Kết quả tạo dòng tế bào Pichia pastoris
X33 mang vector biểu hiện
Plasmid tái tổ hợp pPICZαA-PMO00245 được
cắt mở vòng tại vị trí SacI để tăng hiệu suất trao
đổi chéo vào hệ gene của nấm men, sau đó được
biến nạp vào P. pastoris X33 bằng phương pháp
điện biến nạp. Hỗn hợp biến nạp được nuôi cấy
trải trên môi trường YPD-zeocin. Sau đó, các
khuẩn lạc được kiểm tra một lần nữa bằng
phương pháp PCR khuẩn lạc với cặp mồi
3’AOX1 và 5’AOX1. Kết quả điện di sản phẩm
PCR colony được thể hiện trên Hình 3 cho thấy
làn 5, 9 xuất hiện băng DNA có kích thước
khoảng 1100bp phù hợp với trình tự gene mục
tiêu đã chèn vào giữa promoter và terminator
AOX1 của plasmid. Đồng thời xuất hiện băng có
kích thước khoảng 2200 Kb (Hình 9. làn 3, 5, 9)
tương ứng với kích thước trình tự AOX trên bộ
gen của chủng P. pastoris chứng tỏ kiểu hình của
chủng P. pastoris khi được chèn gen là Mut+.
Kết luận
Đã thiết kế thành công vector biểu hiện
pPICZαA mang gene PMO00245 mã hóa cho
PMO00245.
Đồng thời tạo thành công chủng P. pastoris
X33:PMO00245 mang gen mã hóa PMO00245.
Lời cảm ơn: Công trình khoa học này là
một phàn kết quả của Chương trình Hợp tác
Khoa học và Công nghệ Nghị định thư giữa Bộ
Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Bộ Ngoại
giao và Hợp tác quốc tế Italia (Mã số
NĐT.36.ITA/18).
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thiết kế vector biểu hiện pPICZaA mang gen MGG00245 mã hóa cho enzyme PMO, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
L.Q.Loan, V.V.Vân, N.P.K.Hoàn,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 59-65 59
Thiết kế vector biểu hiện pPICZaA mang gen MGG00245 mã hóa
cho enzyme PMO
Construction of expression vector pPICZαA carrying MGG00245 gene coding for a
putative PMO enzyme
Lê Quỳnh Loan1,2, Vũ Văn Vân3, Nguyễn Phước Khải Hoàn2, Trần Văn Hiếu2,
Nguyễn Minh Hùng4,5*
Quynh Loan Le1,2, Van Van Vu3, Khai Hoan Nguyen Phuoc2, Van Hieu Tran2,
Minh Hung Nguyen4,5*
1Viện Sinh học Nhiệt đới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
3Viện Kỹ thuật Công nghệ cao Nguyễn Tất Thành, Đại học Nguyễn Tất Thành
4Trung tâm Sinh học phân tử, Viện Nghiên cứu và Phát Triển Công nghệ Cao, Trường Ðại học Duy Tân,
Ðà Nẵng, Việt Nam
5Khoa Y, Trường Đại học Duy Tân, Ðà Nẵng, Việt Nam
1Institute of Tropical Biology, Vietnam Academy of Science and Technology
2University of Science, Vietnam National University Ho Chi Minh City
3NTT Hi-Tech Institute, Nguyen Tat Thanh University
4Center for Molecular Biology, Institute of Research and Development, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam
5Faculty of Medicine, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam
(Ngày nhận bài: 15/01/2020, ngày phản biện xong: 28/03/2020, ngày chấp nhận đăng: 27/6/2020)
Tóm tắt
Các enzyme polysacharide monooxygenase (PMO) có nguồn gốc từ nhiều chủng nấm và vi khuẩn, được biết đến với
khả năng phân hủy các polysaccharide bền như chitin, cellulose và tinh bột. Chúng có tiềm năng ứng dụng cao trong
việc tăng hiệu quả phân hủy polysaccharide, tuy nhiên vẫn chưa được nghiên cứu và việc chủ động được nguồn protein
là vô cùng quan trọng cho các nghiên cứu về sau. Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành thiết kế vector biểu hiện pPICZaA
mang gen mã hóa cho PMO (pPICZaA-PMO) nhằm sản xuất protein PMO tái tổ hợp bằng chủng nấm men Pichia
pastoris. Đầu tiên, chúng tôi đã tối ưu hóa codon cho gen mã hóa PMO để phù hợp chủng chủ. Tiếp đến, vector
pPICZaA-PMO được tạo ra bằng kĩ thuật gen. Sau đó, vector tái tổ hợp được biến nạp vào chủng chủ P. pastoris X33.
