Kết quả kiểm tra mô bệnh học trước
và sau điều trị
Hiệu quả điều trị không chỉ thể hiện qua tỷ
lệ biểu hiện triệu chứng, bệnh tích đại thể, tỷ lệ
nhiễm, tỷ lệ chết và tỷ lệ khỏi bệnh mà còn thể
hiện qua sự biến đổi và khác biệt về mô bệnh
học của các bào nang thu từ những cá chép được
điều trị bằng các phác đồ 2, 3 và 4 so với các
biểu hiện mô bệnh học của các bào nang thu từ
cá chép được điều trị bằng phác đồ 1 và cá chép
trước khi điều trị. Quan sát dưới kính hiển vi
cho thấy mô ruột cá chép bị bệnh trước khi được
điều trị đã bị bào tử sợi T. kitauei xâm lấn, phát
triển và phá hủy (Hình 3). Hiện tượng bào tử sợi
T. kitauei ký sinh và xâm lấn mô ruột, mô da
của cá chép bệnh đã được báo cáo bởi các tác giả
(Zhai & cs., 2016; Lingtong & cs., 2017).
Biểu hiện về mô bệnh học cho thấy các mô
bào nang thu từ cá chép sau điều trị 4 ngày và 8
ngày có mật độ bào tử sợi T. kitauei thấp hơn so
mô bào nang thu từ cá chép trước điều trị. Mô
bào nang thu từ cá chép sau 4 ngày điều trị
bằng phác đồ 1 có mật độ bào tử sợi giảm so với
trước điều trị nhưng vẫn còn nhiều. Ngược lại
mật độ bào tử sợi ở mô bào nang thu từ cá chép
sau 4 ngày điều trị bằng phác đồ 2, 3 và 4 đã
giảm rõ rệt so với trước khi điều trị. Đặc biệt mô
bào nang thu từ cá chép sau điều trị 8 ngày
bằng phác đồ 2, 3 và 4 không thấy sự xuất hiện
của bào tử sợi T. kitauei. Điều này chứng tỏ các
thuốc điều trị ký sinh trùng dùng trong các phác
đồ trên có tác dụng tiêu diệt bào tử sợi T.
kitauei trong cơ thể cá chép bị nhiễm bệnh. Sự
khác biệt về mô bệnh học của các bào nang thu
từ cá chép trước và sau điều trị một lần nữa
khẳng định phác đồ điều trị 2, 3 và 4 có hiệu
quả điều trị cao hơn phác đồ 1 (Hình 4).
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thử nghiệm các phác đồ điều trị bệnh u nang đường ruột do bào tử sợi thelohanellus kitauei trên cá chép (cyprinus carpio), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No.12: 1139-1148 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(12): 1139-1148
www.vnua.edu.vn
1139
THỬ NGHIỆM CÁC PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH U NANG ĐƯỜNG RUỘT
DO BÀO TỬ SỢI Thelohanellus kitauei TRÊN CÁ CHÉP (Cyprinus carpio)
Nguyễn Văn Tuyến1,2*, Trần Thị Dịu1, Phạm Thị Thắm1,
Đoàn Thị Nhinh1, Kim Văn Vạn1, Trương Đình Hoài1
1Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Faculty of Fisheries and Protection of Waters, University of South Bohemia, The Czech Republic
*Tác giả liên hệ: nvtuyen@vnua.edu.vn
Ngày nhận bài: 19.05.2020 Ngày chấp nhận đăng: 04.09.2020
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm tìm phác đồ điều trị hiệu quả bệnh do Thelohanellus kitauei gây ra trên cá chép. Tổng số
60 mẫu cá chép từ 20 lồng nuôi nghi nhiễm bệnh được thu và chẩn đoán tác nhân gây bệnh. Sau khi xác định đúng
tác nhân gây bệnh, bốn phác đồ sử dụng các thuốc trị ký sinh trùng gồm praziquantel, ivermectin, albendazole và
triclabendazole được thử nghiệm điều trị trên 20 lồng cá chép đang nhiễm bệnh với liệu trình 3 ngày liên tục, sau đó
cá được điều trị tổn thương trên đường ruột bằng kháng sinh doxycycline với liều 15 mg/kg cá/ngày trong 5 ngày tiếp
theo cho cả 4 phác đồ điều trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy cá chép nhiễm bệnh bơi lờ đờ, bụng chướng to, ruột có
nhiều khối bào nang với kích thước 1,43 × 1,12cm. Kết quả điều trị thử nghiệm cho thấy phác đồ sử dụng
praziquantel với liều 10 mg/kg cá/ngày có hiệu quả điều trị thấp, tỷ lệ cá khỏi bệnh chỉ đạt 24,92%. Các phác đồ sử
dụng 0,6mg ivermectin/kg cá/ngày, 6mg triclabendazole + 6mg albendazole/kg cá/ngày, và 10mg albendazole +
10mg praziquantel/kg cá/ngày cho hiệu quả điều trị tốt với tỷ lệ khỏi bệnh cao lần lượt là 90,48%, 85,62% và 86,86%.
Từ khóa: Bào tử sợi, điều trị, ký sinh trùng cá chép, Thelohanellus kitauei.
Experimental treatment of intestinal giant cystic disease caused
by Thelohanellus kitauei infecting Common carp (Cyprinus carpio)
ABSTRACT
This study was conducted to determine the effective treatment regimen to mitigate the impact of the disease
caused by Thelohanellus kitauei for common carp. A total of 60 suspected common carp infected T. kitauei from 20
cages were collected to confirm the pathogens. Subsequently, the experimental treatments were conducted to treat
for those infected fish using four different treatment regimens, including praziquantel, ivermectin, albendazole, and
triclabendazole in 3 consecutive days, following with 5 consecutive days using antibiotic (doxycycline at dose of
15 mg/kg fish/day) to treat the lesions in fish intestine for all four treatment regimens. The results revealed that the
fish in cages were infected T. kitauei. Infected fish exhibited the lost orientation, enlarged abdomen, and containing
many giant cysts in the intestine with the average size is 1.43cm x 1.12cm. The experimental results indicated that
the treatment regimen using a dose of 10mg praziquantel/kg fish/day was not effective with a low cure rate (24.92%).
