KẾT LUẬN
Từ năm 2006 đến năm 2018, điều tra 15
loài cây trồng tại 20 tỉnh ở các vùng sinh thái
nông nghiệp khác nhau đã thu được 21 loài rệp
sáp giả thuộc 2 giống Planococcus và
Pseudococcus. Đã xác định được tên khoa học
cho 16 loài, gồm 8 loài thuộc giống
Planococcus và 8 loài thuộc giống
Pseudococcus. Các loài Planococcus bendovi,
Planococcus ficus, Pseudococcus
philippinicus, Pseudococcus viburni được ghi
nhận lần đầu cho khu hệ rệp sáp giả ở Việt
Nam. Kết quả nghiên cứu này đưa tổng số loài
rệp sáp giả thuộc 2 giống Planococcus và
Pseudococcus đã phát hiện được trên cây
trồng nông nghiệp ở Việt Nam lên 20 loài.
Trên cây cà phê, cây bưởi có số loài rệp sáp
giả thuộc 2 giống Planococcus và Pseudococcus
đã ghi nhận được đạt nhiều nhất (tương ứng là 8
và 7 loài). Trên các cây khác còn lại được nghiên
cứu có số loài rệp sáp giả thuộc giống
Planococcus và Pseudococcus đã ghi nhận được
chỉ là 1-5 loài.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thành phần loài rệp sáp giả thuộc giống planococcus & pseudococcus (homoptera: pseudococcidae) trên cây trồng nông nghiệp ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
34
9. Donald T.,JudsonM., George A. (2001), Citrus red
mite in Azizona:,. The University of Arizona Press,
Yuma, USA, P. 1-2.
10. Gao M.Y,. Cai Z.J., Zang J.Y., Chen C.J. (1990),
Study on the control of citrus red mite (Panonychus
citri) with nissorun, Furian Agricultural Science and
Technology (China), No. 2, p.17-18
11. Sato M.E., Silva Z.M., Raga S., and Filho S.F.M.
(2005). Abamectin Resistance in Tetranychus urticae
Koch (Acari: Tetranychidae): Selection, Cross-
Resistance and Stability of Resistance. Crop
protection, Neotropical Entomology 34 (6): 991-998.
12. IRAC (2009). Susceptibility Test Methods Series,
Method No: 004, version: 3, june 2009.
13. Xian Z. Li C, Liang J. 2003. Control efficacy and
combined joint toxicity of Jiaqingan EC to citrus red
mite, Panonychus citri (McG).Journal of Guangxi
Agricultural University 17(1), p80-85.
14. Yamamoto A., Yoneda H., Hatano R., Asada M.
(1995). Genetic analysis of hexythiazox resistance in
the citrus red mite, Panonychus citri (McGregor). J
Pesticide Sci 20: 513–519.
Phản biện: TS. Nguyễn Văn Liêm
THÀNH PHẦN LOÀI RỆP SÁP GIẢ THUỘC GIỐNG
Planococcus & Pseudococcus (Homoptera: Pseudococcidae)
TRÊN CÂY TRỒNG NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
The Species Composition of Genera Planococcus and Pseudococus
(Homoptera: Pseudococcidae) on Common Crops in Viet Nam
Lê Thị Tuyết Nhung, Phạm Văn Lầm, Quách Thị Ngọ và Trƣơng Thị Hƣơng Lan
Viện Bảo vệ thực vật
Ngày nhận bài: 31.08.2018 Ngày chấp nhận đăng: 26.09.2018
Abstract
At least 21 mealybug species belonging to genera of Planococcus and Pseudococcus were collected from 20
provinces in different ecological zones of Viet Nam during 2006-2018. Among them, 16 species were identified
including 8 species belonging to genus of Planococcus and 8 species belonging to genus of Pseudococcus. Four
(4) species were newly recorded for entomofauna of Viet Nam, namely Planococcus bendovi, P. ficus,
Pseudococcus philippinicus, P. viburni. This result increases to total recorded species of genera of Planococcus
and Pseudococcus in Viet Nam to 20 species. Coffee and pomelo have the most numerous number of recorded
species of genera of Planococcus and Pseudococcus. The highest numbers of Planococcus and Pseudococcus
species were recorded on coffee and pumelo.