Kết quả thu được, chúng tôi đã tạo thành công vector tái tổ hợp pPICZaA-PMO và biến nạp thành công vào chủng nấm
men P. pastoris X33. Đây là cơ sở để chúng tôi tiếp tục sản xuất PMO tái tổ hợp cho các nghiên cứu về sau.
Từ khóa: Polysaccharide monooxygenase; PMO; Pichia pastoris; Biểu hiện protein.
*Corresponding Author: Nguyen Minh Hung; Center for Molecular Biology, Institute of Research and Development,
Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam; Faculty of Medicine, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam
Email: hungmolbio@gmail.com
03(40) (2020) 59-65
L.Q.Loan, V.V.Vân, N.P.K.Hoàn,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 59-65 60
Abstract
The polysacharide monooxygenase (PMO) enzymes are sourced from multiple fungal and bacterial strains, and are
known for their ability to break down durable polysaccharides such as chitin, cellulose, and starch. They have a high
potential for polysaccharide degradation efficiency, but only some have been studied, and proactive protein sources are
extremely important for future studies. Therefore, we designed the expression vector pPICZaA that carries the gene
coding for PMO (pPICZaA-PMO) to produce recombinant PMO protein using the yeast strain Pichia pastoris X33.
First, we optimized the codon for the PMO coding gene to match the host strain. Next, the pPICZaA-PMO vector was
created using genetic engineering. The recombinant vector was then transformed into the host strain P. pastoris X33. As
a result, we successfully created the recombinant vector pPICZaA-PMO and successfully transformed it into P. pastoris
X33 yeast strains. This is the basis for us to continue to produce recombinant PMO for later research.
Keywords: Polysaccharide monooxygenase; PMO; Pichia pastoris; Protein expression.
1. Mở đầu
Các enzyme PMO được tổng hợp và tiết ra
bởi rất nhiều chủng nấm và vi khuẩn khác nhau
[1-6]. Gần đây các enzyme này được biết đến
với khả năng phân cắt các loại polysaccharide
bền, chẳng hạn như chitin [5, 7, 8], cellulose [5,
8] và tinh bột [9, 10]. Hiện nay, có bốn họ
enzyme PMO: (i) PMO đặc hiệu cellulose từ
nấm [11-14] (còn có các tên khác là GH61 hoặc
AA9); (ii) PMO đặc hiệu chitin [5, 7, 8]
và/hoặc cellulose [5, 7, 8] (CBM33 hoặc
AA10) từ vi khuẩn; (iii) PMO đặc hiệu chitin từ
nấm (AA11) [8]; và (iv) PMO đặc hiệu tinh bột
từ nấm (AA13) [9, 10]. Các enzyme PMO đặc
hiệu cellulose và chitin có khả năng oxi hóa và
phân cắt trực tiếp bề mặt cơ chất mà không
thực hiện bước tách chuỗi polysaccharide khỏi
cơ chất không tan. Các đầu chuỗi mới được tạo
thành bởi các enzyme PMO sau đó sẽ tiếp tục
được thủy phân bởi các enzyme GH, làm tăng
hiệu quả phân hủy polysaccharide của các
enzyme GH.
