Kết luận và kiến nghị
4.1 Kết luận
– Đã xác định được 52 loài thuộc 28 giống,
13 họ của 6 bộ: bộ Arcoida, bộ Mytiloida, bộ
Ostreoida, bộ Pectinoida, bộ Pterioida và bộ
Veneroida ở vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên. Trong
13 họ của lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia), 4 họ có số
lượng trên 5 loài. Trong đó, lần lượt xếp thứ tự đa
dạng là họ Sò – Arcidae (9 loài); họ Ngao
(Veneridae), họ Hàu (Ostreidae) và họ Rẽ quạt
(Pectinidae) mỗi họ có 6 loài.
– Đã xác định được có 9 loài động vật Hai
mảnh vỏ (Bivalvia) có giá trị bảo tồn ở các Thứ
hạng Nguy cấp khác nhau. Theo IUCN (2018), hai
loài động vật Hai mảnh vỏ được ghi nhận vào
Danh lục Đỏ thế giới (IUCN, 2018) thuộc thứ hạng
Ít quan tâm. Tám loài Hai mảnh vỏ ở vùng biển ven
bờ tỉnh Phú Yên được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam
(2007), trong đó sáu loài thuộc thứ hạng Sẽ nguy cấp
và hai loài thuộc thứ hạng Nguy cấp. Theo Quyết
định 82/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, có tám loài động vật Hai mảnh vỏ ở
thứ hạng Sẽ nguy cấp.
– Trong số 52 loài động vật Hai mảnh vỏ, đã
xác định được 26 loài có giá trị kinh tế. Trong đó
nhiều loài hình thành được sản lượng khai thác,
đối tượng nuôi thả và có giá trị kinh tế cao như Sò
huyết, Sò lông, Vẹm xanh, Nghêu, Ngao.
– Nơi có nền đáy là bùn cát, thành phần loài
phân bố phong phú gồm 16 loài (30,77%). Tiếp theo
là nơi có nền đáy cát bùn với 15 loài (28,85%). Các
loài sống ở trên sỏi đá. không nhiều, đã ghi nhận
được 11 loài (21,15%). Số loài động vật Hai mảnh
vỏ bám vào giá thể cứng ít nhất, với 10 loài
(19,23%).
4.2 Kiến nghị
– Cần nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh
học của một số loài động vật Hai mảnh vỏ có giá
trị kinh tế để từ đó xây dựng và ứng dụng một số
mô hình nuôi thả phù hợp với điều kiện tự nhiên
của tỉnh Phú Yên.
– Cần nghiên cứu thị trường tiêu thụ của
động vật Hai mảnh vỏ cũng như công nghệ bảo
quản, chế biến nhằm đa dạng hóa sản phẩm, nâng
cao chất lượng sản phẩm cũng như tăng thu nhập
cho người dân.
– Cấm, hạn chế khai thác trong thời kì sinh
sản của các loài động vật Thân mềm Hai mảnh vỏ
tại các bãi giống vào khoảng tháng 4 đến tháng 6
hàng năm.
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thành phần loài và đặc điểm phân bố nhóm động vật hai mảnh vỏ (Bivalvia) vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 95–105, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5138 95
THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ NHÓM ĐỘNG VẬT
HAI MẢNH VỎ (BIVALVIA) VÙNG BIỂN VEN BỜ TỈNH PHÚ YÊN
Võ Văn Quý*, Ngô Thị Bảo Châu
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam
* Tác giả liên hệ Võ Văn Quý
(Ngày nhận bài: 06-03-2019; Ngày chấp nhận đăng: 07-04-2020)
Tóm tắt. Trên cơ sở nguồn tư liệu thu thập nhiều năm, kết hợp các dẫn liệu từ kết quả “Điều tra, đánh
giá, đề xuất các khu bảo vệ, bảo tồn sinh thái cảnh quan vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên”, đã ghi nhận
được ở vùng ven bờ biển tỉnh Phú Yên có 52 loài thuộc 28 giống, 13 họ, 6 bộ của lớp Hai mảnh vỏ
(Bivalvia). Trong 13 họ có 4 họ với số lượng trên 5 loài, lần lượt xếp thứ tự đa dạng là họ Sò – Arcidae (9
loài); họ Ngao (Veneridae), họ Hàu (Ostreidae) và họ Rẽ quạt (Pectinidae) mỗi họ có 6 loài. Đã xác định
được 9 loài quý hiếm có giá trị bảo tồn, trong đó 2 loài động vật Hai mảnh vỏ được ghi nhận vào Danh
lục Đỏ thế giới (IUCN, 2018) thuộc thứ hạng Ít quan tâm (LC). Tám loài Hai mảnh vỏ ở vùng biển ven bờ
tỉnh Phú Yên được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam (2007), trong đó sáu loài thuộc thứ hạng Sẽ Nguy cấp (VU)
và hai loài thuộc thứ hạng Nguy Cấp (EN). Theo Quyết định 82/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn: có 8 loài động vật Hai mảnh vỏ (Bivalvia) ở thứ hạng Sẽ Nguy cấp. Đồng thời, đã xác định
được 26 loài có giá trị kinh tế. Thành phần loài có phân bố phong phú: nền đáy là bùn cát (30,77%), nền
đáy cát bùn (28,85%), trên sỏi đá (21,15%) và trên giá thể cứng (19,23%).