Keywords mealybug, Planococcus, Pseudococcus, Vietnam
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Họ rệp sáp giả Pseudococcidae (bộ
Homoptera) có nhiều loài là những côn trùng hại
phổ biến trên các cây trồng, nhất là cây lâu
năm. Đến nay trên thế giới đã ghi nhận, mô tả
được khoảng 1989 loài thuộc họ này. Chưa có
những nghiên cứu chuyên về khu hệ rệp sáp
giả Pseudococcidae ở Việt Nam. Thành phần
loài rệp sáp giả đã phát hiện ở Việt Nam chỉ tìm
thấy trong các tài liệu điều tra cơ bản về côn
trùng, thành phần sâu hại theo cây trồng hoặc
trong kết quả điều tra nhất thời (Nguy n Thị
Chắt, 2008; Nguy n Thị Chắt và nnk., 2005;
Nguy n Thị Thu Cúc, 2000; Данциг,
Константинова, 1990; Phạm Văn Lầm, 1994;
Nguyen Thi Thuy et al., 2011; Viện Bảo vệ thực
vật, 1976, 1999a, 1999b). Trong những tài liệu
này, các loài rệp sáp giả được đề cập tới có một
số loài thuộc các giống Planococcus và
Pseudococcus. Trong đó, trên khá nhiều cây
trồng tên các loài rệp sáp giả của họ
Pseudococcidae chỉ được ghi tên giống
(Planococcus sp. hay Pseudococcus sp.). Bài
viết này cung cấp dẫn liệu về thành phần loài
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
35
rệp sáp giả của các giống Planococcus và
Pseudococcus đã phát hiện được trên nhiều cây
trồng khác nhau trong thời gian 2006-2018 ở
Việt Nam.
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thành phần loài rệp sáp giả họ
Pseudococcidae được điều tra theo phương pháp
của Viện Bảo vệ thực vật (1997). Thu thập mẫu
rệp sáp giả được tiến hành theo đợt điều tra vào
các thời kỳ thích hợp cho sự phát sinh phát triển
của các sinh vật hại trên các loại cây trồng. Mỗi
điểm nghiên cứu, tiến hành điều tra thu mẫu từ 3-
5 vườn cây đại diện cho chế độ canh tác khác
nhau. Mỗi vườn điều tra theo 5 điểm trên hai
đường chéo góc, mỗi điểm điều tra 1-5 cây, tùy
thuộc vào loài cây và kích thước của cây vào thời
điểm điều tra. Mỗi cây điều tra và thu mẫu trên 4
cành ở các tầng tán lá khác nhau theo 4 hướng.
Khi điều tra, quan sát kỹ tất cả các bộ phận của
cây như các mặt của lá cây, cành cây, gốc cây,
hoa và quả để phát hiện và thu thập đối tượng cần
nghiên cứu. Ghi nhận các triệu chứng gây hại,
mức độ gây hại và mức độ bắt gặp của các loài
rệp sáp giả bắt gặp trong điểm điều tra. Khi thấy
cây có triệu chứng còi cọc, lá nhỏ vàng như thiếu
dinh dưỡng thì tiến hành đào xung quanh gốc cây
để điều tra loài rệp sáp trên r cây.
Mẫu rệp sáp giả được thu cùng với bộ phận
bị hại đưa về phòng thí nghiệm. Đối với các mẫu
rệp sáp giả còn ở giai đoạn trước trưởng thành
thì được nuôi tiếp trong phòng thí nghiệm cho
đến pha trưởng thành để làm mẫu tiêu bản.
Những trưởng thành rệp sáp giả (thu trực tiếp ở
thực địa và nuôi trong phòng thí nghiệm) được
bảo quản trong dung dịch cồn 75-80% có ghi đầy
đủ các thông tin về cây ký chủ, địa điểm thu thập,
thời gian thu và người thu mẫu.