Hiện nay, công nghệ protein tái tổ hợp đang
trở nên phổ biến với các chủng chủ có khả năng
biến đổi sau dịch mã. Pichia pastoris có khả
năng đạt mật độ tế bào rất cao trong quá trình
lên men, điều đó giúp nâng cao hiệu quả sản
xuất protein. Bên cạnh đó, với sự hiểu biết về
bộ gen của P. pastoris cùng với kĩ thuật gene
đã cho phép chèn vào hệ gene của chủng chủ
này những trình tự mã hóa cho protein mong
muốn và biểu hiện ở dạng tiết vào môi trường,
thuận tiện cho việc thu nhận sản phẩm. Vì vậy
với mục tiêu chủ động tạo nguồn enzyme PMO
cho các nghiên cứu về sau, trong nghiên cứu
này chúng tôi mô tả quy trình tối ưu codon và
thiết kế vector pPICZαA nhằm mục đích biểu
hiện một loại PMO ở nấm men Pichia pastoris.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Tối ưu hóa codon và khuếch đại gene
PMO00245
Tối ưu hóa các codon sử dụng nhằm tăng
hiệu quả biểu hiện protein có nguồn gốc từ nấm
mốc trên hệ thống nấm men P. pastoris với các
thông số: 1) không chứa các codon hiếm hiện
diện dưới 10%; 2) không chứa các vị trí cắt hạn
chế mới hoặc vị trí cắt hạn chế có trong MCS
của vector dòng hóa; 3) không tạo ra các cấu
trúc RNA kém bền SD (splice donor).
Gene PMO00245 mã hóa cho protein PMO
sau khi tối ưu được tổng hợp hóa học, sau đó
được khuếch đại bằng phản ứng PCR với cặp
mồi đặc hiệu PMOFXho: 5’
CTCGAGATGTTCGCCAAGCTCGCC-3’ và
PMORXba: 5’-
TCTAGAAATCCTTGGACAAAGTCAACGC
ATG-3’ lần lượt mang vị trí cắt của enzyme
giới hạn XhoI và XbaI. Thể tích của phản ứng
PCR là 50 µL bao gồm 2X MyTaq Red Mix,
0,5 mM mỗi loại mồi; 50 ng DNA khuôn. Phản
ứng PCR được thực hiện theo chu kỳ nhiệt:
bước 1: 950C trong 5 phút; bước 2: 950C trong
30 giây; bước 3: 550C trong 30 giây; bước 4:
L.Q.Loan, V.V.Vân, N.P.K.Hoàn,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 59-65 61
720C trong 30 giây; bước 5: 720C trong 5 phút;
bước 6: 40C; từ bước 2 đến bước 4 lặp lại 30
chu kỳ. Sản phẩm PCR được điện di trên gel
agrose 1% và được chụp ảnh trên máy geldoc
nhờ nhuộm phát quang bởi RedSafe (iNtRON).
Sản phẩm PCR được thôi gel và tinh sạch bằng
bộ Kit QIAquick Gel Extraction (Qiagen,
28706).
2.2. Cắt enzyme hạn chế và gắn gene vào
vector biểu hiện
Sản phẩm PCR và vector biểu hiện
pPICZαA (TFS, V19520) được cắt bằng hai
enzyme giới hạn XhoI và XbaI (NEB). Thành
phần phản ứng cắt enzyme giới hạn bao gồm: 1
µg DNA, enzyme XhoI 1,5 µL, enzyme XbaI
1,5 µL, 10X buffer Tagno 10 µL, H2O vừa đủ
đến thể tích 50 µL. Hỗn hợp phản ứng được ủ ở
370C trong 2 giờ. Sản phẩm cắt enzyme giới
hạn (sản phẩm PCR và vector pPICZαA) được
điện di trên gel agarose 1% và thôi gel bằng bộ
Kit QIAquick Gel Extraction (Qiagen, 28706).