Từ khóa: thành phần loài, hai mảnh vỏ, Phú Yên
Species composition and distribution characteristics of Bivalvia in the
coastal ecosystem of Phu Yen
Vo Van Quy*, Ngo Thi Bao Chau
University of Sciences, Hue University, 77 Nguyen Hue St., Hue, Vietnam
* Correspondence to Vo Van Quy
(Received: 06 March 2019; Accepted: 07 April 2020)
Abstract. From the data collected over many years and the results of "Survey, assessment, and
proposition of protected areas, preserved ecological landscape of the coastal waters of Phu Yen
province", 52 species belonging to 28 genera, 13 families, 6 orders of Bivalvia were identified. In the 13
families recorded, 4 families consist of more than 5 species: Arcidae (9 species), Veneridae (6 species),
Ostreidae (6 species), and Pectinidae (6 species). The results reveal that there are nine rare and
endangered species with high conservation values, two of which are classified into LC (Least concern)
listed in IUCN Red List 2018. Eight species are listed in Vietnam’s Red Data Book (2007), including two
Endangered species (EN) and six Vulnerable species (VU). Eight species are classified into Vulnerable,
listed in Decision 82/2008 issued by Vietnam’s Ministry of Agriculture & Rural development. In addition,
26 species have economic values. The species composition habitat is relatively versatile: basal layer of
Võ Văn Quý và Ngô Thị Bảo Châu
96
loam soil with some sand (30,77%), basal layer of sandy soil with some loam (28,85%); rocks (21,15%),
and solid supports (19,23%).
Keywords: species composition, Bivalvia, Phu Yen
1 Đặt vấn đề
Tỉnh Phú Yên có đường bờ biển dài với các
hệ sinh thái (HST) điển hình của vùng cửa sông,
đầm phá, rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển
và các đảo nhỏ gần bờ. Vùng sinh thái này có tính
đa dạng sinh học cao, góp phần phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh và duy trì đời sống của cộng đồng
dân cư ven biển. Động vật Hai mảnh vỏ (Bivalvia)
là một trong những nhóm loài có tính đa dạng
thành phần loài cao trong các hệ sinh thái, đóng vai
trò quan trọng trong nền kinh tế biển vì chúng
được xem là mặt hàng xuất khẩu đem lại giá trị
thương phẩm cao và là nguồn thực phẩm có giá trị
dinh dưỡng đối với con người.
Tuy nhiên, do tình hình khai thác quá mức,
vấn đề ô nhiễm môi trường, chuyển đổi hình thức
sản xuất nên nguồn lợi động vật Hai mảnh vỏ đang
bị giảm sút, một số loài bị tuyệt chủng hoặc không
thấy xuất hiện. Trong khi đó, số liệu về đa dạng
thành phần loài, nguồn lợi động vật Hai mảnh vỏ
trong các hệ sinh thái Việt Nam nói chung và tỉnh
Phú Yên nói riêng hiện nay lại chưa có sự thống
nhất, chủ yếu được tập hợp từ nhiều nguồn tư liệu
riêng lẻ. Chính vì thế, việc thực hiện những chương
trình nghiên cứu tổng thể về đa dạng sinh học, hiện
trạng nguồn lợi động vật Hai mảnh vỏ là rất cần
thiết trong thời điểm hiện tại.
Từ những vấn đề cấp thiết đó, chúng tôi đã
tiến hành “Điều tra thành phần loài động vật Hai
mảnh vỏ (Bivalvia) ở vùng biển ven bờ tỉnh Phú
Yên” nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học, bảo
vệ nguồn lợi và quản lý tổng hợp tài nguyên sinh
học ở vùng biển ven bờ theo hướng bền vững.
2 Đối tượng, thời gian, địa điểm và
phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là các loài Hai mảnh
vỏ (Bivalvia) ở các hệ sinh thái thuộc vùng biển ven
bờ tỉnh Phú Yên.
2.2 Thời gian
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6/2017 đến
tháng 12/2018.
2.3 Địa điểm
Nghiên cứu được tiến hành tại vùng biển
ven bờ tỉnh Phú Yên bao gồm vùng Đầm Cù Mông,
vùng Đầm Ô Loan, vùng cửa Đà Diễn, vùng cửa
Đà Nông và các vùng biển ven bờ (bao gồm cả
Vũng Rô): vùng biển thuộc thị xã Sông Cầu, vùng
biển huyện Tuy An, vùng biển thành phố Tuy Hòa,
vùng biển huyện Đông Hòa và các hệ sinh thái rạn
san hô vùng biển ven bờ của tỉnh (Bảng 1).