Mẫu vật được làm tiêu bản theo phương pháp
của Waston & Chandler (1999). Việc giám định
tên của chúng được tiến hành theo tài liệu của
Williams (2004). Phần lớn mẫu vật sau giám định
đã được Natalia von Ellenrieder (ở Trung tâm
Giám định sinh vật hại thuộc Cục Nông nghiệp và
Thực phẩm bang California) thẩm định.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thành phần loài rệp sáp giả thuộc
giống Planococcus và Pseudococcus
Trong thời gian 2006-2018 đã tiến hành thu
thập mẫu rệp sáp giả trên 15 loài cây trồng ở 20
tỉnh thuộc các vùng sinh thái nông nghiệp khác
nhau. Đã thu thập được 21 loài thuộc 2 giống
Planococcus và Pseudococcus. Đã xác định
được tên khoa học cho 16 loài, gồm 8 loài thuộc
giống Planococcus và 8 loài thuộc giống
Pseudococcus. Số lượng loài rệp sáp giả thuộc 2
giống này đã phát hiện được trên các cây trồng
khác nhau thì rất khác nhau. Trên cây cà phê có
số loài rệp sáp giả thuộc giống Planococcus và
Pseudococcus đã ghi nhận được nhiều nhất (với
8 loài), sau đó là trên cây bưởi (với 7 loài). Trên
các cây ca cao, chôm chôm, chanh, dâu tằm, đại
phú, hồ tiêu, hồng, sắn, mỗi cây mới chỉ ghi nhận
được 1 loài hoặc thuộc giống Planococcus hoặc
thuộc giống Pseudococcus. Trên các cây còn lại
khác được nghiên cứu đã ghi nhận được 2-5 loài
(bảng 1).
Bảng 1. Các loài rệp sáp giả thuộc giống Planococcus và Pseudococcus
đã phát hiện đƣợc trên cây trồng ở Việt Nam (2006 - 2018)
TT Tên khoa học Độ bắt gặp Cây trồng đã phát hiện Địa điểm phát hiện
1 Planococcus bendovi
Williams
Từ vài
đến 25%
Cam Nghệ An
2 Planococcus citri (Risso) 5% đến trên
50% hoặc hơn
Cam, bưởi, na Bà Rịa-Vũng Tàu, Bến Tre,
Hà Nam, Lạng Sơn, Tiền
Giang, Quảng Nam
3 Planococcus dischidiae
Takahashi
Từ vài
đến 25%
Bưởi, cà phê, na Bà Rịa-Vũng Tàu, Đắk Lắk,
Lạng Sơn, Tây Ninh
4 Planococcus kraunhiae
(Kuwana)
5% đến 50%
hoặc hơn
Cà phê, chôm chôm,
dâu tằm, hồng, nhãn,
thanh long
Bến Tre, Đắk Lắk, Hà Nội,
Hòa Bình, Tiền Giang
5 Planococcus lilacinus
(Cockerell)
5% đến trên
50% hoặc hơn
Bưởi, ca cao, cà phê,
na, nhãn
Đắc Lắc, Đắk Nông, Hà Nội, Hòa
Bình, Tiền Giang, Quảng Ninh
6 Planococcus litchi Cox Từ vài
đến 25%
Nhãn Hưng Yên, Bắc Giang
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
36
TT Tên khoa học Độ bắt gặp Cây trồng đã phát hiện Địa điểm phát hiện
7 Planococcus minor
(Maskell)
Từ vài đến
25%
Cà phê Đắk Lắk, Hà Nội
8 Planococcus ficus
(Signoret)
Dưới 5% Cà phê Đắk Lắk
9 Pseudococcus apoplanus
Williams
Từ vài đến
25%
Bưởi, cam Đồng Tháp, Sơn La, Tiền
Giang
10 Pseudococcus comstocki
(Kuwana)
Từ vài đến
25%
Cà phê, vải Bắc Giang, Đắk Lắk, Đắk
Nông, Nghệ An
11 Pseudococcus cryptus
Hempel
Từ vài đến
25%
Vải, chanh, hồ tiêu,
bưởi, cam
Bắc Giang, Hà Nội, Quảng
Trị
12 Pseudococcus
jackbeardsleyi Gimpel &
Miller
5% đến 50% Sắn, đại phú, thanh
long
Bà Rịa-Vũng Tàu, Đắk Lắk,
Đồng Nai, Bình Thuận, Tây
Ninh
13 Pseudococcus longispinus
(Targioni Tozzetti)
Từ vài đến
25%
Cà phê Đắk Lắk
14 Pseudococcus odermatti
Miller & Williams
Từ vài đến
25%
Bưởi, na Đồng Tháp, Lạng Sơn
15 Pseudococcus philippinicus
Williams
Dưới 5% Bưởi Quảng Nam
16 Pseudococcus viburni
(Signoret)
Dưới 5% Cà phê Đắk Lắk
Trong những loài rệp sáp giả thuộc giống
Planococcus và Pseudococcus đã phát hiện, một
số loài (Planococcus ficus, Pseudococcus
philippinicus, P. viburni) có mức độ phổ biến rất
thấp (với độ bắt gặp chỉ đạt dưới 5%); phần lớn
các loài có mức độ phổ biến thấp (với độ bắt gặp
từ vài đến 25%); chỉ có 4 loài (Planococcus citri,
P. kraunhiae, P. lilacinus, Pseudococcus
jackbeardsleyi) có mức độ phổ biến từ thấp,
trung bình hoặc rất phổ biến (với độ bắt gặp từ
5% đến 50% hoặc hơn) (bảng 1).
