Đặc điểm trình tự đoạn gen 28S rDNA của
các mẫu rệp sáp vảy trên cây vú sữa ở vùng
nghiên cứu tương đồng với trình tự các mẫu
cùng loài trên ngân hàng gen. Trong tộc
Aspidiotini có 2 loài là O. stauntoniae và
Lindingaspis sp. không có sẵn các đoạn gen
tương ứng trên ngân hàng gen để so sánh.
Trong các mẫu của các loài rệp sáp vảy trình bày
trong hình 1, chỉ có loài Aspidiotus destructor có
ghi nhận sự khác biệt về trình tự đoạn gen 28S
rDNA so với mẫu DQ145293 (thu thập bởi
Trinidad &Tobago (Morse and Normark, 2006).
Sự biến thiên này có thể liên quan tới sự đa dạng
về hình thái và tính đa thực cũng như sự phân
bố rộng rãi của loài rệp vảy này. Cây phả hệ
cũng cho thấy sự tương quan về di truyền giữa
các loài rệp sáp vảy được phân tích phù hợp với
các nghiên cứu trước đây đã công bố (Morse &
Normark 2006).
4. KẾT LUẬN
Dựa vào đặc điểm hình thái của con cái
trưởng thành và trình tự đoạn gen 28S rDNA
của các mẫu rệp sáp vày thu thập được trên
cây vú sữa ở vùng nghiên cứu đã ghi nhận
được 11 loài rệp sáp vảy, thuộc 3 tộc
Aspidiotini, Parlatorini và Diaspidini. Đây là ghi
nhận đầu tiên về thành phần rệp sáp vảy trên
cây vú sữa ở Việt Nam. Về khu hệ rệp, có
10/11 loài rệp sáp vảy ghi nhận trong nghiên
cứu này đã được ghi nhận trước đó ở Việt
Nam. Đặc điểm hình thái của con cái trưởng
thành và mẫu lam rệp cái trưởng thành đã
được mô tả để giúp nhận biết các loài rệp sáp
vảy gây hại trên cây vú sữa ở điều kiện tự
nhiên. Kết quả phân tích trình tự đoạn gen 28S
rDNA của các mẫu rệp sáp vảy trên vú sữa ở
nước ta có trình tự đoạn gen của các mẫu đã
thu thập trong nghiên cứu này tương đồng với
các mẫu tương ứng ở ngân hàng Gen.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thành phần loài rệp sáp vảy (hemiptera: coccomorpha: diaspididae) trên cây vú sữa ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
39
7. Phạm văn Lầm, 1994. Thành phần rệp sáp hại
cây ăn quả có múi đã phát hiện được ở Việt Nam. Tạp
chí Bảo vệ thực vật, số 2.
8. Phạm Văn Lầm, 2013. Các loài côn trùng và
nhện nhỏ gây hại cây trồng phát hiện ở Việt Nam.
Quyển 1. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
9. Vũ Thị Nga, Nguy n Thị Chắt, Phạm Văn Lầm,
2005. Thành phần sâu hại cây mãng cầu xiêm
(Annona muricata L.) ở Bình Chánh (tp. Hồ Chí Minh).
Báo cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học toàn quốc
lần thứ 5, Hà Nội, ngày 11-14 tháng 4 năm 2005. Nxb
Nông nghiệp: 441-445.
10. Nguyen Thi Thuy, Pham Thi Vuong, Ha Quang
Hung, 2011. Composition of scale insects on coffee in
Daklak, Vietnam and reproductive biology of japanese
mealybug, Planococcus kraunhiae Kuwana (Hemiptera:
Pseudococcidae). J. ISSAAS, Vol. 17(2): 29-37.
11. Viện Bảo vệ thực vật, 1976. Kết quả điều tra
côn trùng 1967-1968. Nxb Nông thôn, Hà Nội.
12. Viện Bảo vệ thực vật, 1997. Phương pháp nghiên
cứu bảo vệ thực vật, tập 1. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 3-14.
13. Viện Bảo vệ thực vật, 1999a. Kết quả điều tra
côn trùng và bệnh cây ở các tỉnh miền Nam 1977-
1979. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 7-207.
14. Viện Bảo vệ thực vật, 1999b. Kết quả điều tra
côn trùng và bệnh hại cây ăn quả ở Việt Nam 1997-
1998. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 5-81.