Bảng 1. Địa điểm nghiên cứu tại vùng biển ven bờ tỉnh
Phú Yên
STT Vùng/Địa điểm nghiên cứu
Ký
hiệu
1 Vùng đầm Cù Mông V1
2 Vùng đầm Ô Loan V2
3 Vùng cửa Đà Diễn V3
4 Vùng cửa Đà Nông V4
5 Vùng biển ven bờ thị xã Sông Cầu V5
6 Vùng biển ven bờ huyện Tuy An V6
7 Vùng biển ven bờ thành phố Tuy Hòa V7
8 Vùng biển ven bờ huyện Đông Hòa V8
9
Các rạn san hô vùng biển ven bờ tỉnh Phú
Yên
V9
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 95–105, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5138 97
2.4 Tư liệu và phương pháp
a. Tư liệu
Các số liệu, dữ liệu được tập hợp và hồi cố
các số liệu đã được tác giả công bố và các tác giả
khác trong và ngoài nước liên quan đến tài nguyên
sinh học trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Ngoài ra,
nguồn số liệu được thu thập sơ cấp thông qua Niên
giám thống kê các năm, các báo cáo tình hình khai
thác thủy sản, nông nghiệp, báo cáo phát triển kinh
tế – xã hội tại vùng nghiên cứu [1, 5, 6].
Dữ liệu để xác định thành phần loài nhóm
động vật Hai mảnh vỏ là kết quả của quá trình
khảo sát và thu mẫu thực địa, các câu trả lời của
người dân qua phiếu câu hỏi điều tra soạn sẵn liên
quan đến các hoạt động sản xuất và khai thác các
nguồn lợi Hai mảnh vỏ.
b. Phương pháp
Thu mẫu ngoài thực địa
Nghiên cứu đã tiến hành lựa chọn 9 điểm
mang tính chất điển hình (Bảng 1). Sử dụng cào,
vợt, hoặc tay để bắt các loài Hai mảnh vỏ tại các bãi
ven bờ. Ngoài ra, còn tiến hành trực tiếp thu mua
mẫu ở các khu vực nghiên cứu hoặc ở các chợ
quanh khu vực nghiên cứu tại địa bàn. Các mẫu
vật được định hình trong dung dịch formaldehyde
4% kèm theo nhãn, ghi rõ tên địa điểm và thời gian
thu mẫu.
Thành phần loài động vật hai mảnh vỏ được
xác định theo các tài liệu định loại dựa vào phương
pháp so sánh hình thái của Đặng Ngọc Thanh, Thái
Trần Bái, Phạm Văn Miên [2] Nguyễn Xuân Quýnh
[3] và Nguyễn Văn Khôi [4].
Điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác
– Điều tra ngoài thực địa và thông qua các
báo cáo của Sở Thủy sản địa phương, xác định các
loại ngư cụ/phương tiện khai thác trong vùng, tính
toán sản lượng khai thác từ các loại nghề theo
tháng, theo năm.
– Tiến hành phỏng vấn trực tiếp các chủ
phương tiện, ngư dân, các thương nhân buôn bán
thủy sản các thông tin về: loại nghề, sản lượng, địa
điểm khai thác, mùa vụ, thị trường tiêu thụ, sự
phân bố nguồn lợi thủy sản thông qua các bảng
câu hỏi phỏng vấn chuẩn được in sẵn theo mẫu
biểu phỏng vấn khai thác thủy sản.
3 Kết quả
3.1 Thành phần loài Hai mảnh vỏ (Bivalvia)
vùng biển ven bờ
Quá trình điều tra, nghiên cứu đã xác định
được 52 loài thuộc 28 giống, 13 họ của 6 bộ: bộ
Arcoida, bộ Mytiloida, bộ Ostreoida, bộ
Pectinoida, bộ Pterioida và bộ Veneroida (Bảng 2)
của lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia).
Bảng 2. Cấu trúc thành phần loài Hai mảnh vỏ (Bivalvia) vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên
STT Bộ
Họ Giống Loài
Tên khoa học Tên Việt Nam SL TL (%) SL TL (%)
1 Arcoida Arcidae Họ Sò 3 10,71 9 17,31
2 Mytiloida Mytilidae Họ Vẹm 4 14,28 4 7,69
3 Ostreoida Ostreidae Họ Hàu 2 7,14 6 11,54
Pinnidae Họ Bàn mai 2 7,14 5 9,61
4 Pectinoida Anomiidae Họ Điệp cánh 2 7,14 2 3,85
Placunidae Họ Điệp 1 3,58 1 1,92
Pectinidae Họ Rẽ quạt 4 14,28 6 11,54
Võ Văn Quý và Ngô Thị Bảo Châu
98
STT Bộ
Họ Giống Loài
Tên khoa học Tên Việt Nam SL TL (%) SL TL (%)
5 Pterioida Pteriidae Họ Trai ngọc 1 3,58 4 7,69
6 Veneroida Mactridae Họ Vọp 2 7,14 4 7,69
Cardiidae Họ Sò nứa 2 7,14 2 3,85
Solenidae Họ Sò móng tay 1 3,58 1 1,92
Tridacnidae Họ Trai tượng 1 3,58 2 3,85
Veneridae Họ Ngao 3 10,71 6 11,54
Tổng 6 13 13 28 100,00 52 100,00
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng về
thành phần loài Hai mảnh vỏ ở các thủy vực vùng
ven bờ biển tỉnh Phú Yên thể hiện rõ ở các bậc phân
loại (Taxon) từ loài đến giống, họ (Bảng 2 và
Hình 1).