Số lượng loài rệp sáp giả thuộc giống
Planococcus và Pseudococcus đã xác định được
tên khoa học trong nghiên cứu này (16 loài)
tương đương với tổng số loài rệp sáp giả thuộc
hai giống này đã ghi nhận được trong tất cả các
công bố trước đây đến năm 2013. Theo Phạm
Văn Lầm (2013), đến năm 2013 thống kê trên
gần 80 loài cây trồng phổ biến ở Việt Nam đã ghi
được 15 loài và 2 dạng loài (với ký hiệu “sp.”) rệp
sáp giả thuộc giống Planococcus và
Pseudococcus. Tuy nhiên, các loài rệp sáp giả
thuộc giống Planococcus và Pseudococcus phát
hiện được trong nghiên cứu này không hoàn
toàn trùng với các loài đã được ghi nhận trong
các công bố trước đây. Một số loài
(Pseudococcus candyensis, P. citriculus, P.
mercaptor, P. nipae) được ghi nhận trong các
công bố trước đây thì lại chưa thu thập lại
được trong nghiên cứu này. Ngược lại, có 4
loài (Planococcus bendovi, P. ficus,
Pseudococcus philippinicus, P. viburni) ghi
nhận được trong nghiên cứu này, nhưng chưa
được đề cập trong các công bố trước đây. Đây
là những loài ghi nhận lần đầu cho khu hệ rệp
sáp giả ở Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu
này đã đưa tổng số loài rệp sáp giả thuộc
giống Planococcus và Pseudococcus phát hiện
được trên những cây trồng phổ biến ở Việt
Nam lên 20 loài, gồm 8 loài thuộc giống
Planococcus và 12 loài thuộc giống
Pseudococcus (không kể các dạng loài).
Số lượng loài rệp sáp giả thuộc giống
Planococcus và Pseudococcus đã phát hiện
được trong nghiên cứu này nhiều hơn so với số
lượng loài thuộc giống Planococcus và
Pseudococcus đã phát hiện được trong mỗi công
bố riêng biệt trước đây. Hầu hết mỗi công bố
trước đây thường chỉ ghi nhận được 1-5 loài rệp
sáp giả thuộc giống Planococcus và
Pseudococcus (Nguy n Thị Chắt, 2008; Nguy n
Thị Chắt và nnk., 2005; Nguy n Văn Dân và
nnk., 2018; Данциг, Константинова, 1990; Vũ
Thị Nga và nnk., 2005; Viện Bảo vệ thực vật,
1976, 1999a, 1999b). Các nghiên cứu này bị hạn
chế về không gian, thời gian và cây trồng được
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
37
thu thập mẫu vật. Riêng đối với vùng đồng bằng
sông Cửu Long, trên các cây ăn quả chỉ có 3 loài
rệp sáp giả thuộc giống Planococcus và
Pseudococcus được phân loại đến loài, còn tới
hàng chục loài cây ăn quả được ghi bị rệp sáp
giả thuộc hai giống này gây hại nhưng chỉ được
ghi nhận đến tên giống (Nguy n Thị Thu Cúc,
2000). Đối với đợt điều tra sinh vật hại trên 19 loại
cây trồng trên quy mô cả nước vào giai đoạn 2006-
2010 (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010) cũng chỉ
phát hiện được 12 loài rệp sáp giả thuộc giống
Planococcus và Pseudococcus.