The treatment regimens with the dose 0.6mg ivermectin/kg fish/day or 6mg triclabendazole + 6mg albendazole/kg
fish/day or 10mg albendazole + 10mg praziquantel/kg fish/day resulted to higher the cure rates, 90.48%, 85.62%,
and 86.86%, respectively.
Keywords: Common carp, myxopores, Thelohanellus kitauei, treatment.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá Chép (Cyprinus caprio) là loài nuôi
truyền thống và phổ biến tại nhiều vùng miền.
Theo nghiên cứu gần đây, cá chép là loài nuôi
chiếm ưu thế với tỷ lệ 30,1% số lượng cá trong
những ao nuôi ghép. Tuy nhiên, do người nuôi
liên tục tăng mật độ nuôi cùng với việc nhập
khẩu con giống chưa được kiểm soát chặt chẽ đã
dẫn đến bệnh dịch liên tục xảy ra trên đối tượng
Thử nghiệm các phác đồ điều trị bệnh u nang đường ruột do bào tử sợi Thelohanellus kitauei trên cá chép
(Cyprinus carpio)
1140
nuôi này (Kim Văn Vạn & Nguyễn Văn Thọ,
2012). Trong số những bệnh thường xảy ra trên
cá chép gần đây, bệnh u nang đường ruột do bào
tử sợi T. kitauei là một bệnh mới xuất hiện tại
Việt Nam, tỷ lệ chết cao vì chưa có thuốc điều
trị đặc hiệu (Rhee & cs., 1990; 1993; Kim Văn
Vạn & Phạm Thị Thắm, 2018). Theo báo cáo của
Egusa & Nakajima (1981), bào tử sợi T. kitauei
có thể lây nhiễm 40% số cá trong ao và gây chết
22,6% số cá bị nhiễm bệnh trong vòng 2-5 tháng
kể từ khi cá mới khỏe mạnh được thả vào ao có
bào tử sợi T. kitauei mà không tiến hành các
biện pháp khử trùng ao nuôi sau khi thu hoạch
cá bệnh.
Các thuốc kháng sinh (dapsone,
ketoconazole, sufamonomethoxin) và thuốc
điều trị nấm fumagillin đã lần lượt được thử
nghiệm điều trị bào tử sợi T. kitauei trong điều
kiện in vitro và in vivo. Tuy nhiên, hiệu quả
điều trị của các thuốc này với bào tử sợi T.
kitauei không cao (Rhee & cs., 1990; 1993).
Việc sử dụng thuốc kháng sinh và thuốc điều
trị nấm để điều trị ký sinh trùng có thể là
nguyên nhân dẫn đến hiệu quả điều trị thấp
của các thuốc này. Mặt khác, khả năng chống
chịu của bào tử sợi T. kitauei cao và tồn tại lâu
trong môi trường tự nhiên cũng là một nguyên
nhân khiến việc phòng và trị bệnh trên cá chép
chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Theo
nghiên cứu của Rhee & cs. (1990), bào tử sợi T.
kitauei có thể tồn tại 2 năm trong ao nuôi cá
chép nhiễm bệnh sau khi ao nuôi được tát cạn,
phơi đáy ao và khử trùng bằng vôi bột. Cho tới
nay, chưa có phương pháp điều trị bào tử sợi T.
kitauei hiệu quả nào được báo cáo. Biện pháp
được khuyên dùng phổ biến hiện nay vẫn là tát
cạn, phơi đáy ao và khử trùng ao nuôi bằng vôi
bột (Rhee & cs., 1990).
Do những hiểu biết về bào tử sợi T. kitauei
còn hạn chế dẫn đến việc chẩn đoán, điều trị
bệnh do bào tử sợi T. kitauei trên cá chép chưa
đạt hiệu quả. Điều này dẫn đến thiệt hại về
kinh tế cho người nuôi trồng thủy sản, sử dụng
thuốc và hóa chất bừa bãi trong điều trị bệnh
làm ô nhiễm môi trường, tồn dư thuốc và hóa
chất trong sản phẩm thủy sản. Nghiên cứu này
được tiến hành để thử nghiệm điều trị bệnh tại
các lồng nuôi cá chép trong điều kiện thực tế
sản xuất nhằm tìm ra phác đồ điều trị bệnh
hiệu quả.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên 20 lồng
nuôi cá chép nhiễm bào tử sợi T. kitauei tại Hải
Dương. Các loại thuốc điều trị ký sinh trùng
praziquantel, ivermectin albendazole và
triclabendazole được sử dụng trong thử nghiệm
điều trị. Các dụng cụ giải phẫu, kính hiển vi,
máy xử lý mẫu mô, máy đúc mô, máy cắt mô,
thuốc nhuộm được sử dụng trong quá trình thu
mẫu bệnh, mổ khám và làm tiêu bản quan sát
dưới kính hiển vi.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Chẩn đoán, xác định tác nhân gây
bệnh u nang đường ruột trên cá chép
Mẫu cá chép (n = 60, cỡ 400-600g) có biểu
hiện triệu chứng và bệnh tích điển hình của
bệnh bào tử sợi T. kitauei theo mô tả trong các
nghiên cứu trước đây của Egusa & Nakajima
(1981); Lingtong & cs. (2017) và Kim Văn Vạn
& Phạm Thị Thắm (2018) được thu ngẫu nhiên
từ 20 lồng nuôi nghi nhiễm bệnh (mỗi lồng thu
ngẫu nhiên 03 con) để chẩn đoán và xác định
tác nhân gây bệnh trước khi thử nghiệm điều
trị. Phương pháp thu mẫu, mô tả triệu chứng,
bệnh tích và phân tích mẫu cá bệnh được thực
hiện theo phương pháp nghiên cứu ký sinh
trùng của Arthur & Bui Quang Te (2006) và Hà
Ký & Bùi Quang Tề (2007). Kích thước của bào
tử sợi T. kitauei được xác định trên kính hiển vi
có gắn trắc vi thị kính được chia khoảng, đánh
số từ 0-10, mỗi khoảng chia gồm 10 vạch nhỏ,
mỗi vạch nhỏ tương ứng 10µm, 2,5µm, và 1µm ở
độ phóng đại tương ứng lần lượt là 100, 400 và
1.000 lần (David, 2012). Ảnh thu được trên kính
hiển vi có trắc vi thị kính được dùng để xác định
kích thước của bào tử sợi bằng phần mềm đo
kích thước vật trên ảnh Imagej (National
Institutes of Health, 2019).