Hình 1. Cấu trúc thành phần loài Hai mảnh vỏ vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên
– Về taxon bậc loài: họ Sò (Arcidae) là ưu thế
nhất với 9 loài (17,31%); tiếp theo là họ Ngao
(Veneridae), họ Hàu (Ostreidae) và họ Rẽ quạt
(Pectinidae) đều có 6 loài (11,54%). Họ Bàn mai
(Pinnidae) có 5 loài (9,61%). Họ Vẹm (Mytilidae),
họ Vọp (Mactridae) và họ Trai ngọc (Pteriidae) mỗi
họ có 4 loài (7,69%). Họ Điệp cánh (Anomiidae), họ
Sò nứa (Cardiidae) và họ Trai tượng (Tridacnidae)
mỗi họ có 2 loài (3,85%). Hai họ còn lại là họ Điệp
(Placunidae) và họ Sò móng tay (Solenidae) mỗi họ
chỉ có 1 loài (1,92%) (Hình 2).
Hình 2. Đa dạng taxon bậc loài của lớp Hai mảnh vỏ
vùng ven bờ biển tỉnh Phú Yên
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 95–105, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5138 99
– Về taxon bậc giống: họ Vẹm (Mytilidae) và
họ Rẽ quạt (Pectinidae) có 4 giống (13,33%). Họ Sò
(Arcidae) và họ Ngao (Veneridae) mỗi họ có 3
giống (10,71%). Họ Hàu (Ostreidae), họ Trai ngọc
(Pteridae), họ Bàn mai (Pinnidae), họ Điệp cánh
(Anomiidae) và họ Vọp (Mactridae) có 2 giống
(7,14%). Bốn họ còn lại là họ Điệp (Placunidae), họ
Trai ngọc (Pteriidae), họ Trai tượng (Tridacnidae)
và họ Sò móng tay (Solenidae) mỗi họ chỉ có 1
giống (3,58%) (Hình 3).
– Về taxon bậc họ: Sáu bộ thuộc lớp Hai mảnh
vỏ (Bivalvia) đã được xác định tại vùng biển ven
bờ tỉnh Phú Yên. Trong đó, bộ Veneroida có 5 họ
(38,46%); bộ Pectinida có 3 họ (23,08%); bộ Ostreida
có 2 họ (15,38%). Còn lại ba bộ: Arcoida, Mytilida
và Pterioida mỗi bộ chỉ có 1 họ (7,69%).
Hình 3. Đa dạng taxon bậc giống của lớp Hai mảnh vỏ
vùng ven bờ biển tỉnh Phú Yên
3.2 Các nhóm loài ưu thế
Nghiên cứu thành phần loài động vật lớp
Hai mảnh vỏ (Bivalvia) ở vùng biển ven bờ tỉnh
Phú Yên cho thấy có sự phân bố không đều về số
loài trong các bộ cũng như trong các họ. Trong 6
bộ, 13 họ của lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia), 4 họ có
từ 5 loài trở lên (Bảng 3). Trong đó, lần lượt xếp thứ
tự đa dạng là họ Sò – Arcidae (9 loài), họ Ngao
(Veneridae), họ Hàu (Ostreidae) và họ Rẽ quạt
(Pectinidae), mỗi họ có 6 loài.
3.3 Các loài quý, hiếm có giá trị bảo tồn
Trong số 52 loài Hai mảnh vỏ ở vùng ven bờ
biển tỉnh Phú Yên, đã ghi nhận 9 loài có giá trị bảo
tồn ở các thứ hạng Nguy cấp khác nhau được ghi
tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ
IUCN (2017) và Quyết định 82/2008 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (Bảng 4).
– Theo IUCN (2017): Hai loài động vật Hai
mảnh vỏ được xếp vào thứ hạng Ít quan tâm (LC).
Như vậy, động vật Hai mảnh vỏ phân bố ở vùng
biển ven bờ tỉnh Phú Yên có giá trị bảo tồn theo
IUCN (2017) không cao.
– Theo SĐVN (2007): ở vùng biển ven bờ
tỉnh Phú Yên có 8 loài, trong đó 2 loài thuộc thứ
hạng Nguy cấp (EN) và 6 loài thuộc thứ hạng Sẽ
nguy cấp (VU).
– Theo Quyết định 82/2008 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, tám loài động vật
Hai mảnh vỏ ở thứ hạng Sẽ nguy cấp.