15. Waston G.W and Chandler L.R, 1999.
Identification of mealybugs important in Caribean
Region. Egham, UK: CAB International, 40pp.
16. Williams D. J., 2004. Mealybug of southern
Asia. United Selangor Press Sdn.Bhd, 896p
Phản biện: TS. Đào Thị Hằng
THÀNH PHẦN LOÀI RỆP SÁP VẢY (Hemiptera: Coccomorpha: Diaspididae)
TRÊN CÂY VÖ SỮA Ở VIỆT NAM
Checklist of Armoured Scale Insects (Hemiptera: Coccomorpha: Diaspididae)
on Star Apple Fruit Tree in Viet Nam
Đào Thị Hằng
1
, Nguyễn Văn Liêm
1
, Lê Đức Khánh
1
, Nguyễn Thị Hoa
1
,
Nguyễn Đức Việt
1
và G. Andrew C. Beattie
Ngày nhận bài: 06.09.2018 Ngày chấp nhận: 27.09.2018
Abstract
Armoured scales, [Hemiptera: Coccomorpha: Diaspididae], are important pests on numerous fruit trees including
star apple fruit tree, one of the key fruit trees in Mekong rive delta. This paper aims to provide the identification of the
armoured scale insect species on star apple fruit tree based on the morphological and molecular characters. Eleven
species of armoured scale were recorded on star apple fruit tree in Viet Nam during 2015–2017. Some major
morphological characters of adult female of these species were give are included to provide the clues for distinghuising
the scales in the field. The molecular results indicated that the DNA sequences of armoured scale species collected on
star apple fruit tree in Viet Nam match with those available in GenBank data. The checklist of armoured scales on star
apple fruit tree in Viet Nam is also provided and discussed.
Keywords: armoured scale insect, identification, morphology, molecular
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
*
Cây vú sữa (Chrysophyllum cainito L.) là một
trong những cây ăn quả chủ lực của khu vực
1. Viện Bảo vệ thực vật, Phường Đức Thắng Bắc Từ
Liêm, Hà Nội, Việt Nam
2. Western Sydney University, Locked Bag 1797,
Penrith, NSW 2751, Australia
đồng bằng sông Cửu Long. Cây vú sữa được
trồng phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long của nước ta từ hàng trăm năm trước đây.
Gần đây vú sữa còn được trồng ở các tỉnh phía
Bắc Việt Nam. Quả vú sữa là loại trái cây bổ
dưỡng, có giá trị dinh dưỡng cao, được người
tiêu dùng ưa thích. Ngoài phục vụ nhu cầu tiêu
dùng nội địa, quả vú sữa còn có triển vọng là một
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
40
trong các mặt hàng trái cây xuất khẩu rất lớn của
Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam là quốc gia duy
nhất trên thế giới xuất khẩu vú sữa sang thị
trường Mỹ.
Rệp sáp vảy [Hemiptera: Coccomorpha:
Diaspididae] là họ lớn nhất trong tổng họ
Coccoidae. Họ rệp sáp vảy bao gồm các loài sâu
hại quan trọng đối với cây trồng nông nghiệp, cây
rừng và là đối tượng khó phân loại (Watson,
2002). Rệp sáp vảy có thể gây ra những thiệt hại
rất nghiêm trọng cho sản xuất nếu không được
phòng trừ hợp lý do nhóm côn trùng này tiết ra
độc tố truyền trực tiếp vào mô bào của cây ký
chủ gây chết cành, cây (Watson 2002). Sự tồn tại
của rệp sáp vảy trên các sản phẩm nông nghiệp
còn ảnh hưởng tới xuất khẩu nếu chúng thuộc
đối tượng kiểm dịch của nước nhập khẩu. Hầu
hết các giai đoạn trong quá trình phát triển của
rệp sáp vảy, trừ một giai đoạn trong thời gian tuổi
một trước khi hình thành lớp sáp và trưởng
thành đực có cánh, đều được bảo vệ bởi một lớp
vảy tạo lên từ protein và sợi tơ kết hợp với sáp.