Sản phẩm PCR được gắn vào vector
pPICZαA nhờ enzyme T4-ligase. Thành phần
phản ứng trong thể tích 20 uL bao gồm: 10×
Rapid Ligation Buffer, 5 µL sản phẩm PCR và
vector pPICZαA (~100 ng mỗi loại), 1 µL 5
U/µL T4 DNA ligase, H2O vừa đủ đến 20 µL.
Hỗn hợp phản ứng được ủ ở 22oC trong 2 giờ.
2.3. Biến nạp vector tái tổ hợp pPICZαA vào
E. coli DH5
10 μL hỗn hợp ghép nối gene pPICZαA
được sử dụng để biến nạp vào tế bào khả biến
E. coli DH5α nhờ sóc nhiệt ở 42oC trong 30
giây. Tế bào sau biến nạp được nuôi phục hồi ở
370C trong 1 giờ và tiếp tục được cấy trải lên
đĩa môi trường LB chọn lọc có bổ sung 25
μg/mL Zeocin (TFS, R25001) và ủ qua đêm ở
370C. Quy trình thiết kế vector biểu hiện
pPICZαA được thể hiện trong Hình 1.
Hình 1. Sơ đồ thiết kế vector pPICZαA
mang gene PMO00245
2.4. Chọn dòng bằng phương pháp PCR
khuẩn lạc
Sau khi thu được các khuẩn lạc kháng
Zeocin trên đĩa môi trường LB, 10 khuẩn lạc đã
được lựa chọn cho phản ứng PCR colony cặp
mồi đặc hiệu 3’-AOX1: 5’-
GCAAATGGCATTCTGACATCC-3’ và 5’-
AOX1: 5’-GACTGGTTCCAATTGACAAGC-
3’. Thể tích phản ứng PCR là 25 µL bao gồm
2X MyTaq Red Mix, 0,5 mM mỗi loại mồi;
DNA khuôn chứa trong khuẩn lạc. Phản ứng
PCR được thực hiện theo chu kỳ nhiệt: bước 1:
950C trong 5 phút; bước 2: 950C trong 30 giây;
bước 3: 550C trong 30 giây; bước 4: 720C trong
30 giây; bước 5: 720C trong 5 phút; bước 6:
40C; từ bước 2 đến bước 4 lặp lại 30 chu kỳ.
Sản phẩm PCR được điện di trên gel agarose
L.Q.Loan, V.V.Vân, N.P.K.Hoàn,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 59-65 62
1% và được chụp ảnh trên máy geldoc nhờ
nhuộn phát quang bởi RedSafe (iNtRON).
Chọn 02 khuẩn lạc dương tính với PCR colony
để tách plasmid và giải trình tự nucleotide.
2.5. Điện biến nạp pPICZαA-PMO00245 vào
tế bào Pichia pastoris X33
Plasmid pPICZαA-PMO00245 được thu
nhận từ chủng E. coli DH5α/pPICZαA-
PMO00245 bằng bộ Kít GeneJET plasmid
miniprep. Trước khi biến nạp vào tế bào khả
biến Picha pastoris X33, plasmid pPICZαA-
PMO00245 được mở vòng tại vị trí trên vùng
promoter AOX1 bằng enzyme SacI. Thành
phần phản ứng cắt enzyme giới hạn SacI như
sau: 10X buffer 5 µL, plasmid pPICZaA-
PMO00245 30 µL, enzyme SacI 2 µL trong
tổng thể tích 50 µL. Hỗn hợp phản ứng được ủ
ở 37oC trong 04 giờ. Sau khi ủ, gia nhiệt 80oC
trong 20 phút để bất hoạt phản ứng, tinh sạch
lại sản phẩm cắt bằng cột EZ-10 theo quy trình
của nhà sản xuất.
Tiến hành điện biến nạp theo quy trình sau:
1) Chuẩn bị và giữ lạnh ở 4oC các thành phần:
tế bào khả biến P. pastoris X33; plasmid
pPICZαA-PMO00245/SacI; cuvett điện biến
nạp; môi trường YPD; 2) Bổ sung 5 µg
pPICZαA-PMO00245/SacI vào ống tế bào khả
biến P. pastoris X33, hòa đều nhẹ nhàng.