Nguyễn Văn Tuyến, Trần Thị Dịu, Phạm Thị Thắm, Đoàn Thị Nhinh, Kim Văn Vạn, Trương Đình Hoài
1141
2.2.2. Thử nghiệm thuốc điều trị bào tử sợi
T. kitauei trên cá chép
- Bố trí thí nghiệm thử nghiệm thuốc
Hai mươi lồng nuôi cá chép sau khi được
chẩn đoán nhiễm bào tử sợi T. kitauei được sử
dụng để thử nghiệm điều trị bằng 4 phác đồ,
mỗi phác đồ được thử nghiệm lặp lại 5 lần. Lồng
nuôi sử dụng trong thử nghiệm có thể tích
108m3, cá chép nhiễm bệnh có cỡ 400-600g, cá
được nuôi bằng thức ăn viên nổi và vẫn ăn thức
ăn, số lượng cá của các lồng thử nghiệm các
phác đồ điều trị được trình bày trong bảng 1.
Thuốc điều trị dùng trong thử nghiệm là các loại
thuốc thường dùng điều trị ký sinh trùng trên
động vật thủy sản có sẵn trên thị trường với
thành phần là praziquantel, ivermectin,
albendazole và triclabendazole. Vì hiện nay chưa
có nghiên cứu nào về cách dùng các thuốc này
trong điều trị bào tử sợi T. kitauei trên cá được
công bố, nên hàm lượng các loại thuốc dùng
trong thử nghiệm được dùng theo hướng dẫn
của nhà sản xuất cho điều trị các loại nội ký
sinh trùng khác trên cá hoặc trên các động vật
trên cạn, thành phần, liều dùng và thời gian sử
dụng được thể hiện trong bảng 1. Thuốc được
trộn vào thức ăn và cho cá ăn trong 3 ngày liên
tục. Ngoài ra, do bào tử sợi T. kitauei ký sinh
thường gây tổn thương ruột cá chép nhiễm bệnh
(Egusa & Nakajima, 1981; Lingtong & cs., 2017)
nên sau 3 ngày điều trị bằng thuốc trị ký sinh
trùng, từ ngày thứ 4 dùng kháng sinh
doxycycline với liều 15 mg/kg cá, thuốc được
trộn vào thức ăn và cho cá ăn 5 ngày liên tục để
điều trị các bệnh nhiễm trùng kế phát.
Bảng 1. Các phác đồ điều trị và số lượng cá chép
trong các lồng nuôi thử nghiệm điều trị bào tử sợi T. kitauei trong nghiên cứu
Phác đồ điều trị
(n = 5)
Loại thuốc* Liều dùng
(mg/kg cá/ngày)
Liệu trình
(ngày)
Lồng
điều trị
Số cá chép trong lồng
(con)
1 Praziquantel 10 3 1.1 3.050
1.2 2.850
1.3 2.900
1.4 2.650
1.5 2.870
2 Ivermectin 0,6 3 2.1 2.530
2.2 2.720
2.3 2.680
2.4 3.000
2.5 2.800
3 Albendazole + Praziquantel 10 + 10 3 3.1 2.470
3.2 2.850
3.3 2.460
3.4 2.900
3.5 2.448
4 Triclabendazole + albendazole 6 + 6 3 4.1 2.840
4.2 2.730
4.3 2.570
4.4 2.610
4.5 3.200
Ghi chú: * Tiếp tục dùng kháng sinh docycline với liều 15 mg/kg cá/ngày trong 5 ngày để điều trị bội nhiễm vi khuẩn.
Thử nghiệm các phác đồ điều trị bệnh u nang đường ruột do bào tử sợi Thelohanellus kitauei trên cá chép
(Cyprinus carpio)
1142
- Xác định hiệu quả điều trị thử
nghiệm thuốc
Trước khi tiến hành điều trị, thu ngẫu
nhiên 20 con cá chép mỗi lồng bị bệnh để kiểm
tra tỷ lệ mắc bệnh của cá trong lồng thông qua
các biểu hiện về triệu chứng, bệnh tích của cá
mắc bệnh. Tiến hành điều trị, quan sát, theo dõi
số lượng cá chết, biểu hiện của cá trong và sau
quá trình điều trị. Sau 4 ngày điều trị, bắt ngẫu
nhiên mỗi lồng 5 con cá để kiểm tra các triệu
trứng và sự thay đổi bệnh tích trên cá. Sau 8
ngày điều trị, thu mỗi lồng 20 con cá để kiểm
tra lại tỷ lệ nhiễm dựa trên những dấu hiệu
bệnh tích trong và ngoài cơ thể cá, từ đó xác
định tỷ lệ cá khỏi bệnh sau 8 ngày điều trị. Các
biểu hiện triệu chứng, bệnh tích trên cá trước và
sau điều trị, tỷ lệ nhiễm bệnh trước và sau khi
điều trị, tỷ lệ chết và tỷ lệ cá khỏi bệnh sau 8
ngày điều trị, và những biến đổi mô bệnh học
của các bào nang thu từ cá trước và sau điều trị
là những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả điều trị
bệnh của các phác đồ đã được thử nghiệm.
