Mối quan hệ giữa thành phần loài với các
yếu tố môi trường và sinh cư được phân thành
4 nhóm sau:
Nhóm các loài cá bống ít chịu sự ảnh
hưởng của các yếu tố môi trường và sinh cư
gồm: Eleotris fusca, E. melanosoma,
Oxyeleotris marmorata, Acentrogobius
nebulosus, Glossogobius aureus, G. fasciatopunctatus và Oxyurichthys tentacularis.
Nhóm các loài cá bống chịu ảnh hưởng
của 2 yếu tố là bùn-cát (BC) và oxy hòa tan
(DO) gồm: Glossogobius giuris, Exyrias
puntang và Butis butis. Tuy nhiên, các loài này
chịu sự chi phối mạnh của yếu tố bùn-cát (BC)
hơn DO, trong đó loài G. giuris chịu sự chi
phối mạnh mẽ nhất bởi yếu tố bùn-cát (BC).
Nhóm các loài cá bống chịu sự chi phối
của yếu tố cát-bùn (CB) gồm: Acentrogobius
caninus, Oxyeleotris urophthalmus và
Oligolepis acutipennis. Trong đó, loài
A.caninus chịu sự chi phối của cát-bùn (CB)
hơn hai loài còn lại.
Nhóm chịu sự chi phối của cả 4 yếu tố
gồm pH, nhiệt độ (t), độ mặn (S) và rong-cỏ
nước ngọt (RC): Ở nhóm này chỉ có một loài
duy nhất chịu sự chi phối của cả 4 yếu tố môi
trường trên đó là Eleotris oxycephala.
Tuy nhiên, khi phân tích theo từng nhóm
yếu tố lại cho thấy chỉ có 4 yếu tố có giá trị
Eigenvalue (%) cao và p < 0,05 (gồm pH, DO,
độ mặn và rong-cỏ nước ngọt) đóng vai trò
quan trọng nhất chi phối sự phân bố của quần
xã cá bống trong khu vực nghiên cứu (bảng 2).
Riêng giá trị eigen (Eigenvalue) của yếu tố
nhiệt độ tuy cao thứ nhì (22,6%) nhưng giá trị p
> 0,05 nên không ảnh hưởng nhiều đến sự phân
bố thành phần loài cá bống. Có thể tại khu vực
nghiên cứu, nhiệt độ môi trường nước không có
sự biến động nhiều giữa các khu vực và giữa 2
mùa nên các loài cá bống ít chịu sự chi phối
của yếu tố nhiệt độ.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thành phần loài, phân bố và mối quan hệ giữa quần xã cá bống với các yếu tố môi trường và sinh cư ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
161
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 2; 2018: 161-165
DOI: 10.15625/1859-3097/18/2/8997
THÀNH PHẦN LOÀI, PHÂN BỐ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẦN XÃ
CÁ BỐNG VỚI CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VÀ SINH CƯ
Ở VÙNG HẠ LƯU SÔNG THU BỒN, TỈNH QUẢNG NAM
Trần Thị Phƣơng Thảo1*, Nguyễn Văn Long2
1
Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm
2
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
*
E-mail: tranthao235@gmail.com
Ngày nhận bài: 12-12-2016 / Ngày chấp nhận đăng: 28-3-2018
TÓM TẮT: Nghiên cứu được tiến hành tại 3 khu vực đặc trưng cho sự thay đổi về phông
(gradient) độ mặn tầng đáy, từ rất thấp (Thanh Hà) đến trung bình (Cẩm Nam) và cao (Cẩm Thanh)
vào 2 đợt đại diện cho mùa mưa (tháng 12/2015) và mùa khô (tháng 6/2016) tại vùng hạ lưu sông
Thu Bồn. Tại mỗi khu vực, tiến hành thu mẫu khai thác của nghề lờ (lồng) và đo các yếu tố môi
trường cơ bản (pH, nhiệt độ, độ mặn, độ oxy hòa tan) và sinh cư (độ phủ của rong-cỏ nước ngọt,
dừa nước-cỏ biển, bùn-cát và cát-bùn) tại 3 trạm đại diện, đồng kết hợp thu mẫu tại các điểm lên cá.