Số lượng loài rệp sáp giả thuộc giống
Planococcus và Pseudococcus đã ghi nhận được
trên từng loài cây trồng trong nghiên cứu này
hoàn toàn không giống số lượng loài rệp sáp giả
thuộc hai giống này đã ghi nhận được trên cây
trồng tương ứng đã công bố trong các nghiên
cứu trước đây. Trên cây cà phê, cây bưởi, cây
cam, cây na trong các công bố trước đây tương
ứng đã ghi nhận được 3-5, 4, 6 và 1-4 loài rệp
sáp giả thuộc giống Planococcus và
Pseudococcus (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010;
Nguy n Thị Thu Cúc, 2000; Nguy n Văn Dân và
nnk., 2018; Nguyen Thi Thuy et al., 2011). Trong
nghiên cứu này, tương ứng với các cây trồng
nêu trên đã ghi nhận được 8, 7, 4, 4 loài rệp sáp
giả thuộc hai giống Planococcus và
Pseudococcus.
3.2 Đặc điểm hình thái nhận dạng trên mẫu
lam của các loài ghi nhận lần đầu ở Việt Nam
Loài Planococcus bendovi Williams
Cơ thể có hình ô van rộng đến gần hình tròn
(hình 1). Râu đầu có 8 đốt. Có 18 đôi miệng
tuyến tạo sáp (cerarius) xung quanh cơ thể. Mỗi
miệng tuyến tạo sáp có hai lông cứng hình nón
(conical seta) ngắn hơn lông cứng ở thùy hậu
môn. Thùy hậu môn có 2 lông cứng, không có
lông cứng phụ (auxiliary seta), nhưng có vài lỗ 3
ngăn (trilocular pore). Thùy hậu môn tương đối
phát triển, lông cứng đỉnh thùy hậu môn (apical
seta) to, gờ thùy hậu môn (anal lobe bar) xuất
phát từ phía trước lông cứng kéo đến lông cứng
đỉnh thùy hậu môn.
Mặt lưng cơ thể có những lông cứng ngắn,
thẳng, mảnh khảnh hơn lông cứng ở miệng
tuyến tạo sáp và có 1 hoặc 2 lỗ 3 ngăn ở gần gốc
lông cứng. Mặt bụng, ống tạo sáp hình trụ tương
đối nhiều, phân bố xung quanh mép cơ thể từ
phần đầu đến thùy hậu môn.
Hình 1. Loài Planococcus bendovi Hình 2. Loài Planococcus ficus
Loài Planococcus ficus (Signoret)
Cơ thể có hình ô van rộng. Có 18 đôi miệng
tuyến tạo sáp xung quanh cơ thể. Mỗi miệng
tuyến tạo sáp có 2 lông cứng hình nón, các lông
cứng thuộc miệng tuyến tạo sáp ở phần đầu cơ
thể mảnh khảnh hơn, đầu mỗi lông cứng có hình
roi. Trên mặt bụng, các lỗ nhiều ngăn (multilocular
disc pore) phân bố ở mép các đốt bụng. Ống tạo
sáp hình trụ sắp xếp thành hàng ngang ở các đốt
bụng, có ở vùng giữa và vùng mép phần ngực,
đôi khi có ở cả phần đầu (hình 2).
Loài Pseudococcus philippinicus Williams
Cơ thể hình ô van dài (hình 3). Râu đầu 8
đốt, chiều dài gốc môi và môi tương đối bằng
nhau. Có 17 đôi miệng tuyến tạo sáp. Trên
mặt lưng, ống tạo sáp miệng dạng vòng
khuyên (oral rim tubular duct) có vòng khuyên
nổi rõ ở miệng ống. Trên mặt bụng, không có
lỗ nhiều ngăn từ phần nửa trước cơ thể cho
đến đốt bụng VI. Ống tạo sáp hình trụ có
miệng dạng vòng khuyên phân bố đơn lẻ ở
mép các đốt bụng II-VI, có nhiều hơn ở phần
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
38
đầu cơ thể, mép phần ngực, phía mép sau
của lỗ thở thứ nhất có khoảng 5 ống. Tại vùng
bộ phận sinh dục có 4 khoang hình túi được
hóa cứng.