M
T 100
K
Trong đó:
T: Tỷ lệ nhiễm của cá trong lồng (%)
M: Số mẫu chép kiểm tra bị nhiễm bệnh (con)
K: Số cá chép thu mẫu kiểm tra (K = 20 con).
0 1 1
1
N K T
N
100
Trong đó:
N1: Số cá chép bị nhiễm bệnh trong lồng
trước khi điều trị (con)
N0: Số cá chép trong lồng trước khi thu mẫu
lần 1 (con)
K1: Số cá chép thu mẫu kiểm tra lần 1
(trước khi điều trị) (K1 = 20 con)
T1: Tỷ lệ nhiễm của cá trong lồng trước khi
điều trị (%).
0 1 C 2
2
N K 5 N T
N
100
Trong đó:
N2: Số cá chép bị nhiễm bệnh trong lồng sau
8 ngày khi điều trị (con)
N0: Số cá chép trong lồng trước khi thu mẫu
lần 1 (trước khi điều trị) (con)
K1: Số cá chép thu mẫu kiểm tra lần 1
(trước khi điều trị) (K1 = 20 con)
NC: Số cá chép bị chết sau 8 ngày điều
trị (con)
T2: Tỷ lệ nhiễm của cá chép trong lồng sau 8
ngày điều trị (%)
5: Số cá chép lấy mẫu kiểm tra sau 4 ngày
điều trị (con).
1 2
KB
1
N N
T 100
N
Trong đó:
TKB: Tỷ lệ cá chép khỏi bệnh sau 8 ngày
điều trị (%)
N1: Số cá chép bị nhiễm bệnh trong lồng
trước khi điều trị (con)
N2: Số cá chép bị nhiễm bệnh trong lồng sau
8 ngày điều trị (con).
C
C
0 1
N
T 100
N K
Trong đó:
TC: Tỷ lệ chết của cá chép sau điều trị 8
ngày (%)
NC: Số cá chép bị chết sau 8 ngày điều
trị (con)
N0: Số cá chép trong lồng trước khi thu mẫu
lần 1 (trước khi điều trị) (con)
K1: Số cá chép thu mẫu kiểm tra lần 1
(trước khi điều trị) (K1 = 20 con).
- Đánh giá hiệu quả điều trị qua biểu hiện
mô bệnh học
Mẫu ruột cá chép có chứa bào nang bào tử
sợi T. kitauei được thu tại các thời điểm trước
điều trị, sau 4 ngày điều trị và sau 8 ngày điều
trị để làm tiêu bản mô bệnh học nhằm đánh giá
hiệu quả điều trị của các phác đồ. Phương pháp
được thực hiện theo mô tả của (Cengiz, 2006;
Trương Đình Hoài & cs., 2014). Mẫu ruột cá
chép bị bệnh có chứa bào nang bào tử sợi
T. kitauei được ngâm trong dung dịch formalin
10%, bảo quản ở 2-8C. Sau đó, mẫu được cắt
gọt, khử nước bằng cồn, đúc trong farafin, cắt
lát 5-7µm, nhuộm hematoxylin và eosin và quan
Nguyễn Văn Tuyến, Trần Thị Dịu, Phạm Thị Thắm, Đoàn Thị Nhinh, Kim Văn Vạn, Trương Đình Hoài
1143
sát trên kính hiển vi có độ phóng đại 100, 400
và 1.000 lần.
2.3. Xử lý số liệu
Phần mềm Microsoft Excel được dùng để
tính các giá trị trung bình và độ lệch chuẩn
(SD). Giá trị trung bình của tỷ lệ nhiễm trước
điều trị; tỷ lệ nhiễm, tỷ lệ chết và tỷ lệ khỏi
bệnh sau 8 ngày điều trị được so sánh bằng
phương pháp ANOVA với độ tin cậy P ≤0,05.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Chẩn đoán, xác định tác nhân gây
bệnh trước điều trị
3.1.1. Triệu chứng và bệnh tích của cá chép
nhiễm bào tử sợi T. kitauei
Kết quả kiểm tra triệu chứng và bệnh tích
đại thể của 60 cá thu ngẫu nhiên từ các lồng
đang bị bệnh cho thấy cá chép nhiễm bào tử sợi
T. kitauei hầu hết đều thể hiện triệu chứng bơi
lờ đờ, thân đen, bụng chướng to, kiểm tra nội
quan cho thấy các nội tạng (ruột, gan, thận) bị
sưng hoặc xuất huyết, đặc biệt ruột cá có nhiều
bào nang bào tử sợi (u bã đậu). Ngược lại, số
lượng cá chép mắc bệnh bị bong vảy bụng, hậu
môn sưng, có dịch màu trắng và vỡ ruột chiếm
tỷ lệ thấp hơn lần lượt là 26,7%, 16,7% và
13,3%. Tỷ lệ các triệu chứng và bệnh tích đại
thể của cá bệnh được được thể hiện chi tiết ở
bảng 2 và hình 1.
Các triệu trứng và bệnh tích đại thể của cá
chép bị nhiễm bào tử sợi T. kitauei trong nghiên
cứu này (Hình 1) giống với các triệu trứng và
bệnh tích của cá chép bị bệnh bào tử sợi
T. kitauei được mô tả trong nghiên cứu của
(Egusa & Nakajima, 1981; Lingtong & cs., 2017;
Kim Văn Vạn & Phạm Thị Thắm, 2018). Dịch
màu trắng, vàng thoát ra ở hậu môn cá nhiễm
bệnh bào tử sợi T. kitauei chính là các bào tử
được giải phóng từ các bào nang đã chín đổ vào
lòng ruột sau đó chảy ra môi trường, bào tử sợi
T. kitauei thông qua đó mà tiếp tục lây nhiễm
cho cá khác trong ao (Egusa & Nakajima, 1981;
Rhee & cs., 1990).