Kết quả khảo sát đã ghi nhận được 14 loài thuộc 8 giống của 2 họ cá bống trắng Gobiidae (8 loài) và
cá bống đen Eleotridae (6 loài) trong đó khu vực Cẩm Thanh có số lượng loài nhiều nhất (12 loài)
so với Thanh Hà (10 loài) và Cẩm Nam (6 loài). Nhìn chung, số lượng loài cá bống ghi nhận được
trong mùa mưa cao hơn so với mùa khô tại cả 3 khu vực khảo sát. Kết quả phân tích mối tương
quan giữa thành phần loài và độ phong phú của cá bống với các yếu tố môi trường và sinh cư cho
thấy sự phân bố của quần xã cá bống chịu sự chi phối của pH, độ mặn, oxy hòa tan và độ phủ của
rong-cỏ nước ngọt.
Từ khóa: Cá bống, yếu tố môi trường, sinh cư, hạ lưu sông Thu Bồn.
MỞ ĐẦU
Vùng hạ lưu sông Thu Bồn thuộc địa phận
thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam là nơi có
hệ sinh thái phong phú từ hạ nguồn đến vùng
cửa sông Cửa Đại. Các tư liệu nghiên cứu gần
đây cho thấy khu vực này có sự hiện diện của
một số loại sinh cư (habitats) đặc trưng (rong
biển, thảm cỏ biển, rừng dừa nước và vùng đáy
mềm), là nơi tập trung của nhiều nhóm đối
tượng nguồn lợi thủy sản có giá trị, góp phần
quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội địa
phương thông qua việc duy trì sinh kế và tạo
nguồn thu nhập đáng kể cho cộng đồng [1, 2],
trong đó nguồn lợi cá bống đóng vai trò khá
quan trọng cả về sản lượng lẫn thu nhập.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, dưới
áp lực phát triển kinh tế xã hội, tài nguyên đa
dạng sinh học nói riêng và môi trường nói
chung đang phải đối mặt với hàng loạt các tác
động bất lợi như khai thác quá mức, diện tích
sinh cư bị thu hẹp, chất lượng môi trường nước
giảm,
Để góp phần đánh giá những giá trị sinh
học, sinh thái của cá bống tại khu vực nghiên
cứu, chúng tôi cung cấp những kết quả nghiên
cứu về thành phần loài, phân bố và mối quan hệ
giữa quần xã cá bống với các yếu tố môi trường
và sinh cư ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Hội
An, Quảng Nam.
Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Long
162
TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Vị trí và phƣơng pháp thu mẫu. Việc thu
mẫu xác định thành phần loài được thực hiện
vào 2 đợt đại diện cho mùa mưa (tháng
12/2015) và mùa khô (tháng 6/2016) tại 3 khu
vực đặc trưng cho sự thay đổi về phông
(gradient) độ mặn tầng đáy, từ rất thấp (<
0,2%o; khu vực phường Thanh Hà) đến trung
bình (< 13,3%o; khu vực phường Cẩm Nam)
và cao (>18,3%o; khu vực xã Cẩm Thanh) [9]
dọc theo hệ thống sông Thu Bồn (hình 1).
Hình 1. Vị trí các điểm thu mẫu cá bống
Tại mỗi khu vực, việc thu mẫu được tiến
hành trên 3 ghe khai thác bằng nghề lờ (lồng) là
loại nghề khai thác chủ đạo cá bống. Ngoài ra,
cũng kết hợp thu mẫu bổ sung thành phần loài
tại các chợ cá địa phương (chợ Hội An, chợ
Viên Giác) vào buổi sáng sớm khi cá vừa được
vận chuyển đến chợ. Mẫu sau khi được cố định
được chuyển về phòng thí nghiệm của Phòng
Nguồn lợi Thuỷ sinh vật biển, Viện Hải dương
học để định loại.
