris (Bloch & Schneider, 1801) Cá Nóc Tro Lagocephalus spadiceus (Richardson, 1845) Cá Nóc vàng Diodontidae Họ cá Nóc nhím Diodon holacanthus Linnaeus, 1758 Cá Nóc nhím vằn đen Diodon hystrix Linnaeus, 1758 Cá Nóc nhím chấm đen

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfthanh_phan_loai_khu_he_ca_vung_bien_ven_bo_tinh_quang_ngai.pdf
Tài liệu liên quan