Chính vì được bảo vệ dưới lớp vảy như vây nên
rệp sáp vảy là nhóm đối tượng sâu hại khó
phòng trừ bằng biện pháp hóa học không chỉ trên
cây vú sữa mà còn trên cây nhiều loại cây trồng
khác. Việc xác định chính xác các loài rệp sáp
gây hại trên cây vú sữa ở Việt Nam là tiền đề để
xây dựng các biện pháp phòng chống chúng một
cách có hiệu quả.
Ở Việt Nam, nghiên cứu của các đợt điều tra
cơ bản của Viện Bảo vệ thực vật (được thực
hiện vào các năm 1967-1968, 1977-1978 và
1997-1998) chưa có điều tra về thành phần sâu
hại trên cây vú sữa. Các nghiên cứu về sâu hại
cây vú sữa ở nước ta còn rất hạn chế. Qua quá
trình khảo sát, bước đầu ghi nhận có sự hiện
diện của các loài rệp sáp vảy trên cây vú sứa. Vì
vậy, thực hiện nghiên cứu này nhằm xác định
thành phần loài rệp sáp vảy hại cây vú sữa ở
Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu này sẽ có thể
được sử dụng trong quản lý sinh vật hại cây vú
sữa, nhất là trong điều kiện mở rộng diện tích và
thâm canh cây vú sữa để đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng về tiêu dùng trong nước cũng như
phục vụ xuất khẩu. Kết quả về thành phần loài
cũng sẽ góp phần bổ sung vào khu hệ rệp sáp
vảy ở Việt Nam. Bài báo này cung cấp cho các
độc giả kết quả điều tra, giám định tên khoa học
của các loài rệp sáp hại trên cây vú sữa ở Việt
Nam do Viện Bảo vệ thực hiện trong các năm
2015–2017.
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm thu thập mẫu
Thu thập mẫu rệp sáp vảy hại vú sữa được
tiến hành tại các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long
(Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long) và
thu thập bổ sung ở một số tỉnh miền Bắc (Hà Nội,
Hưng Yên, Hải Phòng, Ninh Bình), thu mẫu tiến
hành 3–4 lần/năm từ 2015–2017.
2.2 Phƣơng pháp thu thập và bảo quản mẫu
Thu ngắt các bộ phận bị hại (quả, lá
thân/cành) có ghi nhận sự hiện diện của rệp sáp
vảy qua quan sát bằng mắt thường. Khi thu mẫu
cần quan sát ở cả hai mặt lá và toàn bộ diện
tích bề mặt quả và cành điều tra. Mẫu thu thập
sẽ được giữ trong túi nilon có gắn nắp, ghi
thông tin mẫu (địa điểm, thời gian), các hộp mát
có hệ thống thông thoáng và chuyển về phòng
thí nghiệm để phân tích. Mẫu sẽ được lưu giữ
trong phòng mát hoặc ngăn mát tủ lanh khoảng
9-10ºC, làm mẫu trong vòng 10 ngày kể từ khi
lấy mẫu.
Mẫu thu được được phân loại sơ bộ dưới
kính lúp soi nổi, chụp ảnh và bảo quản trong cồn
70% ở nhiệt độ phòng để làm mẫu tiêu bản và
bảo quản mẫu trong dung dịch cồn tuyệt đối
trong điều kiện -20
0
C để làm tách chiết DNA.
2.3 Làm mẫu tiêu bản và giám định mẫu
Mẫu tiêu bản rệp cái trưởng thành của các
loài rệp được thực hiện theo phương pháp của
Sirisena et al. 2014). Phương pháp làm mẫu có
thể tóm tắt gồm các bước chính sau: làm sạch
mẫu trong dung dịch KOH 10% (có thể đun ở
nhiệt độ 50
0
C), sau đó rửa mẫu bằng nước cất
để loại bỏ KOH. Chuyển mẫu sang dung dịch
acid cồn (tỷ lệ Glacial Acetic: cồn 50% là 20:80)
để loại bỏ KOH còn lại trên mẫu. Sau khi mẫu
được nhuộm màu bằng acid Fuchsin, chuyển
qua dung dịch cồn đề loại bỏ nước trước khi cho
vào dầu đinh hương. Mẫu sau đó được gắn cố
định trên lam sử dụng keo đào (Canada balsam).
Giám định mẫu được thực hiện trên cơ sở
đặc điểm hình thái của rệp cái trưởng thành, dựa
theo khóa phân loại rệp sáp vảy của Williams
and Watson (1988).