3) Hút toàn bộ hỗn hợp vào cuvett điện biến
nạp và điều chỉnh hệ thống điện biến nạp với
thông số: 25 µF, hiệu điện thế 1,5 kV, điện trở
200 Ω. Tiến hành điện biến nạp trong 5 mili
giây. 4) Bổ sung 1 ml môi trường YPD, hòa
đều hỗn hợp, chuyển vào ống ly tâm 1,5 ml. Ủ
ống ly tâm chứa hỗn hợp ở 30oC trong 2 giờ. 5)
Ly tâm 6000 vòng 3 phút, loại bỏ 900 µl dịch
nổi. Hòa đều sinh khối và tiến hành nuôi cấy
trải bằng môi trường YPD-zeocin100. Ủ ở 30oC
trong 2 ngày cho đến khi xuất hiện khuẩn lạc.
Tiếp tục chọn các khuẩn lạc kháng Zeocin trên
môi trường YPD bằng PCR colony.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Kết quả tối ưu hóa codon gene
PMO00245
Kết quả cho thấy, sau quá trình tối hóa tần
số các codon hiếm (dưới 10%, Hình 2A) đã
hoàn toàn được thay thế bằng các codon phổ
biến hơn trong nấm men (Hình 2B). Ngoài ra,
khi phân tích bản đồ enzyme cắt hạn chế cho
thấy, quá trình tối ưu hóa cũng không tạo các vị
trí cắt của enzyme giới hạn có trong MCS của
vector pPICZαA, đặc biệt là không còn vị trí
nhận biết của enzyme XhoI là enzyme giúp
dòng hóa gene mục tiêu vào ngay sau trình tự
tiết α-factor của vector.
Hình 2. Tần số xuất hiện của các codon tương ứng với trình tự trước khi tối ưu (A)
và sau khi tối ưu (B) theo bảng mã ưu tiên sử dụng của P. pastoris
L.Q.Loan, V.V.Vân, N.P.K.Hoàn,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 59-65 63
3.2. Kết quả PCR và cắt enzyme hạn chế
Gene PMO00245 mã hóa cho PMO00245
được khuếch đại bằng phản ứng PCR với cặp
mồi đặc hiệu PMOFXho và PMORXba lần lượt
mang vị trí nhận biết của enzyme XhoI và XbaI.
Kết quả điện di sản phẩm PCR trên gel agarose
cho thấy xuất hiện một băng DNA có kích
thước khoảng 549 bp (Hình 2A) đúng bằng
kích thước của đoạn gene PMO00245 khi thiết
kế cặp mồi PMOFXho và PMORXba. Đối
chứng âm không xuất hiện bất kì băng DNA
nào, chứng tỏ không có sản phẩm ngoại nhiễm.
Hình 3. Ảnh điện di DNA trên gel agarose 1%. A) Sản
phẩm PCR khuếch đại gene PMO00245; M. thang DNA,
1. Sản phẩm PCR, 2. Đối chứng âm; B) Sản phẩm
plasmid pPICZαA được cắt với 02 enzyme giới hạn XhoI
và XbaI; M. thang DNA, 1. plasmid trước khi xử lý, 2.
plasmid sau khi xử lý enzyme giới hạn.
Gene PMO00245 và vector pPICZaA sau đó
được cắt bằng hai enzyme hạn chế XhoI và XbaI
để tạo hai đầu dính phục vụ cho việc ghép nối
gene PMO00245 vào vector pPICZaA. Sản
phẩm cắt enzyme sau đó được điện di trên gel
agarose 1%. Kết quả điện di sản phẩm cắt vector
pPICZaA được thể hiện trên Hình 3B, làn số 2
cho thấy, chỉ còn một băng DNA, chứng tỏ
plasmid đã được cắt mở vòng thành công.