Kết quả kiểm tra bào nang của cá chép bệnh
cho thấy số lượng bào nang trong ruột cá chép bị
nhiễm bệnh bào tử sợi T. kitauei dao động từ
7-35 bào nang, số lượng trung bình 16 bào
nang/cá. Kích thước bào nang cũng biến động
khá lớn, từ 0,4-3,6cm × 0,2-2,9cm, kích thước
trung bình của bào nang là 1,43cm × 1,12cm.
Theo nghiên cứu của Egusa & Nakajima (1981),
kích thước bào nang của bào tử sợi T. kitauei
phát triển tăng dần theo thời gian kể từ khi cá
chép bị nhiễm bệnh, bào nang có cỡ lớn nhất
trong nghiên cứu này có đường kính 4,2cm, bào
nang nhỏ nhất có kích thước 1,1cm × 0,75cm. Bào
nang thu được từ cá chép bị bệnh bào tử sợi
T. kitauei trong nghiên cứu của chúng tôi có kích
thước nhỏ hơn so với bào nang của bào tử sợi
T. kitauei trong nghiên cứu của Kim Văn Vạn &
Phạm Thị Thắm (2018).
Bảng 2. Tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng và bệnh tích đại thể
của cá chép nhiễm bào tử sợi T. kitauei (n = 60)
Triệu chứng/bệnh tích Số cá có biểu hiện (con) Tỉ lệ (%)
Cá bị đen thân, bơi vật vờ 60 100
Bụng cá chướng to 60 100
Quẫy mạnh, nhảy lên khỏi mặt nước 52 86,7
Bong vảy bụng 16 26,7
Lỗ hậu môn sưng, có dịch màu trắng 10 16,7
Khi chết cơ thể dựng như đang bơi 22 36,7
Có bào nang trong ruột 60 100
Thành ruột mỏng 60 100
Nội tạng sưng hoặc xuất huyết 60 100
Có dịch lỏng trong ruột 54 90
Vỡ ruột 8 13,3
Bào nang ở cơ quan khác ngoài ruột 0 0
Thử nghiệm các phác đồ điều trị bệnh u nang đường ruột do bào tử sợi Thelohanellus kitauei trên cá chép
(Cyprinus carpio)
1144
Ghi chú: A: cá chép nhiễm bệnh bị chướng bụng, hậu môn chảy dịch màu trắng, B: ruột cá mắc bệnh có chứa
nhiều bào nang, C: nội tạng cá mắc bệnh bị sưng, xuất huyết, D: số lượng bào nang của 1 cá chép bị nhiễm bệnh
(thanh tỉ lệ 1cm).
Hình 1. Dấu hiệu triệu chứng và bệnh tích trên cá chép bị nhiễm bào tử sợi T. kitauei
Bảng 3. Kích thước của bào tử sợi T. kitauei gây bệnh trên cá chép (TB SD (µm))
Loài bào tử sợi T. kitauei T. kitauei T. kitauei
Nguồn Kết quả thí nghiệm (n = 30) (Lingtong & cs., 2017) (Lingtong & cs., 2017)
Ký chủ Cá chép Cá chép Cá chép
Cơ quan ký sinh Ruột Ruột Ruột
Hình dạng bào tử sợi Quả lê dài Quả lê dài Quả lê dài
Chiều dài bào tử 24,91 1,61 25,98 0,95 26,3 (23-29)
Chiều rộng bào tử 9,62 0,57 8,72 0,51 9,2 (8-11)
Chiều dài cực nang 16,86 0,96 14,73 0,92 16,8 (14-18)
Chiều rộng cực nang 7,29 0,56 6,82 0,45 7,4 (6-9)
Chiều dài vỏ 34,40 1,63 38,41 2,45 33,4 (31-35)
Chiều rộng vỏ 14,43 1,21 13,30 0,87 15,0 (12-17)
Số vòng xoắn của roi trong cực nang (vòng) 8-10 8-10 8-10
Chiều dài roi 187,60 12,82 - 166,7 (120-197)
3.1.2. Đặc điểm hình thái của bào tử sợi
T. kitauei gây bệnh trên cá chép
Bào tử sợi T. kitauei thu được từ cá chép bị
nhiễm bệnh có hình quả lê dài. Bào tử của bào
tử sợi có kích thước 24,91µm × 9,62µm, cực
nang có kích thước 16,86µm × 7,29µm, cực
nang chứa 1 roi mảnh xoắn lại từ 8-10 vòng,
roi khi giải phóng khỏi cực nang có chiều dài
187,60µm. Bào tử và cực nang được bọc trong
vỏ có kích thước 34,40µm × 14,43µm (Bảng 3,
Hình 2).
Kết quả so sánh những đặc điểm của bào tử
sợi thu từ cá chép bị bệnh u nang đường ruột
trong nghiên cứu của chúng tôi và bào tử sợi T.
kitauei trong những nghiên cứu trước đây của
(Egusa & Nakajima, 1981; Lingtong & cs., 2017;
Kim Văn Vạn & Phạm Thị Thắm, 2018) đều có
những điểm giống nhau về hình thái ngoài, cấu
trúc bên trong, ký chủ, cơ quan ký sinh, các
triệu chứng và bệnh tích trong và ngoài cơ thể
cá bệnh. Do đó, tác nhân gây bệnh cho cá chép
trước khi tiến hành điều trị được xác định là bào
tử sợi Thelohanellus kitauei.
Nguyễn Văn Tuyến, Trần Thị Dịu, Phạm Thị Thắm, Đoàn Thị Nhinh, Kim Văn Vạn, Trương Đình Hoài
1145
Ghi chú: A: bào tử sợi chưa bung roi (400x) (thanh tỷ lệ 20µm); B, C: bào tử sợi chưa bung roi (1000x); D: bào tử
sợi đã bung roi (1.000x) (thanh tỷ lệ 10µm); 1: vỏ bào tử sợi, 2: bào tử, 3: cực nang, 4: roi xoắn trong cực nang
chưa bung, 5: cực nang sau khi bung roi. 6: roi bung ra.