2.4 Tách chiết DNA, nhân gen, phân tích
trình tự gen
Tách chiết DNA: DNA của rệp sáp vảy được
tách chiết từ một cá thể cái trưởng thành sử
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
41
dụng bộ kít tách chiết DNA QIAamp DNA Micro
Kit (QIAGEN Pty Ltd, Australia, Doncaster, VIC)
theo hướng dẫn của hãng sản xuất.
Khuyếch đại DNA. Đoạn gen 28S ribosomal
RNA (28S rDNA) của rệp được khuếch đại sử
dụng cặp mồi: 28S D-2F
(CGTGTTGCTTGATAGTGCAGC) và 28S D-2R
(TTGGTCCGTGTTTCAAGACGG) (Campbell et
al. 1993).Thành phần hỗn hợp PCR. Mỗi phản
ứng PCR có dung tích là 25 µL, gồm có các
thành phần sau: 0.05 U/mL Taq polymerase
(GoTaq
®
Flexi DNA Polymerase, Promega
Corporation); 1 × manufacturer’s buffer; 2 mM
MgCl2, 0.2 mM dNTPs; and 0.4-0.8 mM each
primer. Chu trình nhiệt cho phản ứng PCR. sử
dụng chu trình nhiệt giảm dần theo tác giả Morse
& Normark (2006). Phản ứng PCR thực hiện sử
dụng máy nhân gen an Eppendorf Master EP
thermal cycler (Eppendorf, Hamburg, Germany).
Tinh sạch sản phẩm PCR. Sản phẩm PCR
sau khi chạy điện di, được tinh sạch sử dụng
EXoSAP (Exonuclease I (New England Biolabs
®
Inc., Ipswich, Massachusetts, USA) và shrimp
alkaline phosphatase (Promega)), theo quy trình
của hãng sản xuất.
Giả trình tự DNA. Sản phẩm PCR tinh sạch
được đọc trình tự bởi AITbiotech Pte Ltd, the
Rutherford Science Park 1, 89 Science Park
Drive, #01-08, Singapore. Trình tự gen thu được
được phân tích và thiết lập cây phả hệ sử dụng
phần mềm MEGA 6 (Tamura và nnk. 2013).
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần rệp sáp vảy hại cây vú sữa
Kết quả điều tra từ 2015–2017 đã ghi nhận
được 11 loài rệp sáp vảy trên cây vú sữa ở các
tỉnh Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long và
điều tra bổ sung ở các tỉnh phía Bắc (Bảng 1).
Các loài rệp sáp vảy ghi nhận trên cây vú sữa
thuộc 3 tộc Aspidiotini, Parlatorini và Diaspidini.
Các loài xuất hiện với tần suất bắt gặp cao gồm
có C. bifasciculatus, H. lataniae, và H. palmae.
Các loài còn lại có tần suất bắt gặp trung bình và
thấp. So sánh với khu hệ rệp sáp vảy trên cây
trồng ở Việt Nam, có 9 loài trong tổng số 11 loài
đã được ghi nhận tại Việt Nam (Morales 2016,
cập nhật 20 tháng 7 năm 2018). Bên cạnh đó,
Lepidosaphes sp. có nhiều đặc điểm khác biệt
với các loài thuộc chi Lepidosaphes đã được ghi
nhận ở Việt Nam. Chưa có loài nào thuộc chi
Lindingaspis trước đây chưa được ghi nhận tại
Việt Nam. Việc ghi nhận được 11 loài rệp sáp
vảy trên cây vú sữa ở vùng điều tra của nghiên
cứ này là rất có ý nghĩa vì trước đó chưa có ghi
nhận công bố về thành phần rệp sáp vảy hại trên
cây vú sữa ở Việt Nam nào được công bố.
Trên thế giới, ScaleNet đã liệt kê 10 loài rệp
sáp vảy hại trên các cây trồng thuộc chi
Chrysophyllum (Morales 2016). So sánh với
thành phần loài rệp sáp vảy trên vú sữa trên thế
giới, chúng tôi nhận thấy có 4 loài trùng với
thành phần ghi nhận trong nghiên cứu này (A.
aurantii, H. lataniae, H. palmae và O.
stauntoniae) (Morales 2016). Tám loài rệp sáp
còn lại trong thành phần loài ghi nhận trong
nghiên cứu này chưa được ghi nhận trên các
cây trồng thuộc chi Chrysophyllum trong các tài
liệu công bố trước đó.