Tại mỗi trạm đặt lờ thu mẫu cá khai thác,
tiến hành đo một số yếu tố môi trường cơ bản
như nhiệt độ, độ mặn, pH, DO ở tầng đáy bằng
máy đo nhanh vào mùa mưa (tháng 12/2015)
và mùa khô (tháng 6/2016).
Việc đánh giá thành phần sinh cư tại mỗi
trạm thu mẫu được tiến hành đồng thời sau khi
đo đạt các yếu tố môi trường thông qua tham
vấn ý kiến của ngư dân khai thác kết hợp với
lặn quan sát trực tiếp nền đáy. Các thành phần
sinh cư chính được đánh giá gồm độ phủ của
rong-cỏ nước ngọt, dừa nước-cỏ biển, cát-bùn
và bùn-cát.
Phƣơng pháp phân tích và định loại mẫu.
Mẫu được định loại theo phương pháp phân
tích so sánh hình thái dựa theo các tài liệu phân
loại của Nguyễn Nhật Thi (2000) [3] và cơ sở
dữ liệu cá thế giới [4].
Phân tích mối tương quan giữa thành phần
loài với các yếu tố môi trường và đặc điểm sinh
cư được thực hiện bởi phép phân tích mối
tương quan (Canonical Correspondence
Analysis - CCA) theo hướng dẫn của Ter Braak
(1986) [5] trên phần mềm Past v.3.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Thành phần loài và phân bố. Kết quả phân
tích các mẫu cá bống thu được qua 2 đợt khảo
sát đã xác định được 14 loài thuộc 8 giống 2 họ
cá bống Eleotridae và Gobiidae phân bố dọc
vùng hạ lưu sông Thu Bồn, thành phố Hội An,
tỉnh Quảng Nam (bảng 1).
Thành phần loài, phân bố và mối quan hệ
163
Bảng 1. Thành phần loài cá bống vùng hạ lưu sông Thu Bồn
STT Tên loài
Thanh Hà Cẩm Nam Cẩm Thanh
K M K M K M
Họ Eleotridae
1 Butis butis (Hamilton, 1822) x x x
2 Eleotris fusca (Forster, 1801) x
3 Eleotris melanosoma (Bleeker, 1852) x
4 Eleotris oxycephala (Temminck & Schlegel, 1845) x x x x x
5 Oxyeleotris marmorata (Bleeker, 1852) x x x x
6 Oxyeleotris urophthalmus (Bleeker, 1851)* x x x x
Họ Gobiidae
7 Acentrogobius caninus (Cuvier & Valenciennes, 1837) x x x
8 Acentrogobius nebulosus (Forsskål, 1775) x
9 Exyrias puntang (Bleeker, 1851)* x
10 Glossogobius aureus (Akihito & Meguro, 1975) x
11 Glossogobius fasciato-punctatus (Richardson, 1836)* x x
12 Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) x x x x x x
13 Oxyurichthys tentacularis (Valenciennes, 1837) x x x x
14 Oligolepis acutipennis (Valenciennes, 1837)* x
Tổng số 5 8 4 5 4 11
Ghi chú: K: Mùa khô, M: Mùa mưa, *: Loài bổ sung từ nghiên cứu này.
So với những nghiên cứu trước đây của Vũ
Thị Phương Anh và Võ Văn Phú (2010) [6],
Nguyen Thanh Nam (2012) [7] và Nguyễn Thị
Tường Vi và nnk., (2015) [8], kết quả nghiên
cứu đã bổ sung thêm 4 loài cho cho khu vực
này, trong đó họ cá bống đen có 1 loài
(Oxyeleotris urophthalmus) và họ cá bống
trắng có 3 loài (Exyrias puntang, Glossogobius
fasciato-punctatus và Oligolepis acutipennis).