Bảng 3. Các nhóm loài ưu thế trong lớp Hai mảnh vỏ vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên
STT Tên họ
Giống Loài
SL TL (%) SL TL (%)
1 Arcidae 3 10,71 9 17,31
2 Ostreidae 2 7,14 6 11,54
3 Pectinidae 4 14,28 6 11,54
4 Veneridae 3 10,71 6 11,54
Tổng 12 42,84 27 51,93
Võ Văn Quý và Ngô Thị Bảo Châu
100
Bảng 4. Các loài Hai mảnh vỏ (Bivalvia) quý, hiếm có giá trị bảo tồn vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên
TT Tên khoa học Tên Việt Nam
Thứ hạng bảo tồn
IUCN
(2017)
SĐVN
(2007)
QĐ
82/2008
1 Perna viridis (Linnaeus, 1758) Vẹm xanh VU
2 Pinctada margaritifera (Linnaeus, 1758) Trai ngọc môi đen VU VU
3 Pinctada maxima (Jameson, 1901) Trai ngọc môi vàng VU VU
4 Pinctada penguin (Roding, 1798) Trai ngọc nữ VU VU
5 Tridacna squamosa Lamarck, 1819 Trai tai tượng nhỏ LC VU VU
6 Tridacna maxima (Roding, 1798) Trai tai tượng lớn VU VU
7 Tridacna crocea Lamarck, 1819 Trai tai nghé LC VU
8 Lutraria rhynchaena Jonas, 1844 Tu hài EN VU
9 Pinna vexillum (Born, 1778) Bàn mai đen EN VU
3.4 Các loài có giá trị kinh tế
Theo kinh nghiệm truyền thống, loài kinh tế
là những loài có giá trị thương phẩm, khai thác có
sản lượng cao, phổ biến quanh năm và được người
dân địa phương ưa chuộng. Theo đó, đã ghi nhận
được 26 loài Hai mảnh vỏ có giá trị kinh tế phân bố
ở vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên (Bảng 5).
Bảng 5. Các loài Hai mảnh vỏ (Bivalvia) có giá trị kinh tế vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên
TT Tên khoa học Tên Việt Nam
1 Anadara subcrenata (Lischke, 1869) Sò lông
2 Anadara granosa (Linnaeus, 1758) Sò huyết
3 Anadara antiquata (Linnaeus, 1858) Sò quéo
4 Anadara globosa (Reeve, 1844) Sò hình cầu
5 Anadara nodifera (Martens, 1860) Sò nodi
6 Arca navicularis Bruguière, 1789 Sò navi
7 Barbatia virescens (Reeve, 1844) Sò xanh
8 Brachyodontes emarginatus (Reeve, 1858) Quéo
9 Perna viridis (Linnaeus, 1758) Vẹm xanh
10 Crasscostrea rivularis (Gould, 1864) Hàu cửa sông
11 Pinna vexillum (Born, 1778) Bàn mai đen
12 Pinna bicolor Gmelin, 1791 Bàn mai tím
13 Placuna placenta (Linnaeus, 1758) Điệp tròn/Điệp giấy
14 Chlamys nobilis (Reeve, 1952) Sò điệp/Điệp quạt
15 Pinctada margaritifera (Linnaeus, 1758) Trai ngọc môi đen
16 Pinctada maxima (Jameson, 1901) Trai ngọc môi vàng
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 95–105, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5138 101
TT Tên khoa học Tên Việt Nam
17 Pinctada penguin (Roding, 1798) Trai ngọc nữ
18 Pinctada martensii (Dunker, 1880) Trai ngọc trắng
19 Tridacna crocea Lamarck, 1819 Trai tai nghé
20 Solen grandis Dunker, 1862 Móng tay lớn
21 Tridacna squamosa Lamarck, 1819 Trai tai tượng nhỏ
22 Tridacna maxima (Roding, 1798) Trai tai tượng lớn
23 Meretrix lusoria (Roding, 1798) Ngao vân
24 Meretrix meretrix (Linnaeus, 1758) Ngao dầu/Trìa mỡ
25 Metrix lysoria (Roding, 1848) Nghêu Bến Tre
26 Paphia undulata (Born, 1778) Sò lụa
3.5 Đặc điểm phân bố
Phân bố theo thủy vực
Sự phân bố thành phần loài của động vật
Hai mảnh vỏ chịu ảnh hưởng của những sai khác
về điều kiện môi trường sống của các loại hình
thủy vực ở vùng ven bờ biển tỉnh Phú Yên. Các loại
hình thủy vực đã được nghiên cứu bao gồm các
thủy vực nội địa (vùng đầm Cù Mông – V1, vùng
đầm Ô Loan – V2, vùng cửa Đà Diễn – V3, vùng
cửa Đà Nông – V4) và các thủy vực biển ven bờ
(vùng biển thị xã Sông Cầu – V5, vùng biển huyện
Tuy An – V6, vùng biển thành phố Tuy Hòa – V7,
vùng biển huyện Đông Hòa – V8 và vùng các hệ
sinh thái rạn San hô ven biển – V9) (Bảng 6).