3.3. Kết quả tạo dòng tế bào E. coli DH5
mang vector biểu hiện
Gene PMO00245 và plasmid pPICZαA sau
khi được xử lí với enzyme cắt giới hạn được
nối lại với nhau bằng enzyme T4 ligase. Sau đó
được biến nạp vào E. coli DH5 và nuôi cấy
trên môi trường chọn lọc có chứa kháng sinh
Zeocin. Các khuẩn lạc được kiểm tra bằng
phương pháp PCR với cặp mồi 5’AOX1 và
3’AOX1. Kết quả PCR cho thấy có sự chênh
lệch kích thước của sản phẩm PCR (Hình 4, làn
3, 5, 6) chứng tỏ gene PMO00245 đã được chèn
vào plasmid, đồng thời kích thước chênh lệch
phù hợp với kích thước gene mã hóa (549bp)
PMO00245 cộng với kích thước đầu 5’AOX và
3-AOX của vector. Các làn 2, 4, 7 xuất hiện
băng có kích thước ngắn hơn chứng tỏ đây là
sản phẩm nhân đoạn đầu 5’AOX và 3-AOX của
vector mà không có đoạn gene PMO00245
được chèn vào.
Sau khi kiểm tra khuẩn lạc dự tuyển bằng
phương pháp PCR khuẩn lạc, các khuẩn lạc đã
xác định mang plasmid tái tổ hợp chứa gene
mục tiêu được hoạt hóa để tăng sinh và tinh
sạch sử dụng bộ kit GeneJET plasmid
miniprep. Plasmid sau khi được tinh sạch được
giải trình tự nucleotide bằng cặp mồi 5’AOX và
3-AOX. Kết quả giải trình tự nucleotide cho
thấy gene PMO00245 được chèn vào plasmid
pPICZA có trình tự hoàn toàn đúng với trình
tự gen PMO00245 đã được tối ưu (Hình 5).
Hình 4. Ảnh điện di gel agarose kết quả PCR
khuẩn lạc. M. thang DNA, 1. chứng âm, 2-7:
các khuẩn lạc dự tuyển.
L.Q.Loan, V.V.Vân, N.P.K.Hoàn,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 59-65 64
Hình 5. Kết quả giải trình tự nucleotide gene PMO00245 trong vector pPICZαA.
3.4. Kết quả tạo dòng tế bào Pichia pastoris
X33 mang vector biểu hiện
Plasmid tái tổ hợp pPICZαA-PMO00245 được
cắt mở vòng tại vị trí SacI để tăng hiệu suất trao
đổi chéo vào hệ gene của nấm men, sau đó được
biến nạp vào P. pastoris X33 bằng phương pháp
điện biến nạp. Hỗn hợp biến nạp được nuôi cấy
trải trên môi trường YPD-zeocin. Sau đó, các
khuẩn lạc được kiểm tra một lần nữa bằng
phương pháp PCR khuẩn lạc với cặp mồi
3’AOX1 và 5’AOX1. Kết quả điện di sản phẩm
PCR colony được thể hiện trên Hình 3 cho thấy
làn 5, 9 xuất hiện băng DNA có kích thước
khoảng 1100bp phù hợp với trình tự gene mục
tiêu đã chèn vào giữa promoter và terminator
AOX1 của plasmid. Đồng thời xuất hiện băng có
kích thước khoảng 2200 Kb (Hình 9. làn 3, 5, 9)
tương ứng với kích thước trình tự AOX trên bộ
gen của chủng P. pastoris chứng tỏ kiểu hình của
chủng P. pastoris khi được chèn gen là Mut+.
Hình 6. Kết quả điện di sau khi PCR khuẩn lạc các
khuẩn lạc P. pastoris dự tuyển. M. thang DNA, 1.
chứng âm; 2. pPICZA; 3. P. pastoris X33, 4-11.
khuẩn lạc dự tuyển
4. Kết luận
Đã thiết kế thành công vector biểu hiện
pPICZαA mang gene PMO00245 mã hóa cho
PMO00245.