Hình 2. Hình thái của bào tử sợi T. kitauei ký sinh trong ruột cá chép
Bảng 4. Triệu chứng và bệnh tích của cá chép sau quá trình điều trị bào tử sợi T. kitauei
(n = 100)
Phác
đồ
điều
trị
Tỷ lệ các triệu chứng và bệnh tích trước và sau điều trị (%)
Trước điều trị Sau 8 ngày điều trị
Bơi lờ đờ,
đen thân
Bụng
chướng to
Nội tạng sưng
hoặc xuất huyết
Có bào nang
trong ruột
Bơi lờ đờ,
đen thân
Bụng
chướng to
Nội tạng sưng
hoặc xuất huyết
Có bào nang
trong ruột
1 33 43 37 43 22 23 17 34
2 37 50 40 50 0 0 2 5
3 35 41 37 41 0 0 3 6
4 39 45 36 45 0 0 2 6
3.2. Kết quả điều trị bào tử sợi T. kitauei
trên cá chép
3.2.1. Triệu chứng và bệnh tích của cá chép
sau quá trình điều trị bào tử sợi T. kitauei
Kết quả theo dõi cho thấy cá chép nhiễm
bào tử sợi T. kitauei sau 8 ngày điều trị bằng
phác đồ 1 (10mg praziquantel/kg cá/ngày), phác
đồ 2 (0,6mg ivermectin/kg cá/ngày), phác đồ 3
(10mg albendazole + 10mg praziquantel/kg
cá/ngày) và phác đồ 4 (6mg triclabendazole +
6mg albendazole/kg cá/ngày) có tỷ lệ biểu hiện
các triệu chứng và bệnh tích giảm so với trước
khi điều trị. Tuy nhiên, cá chép trong các lồng
sau 8 ngày điều trị bằng phác đồ 1 tiếp tục chết
rải rác, cá vẫn còn các triệu chứng, bệnh tích bơi
lờ đờ, đen thân, bụng chướng to. Ngược lại, các
lồng nuôi cá chép sau 8 ngày điều trị bằng phác
đồ 2, 3 và 4, cá dừng chết, hoạt động bình
thường, bụng không chướng to (Bảng 4).
Giải phẫu các mẫu cá cho thấy 34% cá chép
sau 8 ngày điều trị bằng phác đồ 1 còn bào nang
trong ruột, ngược lại tỷ lệ này ở các phác đồ 2, 3
và 4 thấp hơn. dao động trong khoảng 5-6%
(Bảng 4). Tỷ lệ cá chép có biểu hiện nội tạng
sưng hoặc xuất huyết sau 8 ngày điều trị bằng
phác đồ 2, 3 và 4 lần lượt là 2%, 3% và 2%, thấp
hơn so với phác đồ 1 (17%) và thấp hơn so với
trước khi điều trị lần lượt 40%, 37% và 36%. Kết
quả giải phẫu cá chép sau điều trị bằng phác đồ
Thử nghiệm các phác đồ điều trị bệnh u nang đường ruột do bào tử sợi Thelohanellus kitauei trên cá chép
(Cyprinus carpio)
1146
2, 3 và 4 cho thấy mặc dù không thấy hoặc thấy
rất ít bào nang bị nhăn nheo trong ruột cá,
nhưng lại thấy ruột cá bị phình một số đoạn.
Điều này có thể do bào tử sợi T. kitauei ký sinh
trong ruột cá và hình thành các bào nang với
kích thước lớn dẫn đến những đoạn ruột chứa
bào nang bị phình. Sau khi cá được điều trị, bào
tử sợi bị tiêu diệt, bào nang tiêu giảm và bị đào
thải ra môi trường nên chỉ còn một vài bào nang
bị nhăn nheo và các đoạn phình trên ruột cá.
3.2.2. Hiệu quả điều trị bào tử sợi T. kitauei
của các phác đồ
Kết quả thử nghiệm cho thấy cá chép sau
điều trị bằng phác đồ 1 có tỷ lệ nhiễm giảm
nhưng vẫn còn cao so với trước điều trị (34% so
với 43%). Trong khi tỷ lệ nhiễm của cá chép sau
điều trị bằng phác đồ 2, 3 và 4 thấp hơn rất
nhiều so với trước điều trị (lần lượt là 5%, 6% và
6% so với 50%, 41% và 45%). Tỷ lệ nhiễm sau
điều trị của các phác đồ 2, 3 và 4 có sự khác biệt
thống kê so với tỷ lệ nhiễm sau điều trị của phác
đồ 1 (P <0,05), nhưng không có sự khác biệt
giữa các tỷ lệ nhiễm của các phác đồ này với
nhau (P >0,05). Tỷ lệ chết sau 8 ngày điều trị
của phác đồ 1 (4,37%) cao hơn và có sự khác biệt
thống kê (P <0,05) so với tỷ lệ chết sau 8 ngày
điều trị của phác đồ 2, 3 và 4 lần lượt là 1,78%,
1,74% và 1,76%. Hiệu quả điều trị của phác đồ
trị 1 thấp nhất với tỷ lệ khỏi bệnh 24,92%, thấp
hơn so với phác đồ điều trị 2, 3 và 4 với tỷ lệ
khỏi bệnh lần lượt là 90,48%, 85,62% và 86,86%.
Tỷ lệ khỏi bệnh của phác đồ 1 có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê so với tỷ lệ khỏi bệnh của các
phác đồ còn lại (P <0,05). Trong khi đó, tỷ lệ
khỏi bệnh của các phác đồ điều trị 2, 3 và 4
không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê
(P >0,05) (Bảng 5).