Bảng 1. Thành phần rệp sáp vảy trên cây vú sữa từ 2015-2017
tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
STT Tên loài Địa điểm thu thập Bộ phận bị hại Mức độ phổ biến
1 Aonidiella aurantii
(Maskell)
Bến Tre Cần Thơ, Tiền Giang, lá +
2 Aonidiella citrina
(Coquillett)
Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang, lá ++
3 Aspidiotus destructor
(Signoret)
Bến Tre,Cần Thơ, Hà Nội,
Hải Phòng
lá ++
4 Chrysomphalus
bifasciculatus (Linnaeus)
Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang, lá +++
5 Hemiberlesia lataniae
(Signoret)
Cần Thơ, Hải Phòng, Hưng Yên,
Ninh Bình
lá +++
6 Hemiberlesia palmae
(Cokerrell)
Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang lá +++
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
42
STT Tên loài Địa điểm thu thập Bộ phận bị hại Mức độ phổ biến
7 Lepidosaphes sp. Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang lá, cành ++
8 Lindingaspis sp. Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang lá ++
9 Parlatoria proteus
Signoret
Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang, Lá, cành +
10 Pseudaulacaspis
cockerelli (Cooley)
Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang, lá ++
11 Octaspidiotus
stauntoniae (Takahashi)
Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang, lá ++
* Tần suất bắt gặp: +++ (>50% số lần điều tra bắt gặp); ++ (25-50% số lần điều tra bắt gặp); +
(<25% số lần điều tra bắt gặp).
Kết quả điều tra cho thấy hầu hết các loài rệp
sáp vảy hại cây vú sữa ở vùng nghiên cứu
thường xuất hiện trên lá cây vú sữa. Hai loài rệp
sáp có tần suất bắt gặp cao trên cây vú sữa, H.
lataniae và H. palmae có đặc điểm là thường
xuất hiện và gây hại ở mặt dưới của lá cây vú
sữa, vì cơ thể của các loài rệp này thường được
bao phủ bởi lớp lông màu vàng đậm, là đặc điểm
thực vật học của cây vú sữa, nên rất khó phát
hiện sự hiện diện của chúng trên cây bị hại. Vì
vậy, trong quá trình khảo sát cần kiểm tra kỹ mặt
dưới lá cây, nếu quan sát thấy có vết nhô lên thì
cần nhẹ nhàng tách lớp vảy lông ra để kiểm tra
kỹ. Ngoài ra, trong trường hợp cây bị hại rệp sáp
nặng thì lá bị hại có thể d dàng được phát hiện
khi quan sát bề mặt trên của lá. Do khi đó bề mặt
trên của lá có các vệt màu vàng do độc tố rệp tiết
ra làm phá hủy diệp lục.
3.2 Đặc điểm hình thái của các loài rệp sáp
vảy trên vú sữa
Một số đặc điểm hình thái chính của rệp sáp
vảy cái trưởng thành được mô tả trong Bảng 2.