Đồng thời tạo thành công chủng P. pastoris
X33:PMO00245 mang gen mã hóa PMO00245.
Lời cảm ơn: Công trình khoa học này là
một phàn kết quả của Chương trình Hợp tác
Khoa học và Công nghệ Nghị định thư giữa Bộ
Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Bộ Ngoại
giao và Hợp tác quốc tế Italia (Mã số
NĐT.36.ITA/18).
Tài liệu tham khảo
[1]. Horn, S.J., et al., Novel enzymes for the degradation of
cellulose. Biotechnology for Biofuels, 2012. 5: p. 45.
[2]. Hemsworth, G.R., G.J. Davies, and P.H. Walton,
Recent insights into copper-containing lytic
polysaccharide mono-oxygenases. Current Opinion
in Structural Biology, 2013. 23: p. 660-668.
[3]. Tian, C., et al., Systems analysis of plant cell wall
degradation by the model filamentous fungus
Neurospora crassa. Proc. Natl. Acad. Sci. U. S. A.,
2009. 106: p. 22157-22162.
[4]. Yakovlev, I., et al., Substrate-specific transcription
of the enigmatic GH61 family of the pathogenic
white-rot fungus Heterobasidion irregulare during
growth on lignocellulose. Applied Microbiology and
Biotechnology, 2012. 95: p. 979-990.
[5]. Forsberg, Z., et al., Comparative study of two chitin-
active and two cellulose-active AA10-type lytic
polysaccharide monooxygenases. Biochemistry,
2014. 53: p. 1647-1656.
[6]. Beeson, W.T., et al., Cellulose Degradation by
Polysaccharide Monooxygenases. Annual Review
of Biochemistry, 2015. 84: p. 923-946.
L.Q.Loan, V.V.Vân, N.P.K.Hoàn,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 59-65 65
[7]. Vaaje-Kolstad, G., et al., An Oxidative Enzyme
Boosting the Enzymatic Conversion of Recalcitrant
Polysaccharides. Science, 2010. 330: p. 219-222.
[8]. Hemsworth, G.R., et al., Discovery and
characterization of a new family of lytic
polysaccharide monooxygenases. Nature chemical
biology, 2014. 10: p. 122-126.
[9]. Lo Leggio, L., et al., Structure and boosting activity
of a starch-degrading lytic polysaccharide
monooxygenase. Nature Communications, 2015. 6:
p. 5961.
[10]. Vu, V.V., et al., A family of starch-active
polysaccharide monooxygenases. Proceedings of the
National Academy of Sciences of the United States
of America, 2014. 111: p. 13822-13827.
[11]. Harris, P.V., et al., Stimulation of lignocellulosic
biomass hydrolysis by proteins of glycoside
hydrolase family 61: Structure and function of a
large, enigmatic family. Biochemistry, 2010. 49: p.
3305-3316.
[12]. Quinlan, R.J., et al., Insights into the oxidative
degradation of cellulose by a copper metalloenzyme
that exploits biomass components. Proceedings of
the National Academy of Sciences, 2011. 108: p.
15079-15084.
[13]. Phillips, C.M., et al., Cellobiose Dehydrogenase and
a Copper-Dependent Polysaccharide
Monooxygenase Potentiate Cellulose Degradation
by Neurospora crassa. ACS Chemical Biology,
2011. 6: p. 1399-1406.
[14]. Beeson, W.T., et al., Oxidative cleavage of cellulose
by fungal copper-dependent polysaccharide
monooxygenases. Journal of the American Chemical
Society, 2012. 134: p. 890-892.
L.Q.Loan, V.V.Vân, N.P.K.Hoàn,... / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 03(40) (2020) 59-65 1
Các file đính kèm theo tài liệu này:
thiet_ke_vector_bieu_hien_ppiczaa_mang_gen_mgg00245_ma_hoa_c.pdf