3.2.3. Kết quả kiểm tra mô bệnh học trước
và sau điều trị
Hiệu quả điều trị không chỉ thể hiện qua tỷ
lệ biểu hiện triệu chứng, bệnh tích đại thể, tỷ lệ
nhiễm, tỷ lệ chết và tỷ lệ khỏi bệnh mà còn thể
hiện qua sự biến đổi và khác biệt về mô bệnh
học của các bào nang thu từ những cá chép được
điều trị bằng các phác đồ 2, 3 và 4 so với các
biểu hiện mô bệnh học của các bào nang thu từ
cá chép được điều trị bằng phác đồ 1 và cá chép
trước khi điều trị. Quan sát dưới kính hiển vi
cho thấy mô ruột cá chép bị bệnh trước khi được
điều trị đã bị bào tử sợi T. kitauei xâm lấn, phát
triển và phá hủy (Hình 3). Hiện tượng bào tử sợi
T. kitauei ký sinh và xâm lấn mô ruột, mô da
của cá chép bệnh đã được báo cáo bởi các tác giả
(Zhai & cs., 2016; Lingtong & cs., 2017).
Biểu hiện về mô bệnh học cho thấy các mô
bào nang thu từ cá chép sau điều trị 4 ngày và 8
ngày có mật độ bào tử sợi T. kitauei thấp hơn so
mô bào nang thu từ cá chép trước điều trị. Mô
bào nang thu từ cá chép sau 4 ngày điều trị
bằng phác đồ 1 có mật độ bào tử sợi giảm so với
trước điều trị nhưng vẫn còn nhiều. Ngược lại
mật độ bào tử sợi ở mô bào nang thu từ cá chép
sau 4 ngày điều trị bằng phác đồ 2, 3 và 4 đã
giảm rõ rệt so với trước khi điều trị. Đặc biệt mô
bào nang thu từ cá chép sau điều trị 8 ngày
bằng phác đồ 2, 3 và 4 không thấy sự xuất hiện
của bào tử sợi T. kitauei. Điều này chứng tỏ các
thuốc điều trị ký sinh trùng dùng trong các phác
đồ trên có tác dụng tiêu diệt bào tử sợi T.
kitauei trong cơ thể cá chép bị nhiễm bệnh. Sự
khác biệt về mô bệnh học của các bào nang thu
từ cá chép trước và sau điều trị một lần nữa
khẳng định phác đồ điều trị 2, 3 và 4 có hiệu
quả điều trị cao hơn phác đồ 1 (Hình 4).
Bảng 5. Hiệu quả điều trị bào tử sợi T. kitauei của các phác đồ (TB SD (%))
Phác đồ điều trị
(n = 5)
Tỷ lệ nhiễm
trước điều trị
Tỷ lệ nhiễm
sau 8 ngày điều trị
Tỷ lệ chết
sau 8 ngày điều trị
Tỷ lệ
khỏi bệnh
1 43,00
a
5,70 34,00
a
7,42 4,37
a
0,24 24,92
a
9,43
2 50,00
a
7,91 5,00
b
3,54 1,78
b
0,20 90,48
b
7,01
3 41,00
a
6,52 6,00
b
2,24 1,74
b
0,22 85,62
b
4,49
4 45,00
a
7,9
6,00
b
2,24 1,76
b
0,17 86,86
b
4,07
Chú thích: Trong cùng một cột, những giá trị trung bình không mang cùng chữ cái thì sai khác có ý nghĩa thống
kê (P <0,05).
Nguyễn Văn Tuyến, Trần Thị Dịu, Phạm Thị Thắm, Đoàn Thị Nhinh, Kim Văn Vạn, Trương Đình Hoài
1147
Ghi chú: A, B: mô ruột cá bệnh bị tổn thương và lấp đầy bào tử sợi, thanh tỷ lệ 200µm; C: bào tử sợi bắt đầu xâm
lấn mô ruột, thanh tỷ lệ 50µm; D: bào tử sợi xâm lấn, phát triển thay thế các tế bào mô ruột, thanh tỷ lệ 50µm.
Hình 3. Biến đổi của mô ruột cá chép nhiễm bào tử sợi T. kitauei
Ghi chú: A: Mô bào nang trước khi điều trị; B: Mô bào nang thu từ cá chép sau 4 ngày điều trị bằng phác đồ 1;
C: Mô bào nang thu từ cá chép sau 4 ngày điều trị bằng phác đồ 3; D: Mô bào nang thu từ cá chép sau 8 ngày
điều trị bằng phác đồ 2, thanh tỷ lệ 100µm.
Hình 4. Biến đổi mô của bào nang thu từ cá chép bị bệnh bào tử sợi T. kitauei trước
và sau điều trị
Hiệu quả điều trị của phác đồ 1 thấp có thể
do liều sử dụng praziquantel của phác đồ 1
(10 mg/kg cá/ngày) thấp nên chỉ có thể ức chế,
tiêu diệt một phần bào tử sợi T. kitauei mà chưa
thể tiêu diệt hoàn toàn bào tử sợi trong thời gian
thử nghiệm. Theo nghiên cứu của Kim Van Van
& cs. (2012), liều dùng praziquantel để điều trị
ấu trùng sán lá (Centrocestus formosanus) gây
bệnh kênh mang trên cá chép là 50-75 mg/kg
cá/ngày. Kết quả điều trị còn cho thấy, mặc dù
ivermectin với liều dùng thấp hơn (0,6 mg/kg
cá/ngày) lại có hiệu quả điều trị bào tử sợi T.
kitauei cao hơn rất nhiều so với praziquantel với
liều 10 mg/kg cá/ngày. Tuy nhiên, khi kết hợp
praziquantel với albendazole và triclabendazole
trong phác đồ 3 và 4 lại cho hiệu quả cao hơn.
Thử nghiệm các phác đồ điều trị bệnh u nang đường ruột do bào tử sợi Thelohanellus kitauei trên cá chép
(Cyprinus carpio)
1148
4. KẾT LUẬN
Cá chép mắc bệnh u nang đường ruột do bào
tử sợi T. kitauei có các triệu trứng bệnh tích bơi
lờ đờ, đen thân, bụng chướng to, các nội quan bị
sưng, xuất huyết, ruột có nhiều khối bào nang.