Hình 3. Loài Pseudococcus philippinicus Hình 4. Loài Pseudococcus viburni
Loài Pseudococcus viburni (Signoret)
Cơ thể hình ô van (hình 4). Râu đầu có 8
đốt. Có 17 đôi miệng tuyến tạo sáp. Cạnh miệng
ống tạo sáp hình trụ có miệng dạng vòng
khuyên thường có 1 lỗ hình đĩa. Ống tạo sáp
hình trụ phân bố đơn lẻ ở sau miệng tuyến tạo
sáp trán (C1), giữa miệng tuyến tạo sáp C6 và
C7, gần các miệng tuyến tạo sáp C11 và C13-16.
Liền kề mắt có 1-3 lỗ hình đĩa không nằm ở
vùng hóa cứng. Chân phát triển. Lỗ trong mờ
không có ở đốt háng, có khá nhiều ở mặt sau
đốt đùi, đốt chày chân sau. Trên mặt bụng, lỗ
nhiều ngăn phân bố ở phần trên nửa trước cơ
thể cho đến đốt bụng VI.
4. KẾT LUẬN
Từ năm 2006 đến năm 2018, điều tra 15
loài cây trồng tại 20 tỉnh ở các vùng sinh thái
nông nghiệp khác nhau đã thu được 21 loài rệp
sáp giả thuộc 2 giống Planococcus và
Pseudococcus. Đã xác định được tên khoa học
cho 16 loài, gồm 8 loài thuộc giống
Planococcus và 8 loài thuộc giống
Pseudococcus. Các loài Planococcus bendovi,
Planococcus ficus, Pseudococcus
philippinicus, Pseudococcus viburni được ghi
nhận lần đầu cho khu hệ rệp sáp giả ở Việt
Nam. Kết quả nghiên cứu này đưa tổng số loài
rệp sáp giả thuộc 2 giống Planococcus và
Pseudococcus đã phát hiện được trên cây
trồng nông nghiệp ở Việt Nam lên 20 loài.
Trên cây cà phê, cây bưởi có số loài rệp sáp
giả thuộc 2 giống Planococcus và Pseudococcus
đã ghi nhận được đạt nhiều nhất (tương ứng là 8
và 7 loài). Trên các cây khác còn lại được nghiên
cứu có số loài rệp sáp giả thuộc giống
Planococcus và Pseudococcus đã ghi nhận được
chỉ là 1-5 loài.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn,
2010. Danh lục sinh vật hại trên một số cây
trồng và sản phẩm cây trồng sau thu hoạch ở
Việt Nam (điều tra năm 2006-2010). Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội.
2. Nguy n Thị Chắt, 2008. Rệp sáp hại cây
trồng & biện pháp phòng trị. Nxb Nông nghiệp, tp.
Hồ Chí Minh.
3. Nguy n Thị Chắt, Vũ Thị Nga, Trần Thành Tân,
Lê Thị Tuyết Nga, Trần Thị Quế Trân, Lê Minh Tâm,
Lê Quang Tùng, Nguy n Thị Hồng Thủy, 2005. Kết
quả điều tra thành phần rệp sáp (Coccinea) gây hại
cây trồng ở một số tỉnh phía Nam trong các năm 1999-
2004. Báo cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học toàn
quốc lần thứ 5. Hội Côn trùng học Việt Nam. Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội: 19-24.
4. Nguy n Thị Thu Cúc, 2000. Côn trùng và nhện
gây hại cây ăn trái vùng đồng bằng sông Cửu Long và
biện pháp phòng trị. Nxb Nông nghiệp, Tp. Hồ Chí Minh.
5. Nguy n Văn Dân, Nguy n Văn Liêm, Phạm
Văn Lầm, Lê Thị Tuyết Nhung, Trương Thị Hương
Lan, 2018. Góp phần tìm hiểu thành phần loài rệp sáp
(Homoptera: Coccoidea) hại cây na ở Việt Nam. Tạp
chí Bảo vệ thực vật, số 3: 45-49.
6. Данциг Е. М., Г. М. Константинова, 1990. К
фауне кокцид (Homoptera, Coccinea) Вьетнама.
Новости систематики и фаунистики насекомых
Вьетнама. Часть 1, Зоологический институт,
Академия наук СССР, Ленинград, 38-52.
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
39
7. Phạm văn Lầm, 1994. Thành phần rệp sáp hại
cây ăn quả có múi đã phát hiện được ở Việt Nam. Tạp
chí Bảo vệ thực vật, số 2.
8. Phạm Văn Lầm, 2013. Các loài côn trùng và
nhện nhỏ gây hại cây trồng phát hiện ở Việt Nam.