Bảng 2. Một số đặc điểm hình thái của các loài rệp sáp vảy hại cây vú sữa
dựa vào đặc điểm rệp cái trƣởng thành
TT Tên loài Đặc điểm hình thái rệp sống Đặc điểm hình thái mẫu lam
1 Aonidiella aurantii
(Maskell)
tròn, đỏ nâu, gần phía mép màu
trắng đục, vỏ sáp bán trong suốt
Phía đầu hóa kitin, phát triển kéo dài
xuống phần đuôi, có mấu cứng ở phía
trước bộ phận sinh dục ở mặt lưng
phần đuôi và các mầu lồi ở phần đuôi
2 Aonidiella citrina
(Coquillett)
tròn, dẹt, vàng chanh hoặc vàng
nâu, gần mép trắng đục, vỏ sáp
bán trong suốt
Có mấu cứng ở phía trước bộ phận
sinh dục ở mặt lưng phần đuôi, không
có các mầu lồi ở phần đuôi
3 Aspidiotus destructor
(Signoret)
mỏng, màu vàng nhạt, vảy sáp
trong suốt, tròn, hoặc hơi thon. Cơ
thể của trưởng thành cái ở dưới
lớp vảy có màu vàng
Không hóa kitin, đuôi, có 3 đôi thùy khá
phát triển và không có thùy thứ 4. Thùy
giữa kéo dài, chiều dài tương đương
chiều rộng và ngắn hơn thùy cạnh
4 Chrysomphalus
bifasciculatus
(Linnaeus)
tròn, màu nâu đậm, mép viền
vàng, cơ thể dưới lớp sáp màu
vàng
Phần đầu và ngực không hóa cứng
(membranous), 3 cặp thùy phát triển,
cặp thứ 4 thay bằng đường răng cưa ở
mép ngoài của đuôi
5 Hemiberlesia lataniae
(Signoret)
vàng nhạt, hơi dài, phần ở giữa
trong suốt, phía mép ngoài màu
trắng
Lỗ hậu môn lớn, tất cả các mấu bên
(paraphyses) đều ngắn hơn thùy giữa,
hai thùy giữa sát nhau
6 Hemiberlesia palmae
(Cokerrell)
nâu, ở giữa màu nâu đen, cơ thể
rệp dưới lớp sáp màu vàng nhạt,
lồi
Lỗ hậu môn lớn, tất cả các mấu bên
(paraphyses) đều ngắn hơn thùy giữa,
hai thủy giữa không sát nhau, khoảng
cách giữa chúng tương đương kích
thước của một thùy
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
43
TT Tên loài Đặc điểm hình thái rệp sống Đặc điểm hình thái mẫu lam
7 Lepidosaphes sp. Nâu, dài, thuôn nhỏ về phía đầu. thường cấu trúc dạng membrane, một số
loài phần ngực hóa kitin, các thùy ở phía
rìa của các đốt bụng còn lại phát triển
8 Lindingaspis sp. Cơ thể tròn, dẹt, màu nâu đậm
9 Parlatoria proteus
Signoret
vàng nhạt, về phía mép màu nhạt
hơn, lớp vỏ sáp trong, hơi thuôn
dài (hình ovan)
dạng membranous, phần giữa các thùy ở
đuôi dạng tua, eyespot phát triển
10 Pseudaulacaspis
cockerelli (Cooley)
thuôn dài, màu trắng, bán trong
suốt
thùy bên của các đốt bụng còn lại phát
triển, thùy giữa phát triển, hợp lại ở phần
gốc, có một đôi gai ở giữa 2 thùy giữa.
11 Octaspidiotus
stauntoniae
(Takahashi)
nâu xám, bán trong suốt, mỏng,
dẹt, tròn
kitin hóa ở giai đoạn trưởng thành, thùy
phía mép ngoài rộng, mỗi thùy có một
đến vài lông cứng
3.3 Đặc điểm trình tự gen của các loài rệp
sáp vảy trên vú sữa
Chúng tôi đã tách chiết DNA và nhân gen thành
công đoạn gen 28S rDNA của các mẫu rệp sáp vảy
trên cây vú sữa thu thập được từ vùng nghiên cứu.
Kích thước đoạn gen 28S rDNA của trong nghiên
cứu này có 655 cặp nucleotide. Các trình tự đoạn
gen của các mẫu rệp và một số đoạn gen của các
loài rệp sáp vảy tương ứng ở ngân hàng gen đã
được kết hợp lại để xây dựng cây phả hệ
(maximum likelihood analysis) (hình 1).
Hình 1. Cây phát sinh chủng loại Maximum Likelihood (ML) vùng gen 28S rDNA của các loài
rệp sáp vảy thu thập trên cây vú sữa tại Việt Nam dựa trên Kimura 2-parameter model sử dụng
phần mềm MEGA6 (Các mẫu thu thập tại Việt Nam có ký hiệu VIE***, các mẫu tham khảo từ
ngân hàng gen có mã số kèm theo).
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
44
Đặc điểm trình tự đoạn gen 28S rDNA của
các mẫu rệp sáp vảy trên cây vú sữa ở vùng
nghiên cứu tương đồng với trình tự các mẫu
cùng loài trên ngân hàng gen. Trong tộc
Aspidiotini có 2 loài là O. stauntoniae và
Lindingaspis sp. không có sẵn các đoạn gen
tương ứng trên ngân hàng gen để so sánh.