Kết quả phân tích cũng cho thấy có sự khác
biệt về phân bố thành phần loài giữa các khu
vực theo mùa trong đó các loài Eleotris fusca,
E. melanosoma, Acentrogobius nebulosus và
Glossogobius aureus chỉ xuất hiện ở khu vực
Cẩm Thanh vào mùa mưa. Đây là nhóm các
loài thường hay sống ở vùng cửa sông ngập
mặn [4]; loài Exyrias puntang chỉ xuất hiện ở
khu vực Thanh Hà vào mùa mưa; loài
Oligolepis acutipennis chỉ xuất hiện ở khu vực
Thanh Hà vào mùa khô.
Mối quan hệ giữa thành phần loài với các
yếu tố môi trƣờng cơ bản và sinh cƣ. Tại
vùng hạ lưu sông Thu Bồn, vào cả 2 mùa mưa
và mùa khô, giá trị độ pH và độ muối tăng dần
từ Thanh Hà đến Cẩm Thanh. Vào mùa mưa,
tại khu vực Thanh Hà và Cẩm Nam hoàn toàn
là nước ngọt, riêng tại khu vực Cẩm Thanh
nước tầng đáy có độ mặn từ 17,3 - 19,6%o và
pH từ 6,24 - 7,98. Vào mùa khô, hầu hết các
nơi tại vùng này đều bi nhiễm mặn, độ mặn và
pH tăng dần từ đầu vùng hạ lưu (Thanh Hà) tới
vùng cửa sông (Cẩm Thanh), độ mặn ở tầng
đáy tăng từ 0,25 - 19,3%o, pH tầng đáy tăng từ
7,27 - 7,91. Kết quả đo các yếu tố môi trường
cho thấy tại khu vực nghiên cứu có sự thay đổi
mạnh về pH và độ mặn theo 2 mùa giữa 3 khu
vực thu mẫu. Do đó mà 2 yếu tố này có ảnh
hưởng lớn đến sự phân bố thành phần loài giữa
3 khu vực thu mẫu.
Bảng 2. Ma trận phân tích CCA
Yếu tố môi trường Eigenvalue % p
pH 0,3817 42,43 0,011
Nhiệt độ 0,2033 22,6 0,199
DO 0,1596 17,74 0,026
Độ mặn 0,09453 10,51 0,019
Rong-cỏ nước
ngọt
0,05532 6,149 0,016
Dừa nước-cỏ biển 9,89E-18 1,10E-15 0,709
Bùn-cát 0,005138 0,5711 0,918
Cát-bùn 9,26E-08 1,03E-05 0,902
Theo kết quả phân tích mối tương quan
(CCA) giữa thành phần loài và độ phong phú
của quần xã cá bống với 8 yếu tố môi trường cơ
bản và sinh cư (pH, nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa
Trần Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Long
164
tan, rong-cỏ nước ngọt, dừa nước-cỏ biển, bùn-
cát và cát-bùn) cho thấy rằng sự phân bố của cá
bống có mối quan hệ mật thiết và chịu sự chi
phối của các yếu tố nói trên (p = 0,006 < 0,05),
trong đó các yếu tố đóng vai trò chi phối gồm
pH, nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, bùn-cát và
cát-bùn (hình 2).
Hình 2. Mối tương quan giữa thành phần loài
cá bống với các yếu tố môi trường và sinh cư
gồm: pH, nhiệt độ (t), oxy hòa tan (DO), độ
mặn (S), rong-cỏ nước ngọt (RC), bùn-cát
(BC), cát-bùn (CB), dừa nước-cỏ biển (DC);
Butbut: Butis butis, Exypun: Exyrias puntang,
Glogiu: Glossogobius giuris, Glofap:
Glossogobius fasciato-punctatus, Aceneb:
Acentrogobius nebulosus, Oxymar: Oxyeleotris
marmorata, Gloaur: Glossogobius aureus,
Elemel: Eleotris melanosoma, Oxyten:
Oxyeleotris tentacularis, Elefus: Eleotris fusca,
Eleoxy: Eleotris oxycephala, Acecan:
Acentrogobius caninus, Oxyuro: Oxyeleotris
urophthalmus, Oliacu: Oligolepis acutipennis
Mối quan hệ giữa thành phần loài với các
yếu tố môi trường và sinh cư được phân thành
4 nhóm sau:
Nhóm các loài cá bống ít chịu sự ảnh
hưởng của các yếu tố môi trường và sinh cư
gồm: Eleotris fusca, E. melanosoma,
Oxyeleotris marmorata, Acentrogobius
nebulosus, Glossogobius aureus, G. fasciato-
punctatus và Oxyurichthys tentacularis.