Quá trình nghiên cứu cho thấy các loài Hai
mảnh vỏ phân bố không đồng đều giữa các thủy
vực. Một số loài chỉ gặp ở một vài thủy vực như
Anadara granosa (Linnaeus, 1758), Anadara
globosa (Reeve, 1844), Botula silicula (Lamark, 1819),
Saccostrea glomerata (Gould, 1850), Enigmonia
aenigmatica (Holten, 1803), Coralichlamys
madreporarum (Sowerby, 1842), Pinctada
margaritifera (Linnaeus, 1758), Pinctada penguin
(Roding, 1798), Pinctada martensii (Dunker, 1880),
Cardium rugatum Sowerby, 1840, Tridacna crocea
Lamarck, 1819, Tridacna squamosa Lamarck, 1819,
Tridacna maxima (Roding, 1798) Trong khi đó,
một số loài Hai mảnh vỏ phân bố rộng, có mặt ở
nhiều thủy vực khác nhau như Anadara subcrenata
(Lischke, 1869), Perna viridis (Linnaeus, 1758),
Crasscostrea rivularis (Gould, 1864), Mactra achatina
Holten, 1802, Mactra maculata Gmelin, 1791,
Meretrix meretrix (Linnaeus, 1758)...
Bảng 6. Phân bố theo thủy vực của các loài Hai mảnh vỏ vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên
STT Địa điểm
Họ Giống Loài
SL TL (%) SL TL (%) SL TL (%)
1 V1 8 61,54 10 35,71 12 23,08
2 V2 7 53,85 10 35,71 16 30,77
3 V3 6 46,15 9 32,14 11 39,29
4 V4 7 53,85 9 32,14 11 39,29
5 V5 10 76,92 14 50,00 19 36,54
6 V6 11 84,62 15 53,57 17 32,69
7 V7 10 76,92 14 50,00 15 28,85
8 V8 9 69,23 14 50,00 16 30,77
9 V9 11 84,62 14 50,00 16 30,77
Võ Văn Quý và Ngô Thị Bảo Châu
102
Bảng 6 cho thấy có sự phân bố các loài Hai
mảnh vỏ không đều ở các thủy vực khảo sát. Ở
vùng V6 – vùng biển ven bờ huyện Tuy An, số
lượng họ, giống và loài Hai mảnh vỏ phong phú
nhất: 11 họ (84,62%), 15 giống (53,57%) và 17 loài
(32,69%). Tiếp theo là vùng V5 – vùng biển ven bờ
thị xã Sông Cầu có 10 họ (76,92%), 14 giống
(50,00%) và 19 loài (36,54%). Vùng V3 – vùng cửa
Đà Diễn có số lượng họ, giống và loài Hai mảnh vỏ
kém phong phú: 6 họ (46,15%), 9 giống (32,14%) và
11 loài (39,29%). Các thủy vực còn lại ít có sự sai
khác về thành phần loài động vật Hai mảnh vỏ. Sự
sai khác này do nhiều nguyên nhân: có thể do
nguồn thức ăn trong vùng nước, tính chất nền đáy,
độ sâu của nước hay do ảnh hưởng của sự tác động
của con người.
Phân bố theo nền đáy
Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự
phân bố của động vật Hai mảnh vỏ là tính chất nền
đáy. Những vùng có nền đáy cứng chứa nhiều sỏi
thường bắt gặp những loài có tập tính sống bám
giá thể (họ Hàu, họ Vẹm). Trong khi những vùng
có nền đáy là bùn cát hoặc cát bùn lại bắt gặp nhiều
loài có tập tính sống vùi mình (họ Nghêu, Ngao).
Như vậy, có thể chia vùng biển ven bờ tỉnh Phú
Yên thành bốn loại nền đáy với đặc điểm phân bố
khác nhau của các nhóm động vật Hai mảnh vỏ:
bùn cát, cát bùn, sỏi sạn và giá thể (Bảng 7).
Nơi có nền đáy là bùn cát, thành phần loài
phân bố phong phú (16 loài). Các điểm thu mẫu
này có đặc điểm là nằm ở các đầm. Thành phần loài
động vật Hai mảnh vỏ phân bố tại đây khá đa
dạng, với 16 loài (30,77%) trong tổng số loài ghi
nhận được. Tiếp đến là nơi có nền đáy cát bùn với
thành phần loài cũng khá đa dạng. Các điểm thu
mẫu này có đặc điểm là nằm gần các cửa biển.
Thành phần loài động vật Hai mảnh vỏ thu được
là 15 loài (28,85%). Các loài sống ở trên sỏi đá...
không nhiều, đã ghi nhận được 11 loài (21,15%) tập
trung ở giữa dòng chảy, sống trên sỏi lớn và đá
ngầm. Số loài động vật Hai mảnh vỏ bám vào giá
thể ít nhất (19,23%).