Bào tử sợi T. kitauei sau khi nhiễm vào cá chép,
sẽ phát triển xâm lấn, dần thay thế và phá hủy
mô ruột của cá bệnh, quá trình này sẽ hình
thành các bào nang và làm xuất hiện các triệu
chứng, bệnh tích điển hình trên cá nhiễm bệnh.
Các phác đồ sử dụng 0,6mg ivermectin/kg
cá/ngày hoặc kết hợp 6mg triclabendazole + 6mg
albendazole/kg cá/ngày hoặc 10mg albendazole
+ 10mg praziquantel/kg cá/ngày cho ăn 3 ngày
liên tục, sau đó cho cá ăn kháng sinh
doxycycline với liều 15 mg/kg cá/ngày trong 5
ngày tiếp theo để điều trị tổn thương ở ruột cá
bệnh cho hiệu quả điều trị bệnh cao, với tỷ lệ
điều trị cá khỏi bệnh lần lượt là 90,48%, 85,62%
và 86,86%. Đây là 3 phác đồ có thể sử dụng
trong thực tế sản xuất để trị bệnh do bào tử sợi
T. kitauei gây ra trên cá chép.
LỜI CẢM ƠN
Các tác giả xin chân thành cảm ơn các cán
bộ, sinh viên Khoa Thủy sản, Khoa Thú y, Học
viện Nông nghiệp Việt Nam và các hộ nuôi cá
tại Hải Dương đã giúp đỡ, tạo điều kiện trong
thu thập thông tin, thu mẫu cá bệnh, bố trí và
theo dõi thí nghiệm. Các tác giả xin cảm ơn dự
án Việt-Bỉ đã tài trợ kinh phí thông qua đề tài
mã số T2019 0211VB để chúng tôi thực hiện
nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Arthur J.R. & Bui Quang Te (2006). Checklish of the
parasites of fishes of Vietnam. FAO Fisheries
Technical Paper. 369(2): 133.
Cengiz E.I. (2006). Gill and kidney histopathology in
the freshwater fish Cyprinus carpio after acute
exposure to deltamethrin. Environmental
Toxicology and Pharmacology. 22(2): 200-204.
David R.C. (2012). Measurement with the Light
Microscope. Retrieved from https://www.ruf.rice.
edu/~bioslabs/methods/microscopy/measuring.html,
on April 10, 2019.
Egusa S. & Nakajima K. (1981). A New Myxozoa
Thelohanellus kitauei, the Cause of Intestinal Giant
Cystic Disease of Carp. 15: 213-218.
Hà Ký & Bùi Quang Tề (2007). Ký sinh trùng cá nước
ngọt Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ
thuật. tr. 212-213.
Kim Văn Vạn & Nguyễn Văn Thọ (2012). Nghiên cứu
dịch tễ ấu trùng sán lá lây truyền qua cá chép giống
(Cyprinus carpio) trong các hệ thống nuôi. Tạp chí
Khoa học và Phát triển. 10(6): 933-939.
Kim Van Van, Truong Dinh Hoai, Buchmann K.,
Dalsgaard A. & Nguyen Van Tho (2012). Efficacy
of praziquantel agaist Centrocestus formosanus
metacercariae infection in common carp (Cyprinus
carpio Linnaeus). Journal of Southern Agriculture.
43(4): 520-523.
Kim Văn Vạn & Phạm Thị Thắm (2018). Nghiên cứu
một số đặc điểm bệnh u nang bã đậu trong ruột cá
chép do bào tử sợi gây ra tại Hải Dương. Tạp chí
Khoa học Kỹ thuật Thú y. 15(6): 76-82.
Lingtong Y., Mingmiao L., Keyan Q., Wenxiang L.,
Hong Z., Shangong W., Jiangyong W. & Guitang
W. (2017). Intestinal disease of scattered mirror
carp Cyprinus carpio caused by Thelohanellus
kitauei and notes on the morphology and
phylogeny of the myxosporean from Sichuan
Province, southwest China. Chinese Journal of
Oceanology and Limnology. 35(3): 587-596.
National Institutes of Health (2019). Emagej program.
Retrieved from https://imagej.nih.gov/ij/
download.html, on April 10, 2019.
Rhee J.K., Kim J.O., Kim P.G. & Park B.K. (1990).
Prophylactic and therapeutic studies on intestinal
giant-cystic disease of the Israel carp caused by
Thelohanellus kitauei. I. Course of formation and
vanishment of the cyst. Kisaengch'unghak chapchi.
The Korean journal of parasitology. 28(3): 183-194.
Rhee J.K., Kim J.O. & Park B.K. (1990). Prophylactic
and therapeutic studies on intestinal giant-cystic
disease of the Israel carp caused by Thelohanellus
kitauei. II. Effects of physical and chemical factors
on T. kitauei spores in vitro. The Korean journal of
parasitology. 28(4): 241-252.
Rhee J.K., Kim H.C. & Park B.K. (1993). Efficacy of
fumagillin against Thelohanellus kitauei infection
of Israel carp, Cyprinus carpio nudus. Korean J
Parasitol. 31(31): 57-65.
Trương Đình Hoài, Nguyễn Vũ Sơn, Nguyễn Thị Mai
Phương. & Nguyễn Thị Hậu (2014). Đặc điểm mô
bệnh học của cá rô phi (Oreochromis niloticus)
nhiễm Streptococcus sp. nuôi tại một số tỉnh miền
bắc Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Phát triển.
12(3): 360-371.
Zhai Y., Gu Z., Guo Q., Wu Z., Wang H. & Liu Y.
(2016). New type of pathogenicity of
Thelohanellus kitauei Egusa & Nakajima, 1981
infecting the skin of common carp Cyprinus carpio
L. Parasitology International. 65(1): 78-82.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
thu_nghiem_cac_phac_do_dieu_tri_benh_u_nang_duong_ruot_do_ba.pdf