Nhóm các loài cá bống chịu ảnh hưởng
của 2 yếu tố là bùn-cát (BC) và oxy hòa tan
(DO) gồm: Glossogobius giuris, Exyrias
puntang và Butis butis. Tuy nhiên, các loài này
chịu sự chi phối mạnh của yếu tố bùn-cát (BC)
hơn DO, trong đó loài G. giuris chịu sự chi
phối mạnh mẽ nhất bởi yếu tố bùn-cát (BC).
Nhóm các loài cá bống chịu sự chi phối
của yếu tố cát-bùn (CB) gồm: Acentrogobius
caninus, Oxyeleotris urophthalmus và
Oligolepis acutipennis. Trong đó, loài
A.caninus chịu sự chi phối của cát-bùn (CB)
hơn hai loài còn lại.
Nhóm chịu sự chi phối của cả 4 yếu tố
gồm pH, nhiệt độ (t), độ mặn (S) và rong-cỏ
nước ngọt (RC): Ở nhóm này chỉ có một loài
duy nhất chịu sự chi phối của cả 4 yếu tố môi
trường trên đó là Eleotris oxycephala.
Tuy nhiên, khi phân tích theo từng nhóm
yếu tố lại cho thấy chỉ có 4 yếu tố có giá trị
Eigenvalue (%) cao và p < 0,05 (gồm pH, DO,
độ mặn và rong-cỏ nước ngọt) đóng vai trò
quan trọng nhất chi phối sự phân bố của quần
xã cá bống trong khu vực nghiên cứu (bảng 2).
Riêng giá trị eigen (Eigenvalue) của yếu tố
nhiệt độ tuy cao thứ nhì (22,6%) nhưng giá trị p
> 0,05 nên không ảnh hưởng nhiều đến sự phân
bố thành phần loài cá bống. Có thể tại khu vực
nghiên cứu, nhiệt độ môi trường nước không có
sự biến động nhiều giữa các khu vực và giữa 2
mùa nên các loài cá bống ít chịu sự chi phối
của yếu tố nhiệt độ.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu đã phát hiện được 14
loài cá bống thuộc 8 giống của 2 họ cá bống
đen Eleotridae (6 loài) và họ cá bống trắng
Gobiidae (8 loài), trong đó có 4 loài
(Oxyeleotris urophthalmus, Exyrias puntang,
Glossogobius fasciato-punctatus và Oligolepis
acutipennis) được bổ sung cho khu hệ cá ở
vùng hạ lưu sông Thu Bồn.
Có sự khác biệt về tính chất phân bố thành
phần loài cá bống theo không gian và thời gian,
trong đó khu vực nước có độ mặn cao (Cẩm
Thanh) có số lượng loài cao hơn so với khu vực
có độ mặn trung bình (Cẩm Nam) và độ mặn
thấp (Thanh Hà); và mùa mưa cao hơn so với
mùa khô.
Sự phân bố của quần xã cá bống có mối
quan hệ chặt chẽ với các yếu tố môi trường và
sinh cư, trong đó pH, oxy hòa tan, độ mặn và
độ phủ rong-cỏ nước ngọt là những yếu tố đóng
vai trò quan trọng nhất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Thành phần loài, phân bố và mối quan hệ
165
1. Nguyễn Hữu Đại, Donald Macintosh, 2008.
Hiện trạng tài nguyên đất ngập nước (chủ
yếu là dừa nước) ở hạ lưu sông Thu Bồn
(Quảng Nam) và vấn đề quản lý, bảo vệ,
phục hồi. Tạp chí Khoa học và Công nghệ
biển, 8(4), 51-66.