Bảng 7. Phân bố theo nền đáy của các loài Hai mảnh vỏ ở vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên
STT Tên khoa học
Loại nền đáy
Cát
bùn
Bùn
cát
Sỏi
sạn
Giá
thể cứng
1 Anadara subcrenata (Lischke, 1869) +
2 Anadara granosa (Linnaeus, 1758) +
3 Anadara antiquata (Linnaeus, 1858) +
4 Anadara globosa (Reeve, 1844) +
5 Anadara nodifera (Martens, 1860) +
6 Arca navicularis Bruguière, 1789 +
7 Barbatia lima (Reeve, 1844) +
8 Barbatia virescens (Reeve, 1844) +
9 Barbatia decussata (Sowerby, 1833) +
10 Botula silicula (Lamark, 1819) +
11 Brachyodontes emarginatus (Reeve, 1858) +
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 95–105, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5138 103
STT Tên khoa học
Loại nền đáy
Cát
bùn
Bùn
cát
Sỏi
sạn
Giá
thể cứng
12 Modiolus auriculatus (Krauss, 1848) +
13 Perna viridis (Linnaeus, 1758) +
14 Crasscostrea rivularis (Gould, 1864) +
15 Crassostrea lugybris (Sowerby, 1871) +
16 Saccostrea glomerata (Gould, 1850) +
17 Saccostrea cucullata (Born, 1778) +
18 Saccostrea pestigris (Hanley, 1846) +
19 Saccostrea mordax (Gould, 1850) +
20 Atrina pectinata (Linnaeus, 1767) +
21 Atrina penna (Reeve, 1858) +
22 Pinna atropurpurea Sowerby, 1825 +
23 Pinna vexillum (Born, 1778) +
24 Pinna bicolor Gmelin, 1791 +
25 Anomia cytaeum Gray, 1850 +
26 Enigmonia aenigmatica (Holten, 1803) +
27 Placuna placenta (Linnaeus, 1758) +
28 Chlamys albolineatus (Sowerby, 1842) +
29 Chlamys irregularis (Sowerby, 1842) +
30 Chlamys nobilis (Reeve, 1952) +
31 Comptopallium radula (Linnaeus, 1758) +
32 Coralichlamys madreporarum (Sowerby, 1842) +
33 Pecten plica Sowerby, 1839 +
34 Pinctada margaritifera (Linnaeus, 1758) +
35 Pinctada maxima (Jameson, 1901) +
36 Pinctada penguin (Roding, 1798) +
37 Pinctada martensii (Dunker, 1880) +
38 Mactra achatina Holten, 1802 +
39 Mactra quadrangularis Reeve, 1854 +
40 Mactra maculata Gmelin, 1791 +
41 Lutraria rhynchaena Jonas, 1844 +
42 Cardium rugatum Sowerby, 1840 +
Võ Văn Quý và Ngô Thị Bảo Châu
104
STT Tên khoa học
Loại nền đáy
Cát
bùn
Bùn
cát
Sỏi
sạn
Giá
thể cứng
43 Tridacna crocea Lamarck, 1819 +
44 Solen grandis Dunker, 1862 +
45 Tridacna squamosa Lamarck, 1819 +
46 Tridacna maxima (Roding, 1798) +
47 Anomalocardia quamosa (Linnaeus, 1758) +
48 Anomalocardia producta (Kuroda & Habe, 1951) +
49 Meretrix lusoria (Roding, 1798) +
50 Meretrix meretrix (Linnaeus, 1758) +
51 Metrix lysoria (Roding, 1848) +
52 Paphia undulata (Born, 1778) +
Tổng 15 16 11 10
Phân bố theo độ mặn
Có thể chia thành phần động vật thân mềm
Hai mảnh vỏ ở vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên
thành 3 nhóm phân bố theo độ mặn:
– Nhóm loài nước ngọt (độ mặn 0–5‰):
Nhóm loài này có nguồn gốc từ sông, suối ao hồ
sống thích nghi đến độ mặn dưới 5‰ gồm:
Barbatia decussata (Sowerby, 1833), Perna viridis
(Linnaeus, 1758), Crasscostrea rivularis (Gould,
1864), Mactra achatina Holten, 1802, Mactra
maculata Gmelin, 1791... Số loài thuộc nhóm loài
nước ngọt không nhiều (6 loài).
– Nhóm loài nước lợ (độ mặn 5–25‰): là
nhóm loài cơ bản của đầm phá, thích ứng với độ
mặn 5–25‰. Nhóm có đến 20 loài (83,3%) trong
tổng số loài ghi nhận được, bao gồm: Crassostrea
rivularis (Gould, 1861), Meretrix meretrix
(Linnaeus, 1758), Metrix lysoria (Roding, 1848),
Anadara subcrenata (Lischke, 1869), Anadara
granosa (Linnaeus, 1758), Anadara
nodifera (Martens, 1860)
– Nhóm loài nước mặn (độ mặn trên 25‰):
là nhóm loài có nguồn gốc từ biển, thích ứng với
độ mặn cao trên 25‰. Nhóm này gồm có tám loài
(33,3% số loài), bao gồm: Anadara subcrenata
(Lischke, 1869), Anadara granosa (Linnaeus, 1758),
Anadara antiquata (Linnaeus, 1858), Anadara
nodifera (Martens, 1860), Arca navicularis Bruguière,
1789, Perna viridis (Linnaeus, 1758), Modiolus
auriculatus (Krauss, 1848), Enigmonia aenigmatica
(Holten, 1803), Pinctada margaritifera (Linnaeus,
1758), Pinctada maxima (Jameson, 1901), Pinctada
penguin (Roding, 1798), Anomalocardia quamosa
(Linnaeus, 1758), Anomalocardia producta (Kuroda
& Habe, 1951), Crassostrea rivularis (Gould, 1861),
Crassostrea lugybris (Sowerby, 1871), Pinna vexillum
(Born, 1778), Pinna bicolor Gmelin, 1791 và Meretrix
meretrix (Linnaeus, 1758), Metrix lysoria (Roding,
1848). Các loài Hai mảnh vỏ nước mặn chủ yếu là
các loài kinh tế, có giá trị khai thác và nuôi thả ở
vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên. Sự phân chia nhóm
loài theo độ mặn chỉ mang tính chất tương đối vì
có sự giao thoa về độ mặn của các loài phân bố theo
cả không gian và thời gian.