Quyển 1. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
9. Vũ Thị Nga, Nguy n Thị Chắt, Phạm Văn Lầm,
2005. Thành phần sâu hại cây mãng cầu xiêm
(Annona muricata L.) ở Bình Chánh (tp. Hồ Chí Minh).
Báo cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học toàn quốc
lần thứ 5, Hà Nội, ngày 11-14 tháng 4 năm 2005. Nxb
Nông nghiệp: 441-445.
10. Nguyen Thi Thuy, Pham Thi Vuong, Ha Quang
Hung, 2011. Composition of scale insects on coffee in
Daklak, Vietnam and reproductive biology of japanese
mealybug, Planococcus kraunhiae Kuwana (Hemiptera:
Pseudococcidae). J. ISSAAS, Vol. 17(2): 29-37.
11. Viện Bảo vệ thực vật, 1976. Kết quả điều tra
côn trùng 1967-1968. Nxb Nông thôn, Hà Nội.
12. Viện Bảo vệ thực vật, 1997. Phương pháp nghiên
cứu bảo vệ thực vật, tập 1. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 3-14.
13. Viện Bảo vệ thực vật, 1999a. Kết quả điều tra
côn trùng và bệnh cây ở các tỉnh miền Nam 1977-
1979. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 7-207.
14. Viện Bảo vệ thực vật, 1999b. Kết quả điều tra
côn trùng và bệnh hại cây ăn quả ở Việt Nam 1997-
1998. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 5-81.
15. Waston G.W and Chandler L.R, 1999.
Identification of mealybugs important in Caribean
Region. Egham, UK: CAB International, 40pp.
16. Williams D. J., 2004. Mealybug of southern
Asia. United Selangor Press Sdn.Bhd, 896p
Phản biện: TS. Đào Thị Hằng
THÀNH PHẦN LOÀI RỆP SÁP VẢY (Hemiptera: Coccomorpha: Diaspididae)
TRÊN CÂY VÖ SỮA Ở VIỆT NAM
Checklist of Armoured Scale Insects (Hemiptera: Coccomorpha: Diaspididae)
on Star Apple Fruit Tree in Viet Nam
Đào Thị Hằng
1
, Nguyễn Văn Liêm
1
, Lê Đức Khánh
1
, Nguyễn Thị Hoa
1
,
Nguyễn Đức Việt
1
và G. Andrew C. Beattie
Ngày nhận bài: 06.09.2018 Ngày chấp nhận: 27.09.2018
Abstract
Armoured scales, [Hemiptera: Coccomorpha: Diaspididae], are important pests on numerous fruit trees including
star apple fruit tree, one of the key fruit trees in Mekong rive delta. This paper aims to provide the identification of the
armoured scale insect species on star apple fruit tree based on the morphological and molecular characters. Eleven
species of armoured scale were recorded on star apple fruit tree in Viet Nam during 2015–2017. Some major
morphological characters of adult female of these species were give are included to provide the clues for distinghuising
the scales in the field. The molecular results indicated that the DNA sequences of armoured scale species collected on
star apple fruit tree in Viet Nam match with those available in GenBank data. The checklist of armoured scales on star
apple fruit tree in Viet Nam is also provided and discussed.
Keywords: armoured scale insect, identification, morphology, molecular
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
*
Cây vú sữa (Chrysophyllum cainito L.) là một
trong những cây ăn quả chủ lực của khu vực
1. Viện Bảo vệ thực vật, Phường Đức Thắng Bắc Từ
Liêm, Hà Nội, Việt Nam
2. Western Sydney University, Locked Bag 1797,
Penrith, NSW 2751, Australia
đồng bằng sông Cửu Long. Cây vú sữa được
trồng phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long của nước ta từ hàng trăm năm trước đây.
Gần đây vú sữa còn được trồng ở các tỉnh phía
Bắc Việt Nam. Quả vú sữa là loại trái cây bổ
dưỡng, có giá trị dinh dưỡng cao, được người
tiêu dùng ưa thích. Ngoài phục vụ nhu cầu tiêu
dùng nội địa, quả vú sữa còn có triển vọng là một
Các file đính kèm theo tài liệu này:
thanh_phan_loai_rep_sap_gia_thuoc_giong_planococcus_pseudoco.pdf