2. Nguyễn Viết Tích, 2009. Khảo sát, đánh
giá và đề xuất các giải pháp bảo vệ, phục
hồi các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển
Quảng Nam. Báo cáo tổng kết đề tài cấp
tỉnh lưu trữ tại Sở Khoa học và Công nghệ
Quảng Nam. 160 tr.
3. Nguyễn Nhật Thi, 2000. Động vật chí Việt
Nam, 2. Cá biển, phân bộ cá Bống -
Gobioidei. Trung tâm Khoa học tự nhiên và
Công nghệ Quốc gia.
4. Fishbaseonline (www.fishbase.org).
5. Ter Braak, C. J., 1986. Canonical
correspondence analysis: a new eigenvector
technique for multivariate direct gradient
analysis. Ecology, 67(5), 1167-1179.
6. Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú, 2010.
Thành phần loài cá ở hệ thống sông Thu
Bồn-Vu Gia tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Sinh
học, 32(2), 12-20.
7. Nam, N. T., Huyen, N. T., and Huan, N. X.,
2012. Composition of fish species at Cua
Dai estuary, Vu Gia-Thu Bon river system,
Quang Nam province. Journal of Science,
Natural Science and Technology, VNU,
Hanoi, 28(2S), 25-33.
8. Nguyễn Thị Tường Vi, Lê Thị Thu Thảo,
Bùi Thị Ngọc Nở, Võ Văn Quang, 2015.
Kết quả bước đầu nghiên cứu khu hệ cá cửa
sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí
Khoa học và Công nghệ biển, 15(1), 55-60.
9. Lê Thị Vinh, Võ Trần Tuấn Linh, Phạm
Hữu Tâm và Nguyễn Hồng Thu, 2016.
Hiện trạng chất lượng nước ở Khu Dự trữ
Sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội
An. Tuyển tập Nghiên cứu Biển, 22.
SPECIES COMPOSITION, DISTRIBUTION AND RELATIONSHIP
BETWEEN GOBY COMMUNITIES AND ENVIROMENTAL FACTORS
AND HABITATS IN DOWNSTREAM AREA OF THU BON RIVER,
QUANG NAM PROVINCE
Tran Thi Phuong Thao
1
, Nguyen Van Long
2
1
Management Board of Cham islands Marine Protected Area
2
Institute of Oceanography, VAST
ABSTRACT: The study was conducted at three sites representing large variation in gradient of
salinity from very low (Thanh Ha) to medium (Cam Nam) and high (Cam Thanh) in rainy (12/2015)
and dry seasons (6/2016) in downstream area of Thu Bon river. At each site, goby species were
sampled with traps and measurements of enviromental factors (pH, temperature, salinity, dissolved
oxygen) and habitats (cover of freshwater weeds-grass, nypa palm-seagrass, sand-mud, mud-sand)
were conducted at the 3 sites mentioned above. A total of 14 species belonging to 2 families
Gobiidae (8 species) and Eleotridae (6 species) were recorded in rainy and dry seasons, in which the
brackishwater site (Cam Thanh) supported the higher number of species (12 species) compared to
the transitional site (Cam Nam: 6 species) and the freshwater site (Thanh Ha: 10 species). Results of
annalyzing canonical correspondence between goby communities and the enviromental factors and
habitats indicate that the distribution of goby community was mainly influenced by pH, salinity,
dissolved oxygen and benthic cover of freshwater seaweeds-grass.
Keywords: Goby fishes, enviromental factors, downstream area of Thu Bon river.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
thanh_phan_loai_phan_bo_va_moi_quan_he_giua_quan_xa_ca_bong.pdf