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 95–105, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5138 105
4 Kết luận và kiến nghị
4.1 Kết luận
– Đã xác định được 52 loài thuộc 28 giống,
13 họ của 6 bộ: bộ Arcoida, bộ Mytiloida, bộ
Ostreoida, bộ Pectinoida, bộ Pterioida và bộ
Veneroida ở vùng biển ven bờ tỉnh Phú Yên. Trong
13 họ của lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia), 4 họ có số
lượng trên 5 loài. Trong đó, lần lượt xếp thứ tự đa
dạng là họ Sò – Arcidae (9 loài); họ Ngao
(Veneridae), họ Hàu (Ostreidae) và họ Rẽ quạt
(Pectinidae) mỗi họ có 6 loài.
– Đã xác định được có 9 loài động vật Hai
mảnh vỏ (Bivalvia) có giá trị bảo tồn ở các Thứ
hạng Nguy cấp khác nhau. Theo IUCN (2018), hai
loài động vật Hai mảnh vỏ được ghi nhận vào
Danh lục Đỏ thế giới (IUCN, 2018) thuộc thứ hạng
Ít quan tâm. Tám loài Hai mảnh vỏ ở vùng biển ven
bờ tỉnh Phú Yên được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam
(2007), trong đó sáu loài thuộc thứ hạng Sẽ nguy cấp
và hai loài thuộc thứ hạng Nguy cấp. Theo Quyết
định 82/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, có tám loài động vật Hai mảnh vỏ ở
thứ hạng Sẽ nguy cấp.
– Trong số 52 loài động vật Hai mảnh vỏ, đã
xác định được 26 loài có giá trị kinh tế. Trong đó
nhiều loài hình thành được sản lượng khai thác,
đối tượng nuôi thả và có giá trị kinh tế cao như Sò
huyết, Sò lông, Vẹm xanh, Nghêu, Ngao.
– Nơi có nền đáy là bùn cát, thành phần loài
phân bố phong phú gồm 16 loài (30,77%). Tiếp theo
là nơi có nền đáy cát bùn với 15 loài (28,85%). Các
loài sống ở trên sỏi đá... không nhiều, đã ghi nhận
được 11 loài (21,15%). Số loài động vật Hai mảnh
vỏ bám vào giá thể cứng ít nhất, với 10 loài
(19,23%).
4.2 Kiến nghị
– Cần nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh
học của một số loài động vật Hai mảnh vỏ có giá
trị kinh tế để từ đó xây dựng và ứng dụng một số
mô hình nuôi thả phù hợp với điều kiện tự nhiên
của tỉnh Phú Yên.
– Cần nghiên cứu thị trường tiêu thụ của
động vật Hai mảnh vỏ cũng như công nghệ bảo
quản, chế biến nhằm đa dạng hóa sản phẩm, nâng
cao chất lượng sản phẩm cũng như tăng thu nhập
cho người dân.
– Cấm, hạn chế khai thác trong thời kì sinh
sản của các loài động vật Thân mềm Hai mảnh vỏ
tại các bãi giống vào khoảng tháng 4 đến tháng 6
hàng năm.
Tài liệu tham khảo
1. Mầu LĐ, Dung TTT, Tuân NV, Hoàn PS. Vài đặc
điểm khí tượng, thuỷ động lực tại vùng biển Tuy An
(Phú Yên). Tuyển tập nghiên cứu biển – Tập 18. Hà
Nội: Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam;
2012. Tr. 16-25.
2. Khôi NV. Động vật đáy và động vật nổi Việt Nam.
Hà Nội: Nxb Khoa học kỹ thuật; 2001.
3. Quýnh NX, Pinder C, Tilling C. Định loại các nhóm
Động vật không xương sống nước ngọt thường gặp
ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội;
2001.
4. Thanh ĐN, Bái TT, Miên PV. Định loại động vật
không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam. Hà Nội:
Nxb Khoa học kỹ thuật; 1980.
5. Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển Thủy sản tỉnh
Phú Yên đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Phú
Yên (VN): Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn;
2017.
6. Thung ĐC, Thúy LT. Lớp Thân mềm Hai mảnh vỏ
(Bivalvia) kinh tế biển Việt Nam. Hà Nội: Nxb Khoa
học Tự nhiên và Công nghệ; 2015.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
thanh_phan_loai_va_dac_diem_phan_bo_nhom_dong_vat_hai_manh_v.pdf