Trong các mẫu của các loài rệp sáp vảy trình bày
trong hình 1, chỉ có loài Aspidiotus destructor có
ghi nhận sự khác biệt về trình tự đoạn gen 28S
rDNA so với mẫu DQ145293 (thu thập bởi
Trinidad &Tobago (Morse and Normark, 2006).
Sự biến thiên này có thể liên quan tới sự đa dạng
về hình thái và tính đa thực cũng như sự phân
bố rộng rãi của loài rệp vảy này. Cây phả hệ
cũng cho thấy sự tương quan về di truyền giữa
các loài rệp sáp vảy được phân tích phù hợp với
các nghiên cứu trước đây đã công bố (Morse &
Normark 2006).
4. KẾT LUẬN
Dựa vào đặc điểm hình thái của con cái
trưởng thành và trình tự đoạn gen 28S rDNA
của các mẫu rệp sáp vày thu thập được trên
cây vú sữa ở vùng nghiên cứu đã ghi nhận
được 11 loài rệp sáp vảy, thuộc 3 tộc
Aspidiotini, Parlatorini và Diaspidini. Đây là ghi
nhận đầu tiên về thành phần rệp sáp vảy trên
cây vú sữa ở Việt Nam. Về khu hệ rệp, có
10/11 loài rệp sáp vảy ghi nhận trong nghiên
cứu này đã được ghi nhận trước đó ở Việt
Nam. Đặc điểm hình thái của con cái trưởng
thành và mẫu lam rệp cái trưởng thành đã
được mô tả để giúp nhận biết các loài rệp sáp
vảy gây hại trên cây vú sữa ở điều kiện tự
nhiên. Kết quả phân tích trình tự đoạn gen 28S
rDNA của các mẫu rệp sáp vảy trên vú sữa ở
nước ta có trình tự đoạn gen của các mẫu đã
thu thập trong nghiên cứu này tương đồng với
các mẫu tương ứng ở ngân hàng Gen.
Lời cảm ơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Tiến sỹ Gillian
Watson, Sở Thực phẩm và Nông nghiệp của
bang California, Mỹ đã giúp đỡ trong việc phân
loại rệp sáp vảy và Quỹ Phát triển Khoa học và
Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) đã tài trợ cho
nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Viện Bảo vệ thực vật. 1999. Điều tra cơ bản sâu
bệnh hại cây ăn quả ở Việt Nam năm 1997-1998. Nhà
xuất bản nông nghiệp.
2. Viện Bảo vệ thực vật. 1978. Điều tra cơ bản sâu
bệnh hại cây trồng ở phía Nam năm 1967-1968. Nhà
xuất bản nông nghiệp.
3. García Morales, M., Denno, B., Miller, D.R.,
Miller, G.L., Ben-Dov, Y. & Hardy, N.B. (2016)
ScaleNet: a literature-based model of scale insect
biology and systematics. (Accessed
20 July 2018).
bis/diaspididae.php?menuentry=inleiding [accessed
April 2014]
4. Morse GE, Normark BB. 2006. A molecular
phylogenetic study of armoured scale insects
(Hemiptera: Diaspididae). Systematic Entomology 31:
338–349.
5. Sirisena, U.G.A.I., Watson, G.W., Hemachandra,
K.S. & Wijayagunasekara, H.N.P. (2013) A modified
technique for the preparation of specimens of
Sternorrhyncha for taxonomic studies. Tropical
Agricultural Research, 24, 139–149.
6. Tamura K., Stecher G., Peterson D., Filipski A.,
and Kumar S. (2013). MEGA6: Molecular Evolutionary
Genetics Analysis version 6.0. Molecular Biology and
Evolution30: 2725-2729.
7. Watson G.W., 2002. Arthropods of Economic
Importance: Diaspididae of the World. (Series Title:
World Biodiversity Database). ETI Information Services
(Expert Center for Taxonomic Identification), Berkshire.
8. Williams & Watson. 1988. The Scale Insects of
the Tropical South Pacific Region. Part 1. The
Armoured Scales (Diaspididae). CAB International
Institute of Entomology. The Cambrian News Ltd.,
Aberystwyth.
Phản biện: TS. Phạm Văn Nhạ
Các file đính kèm theo tài liệu này:
thanh_phan_loai_rep_sap_vay_hemiptera_coccomorpha_diaspidida.pdf