Thực trạng dân số Việt Nam và ảnh hưởng của nó tới thị trường lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế

Thực trạng dân số Việt Nam và ảnh hưởng của nó tới thị trường lao động trong tiến trình hội nhập kinh tếMỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 I.Cơ sở lý luận của dân số và thị trường lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế. 3 1.Dân số và các chỉ tiêu của dân số 3 1.1.Khái niệm dân số 3 1.2.Các chỉ tiêu của dân số 3 1.2.1.Quy mô dân số 3 1.2.2.Cơ cấu dân số 3 1.2.3.Phân bố dân số 4 1.2.4.Mức sinh 5 1.2.5.Mức chết 6 1.2.6.Di dân 7 2.Thị trường lao động và các yếu tố của thị trường lao động 8 2.1.Khái niệm thị trường lao động 8 2.2.Các yếu tố của thị trường lao động 8 2.2.1.Cung lao động 8 2.2.2.Cầu lao động 9 2.2.3.Giá cả sức lao động và thông tin thị trường lao động 9 2.2.4.Các quan hệ giao dịch cung- cầu lao động 9 3.Khái niệm hội nhập kinh tế 10 4.Mối liên hệ giữa dân số và thị trường lao động 10 4.1.Dân số ảnh hưởng tới nguồn lao động (cung lao động) 10 4.1.1.Quy mô, phân bố dân số ảnh hưởng đến quy mô, phân bố nguồn lao động. 10 4.1.2.Cơ cấu tuổi và giới tính của dân số ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng nguồn lao động. 11 4.1.3.Chất lượng dân số ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng nguồn lao động. 11 4.1.4. Ảnh hưởng của mức sinh đến nguồn lao động. 12 4.1.5.Tác động của mức chết đến nguồn lao động 12 4.1.6.Tác động của di dân đến nguồn lao động 13 4.2.Cung lao động ảnh hưởng tới dân số 13 II.Thực trạng dân số Việt Nam và ảnh hưởng của nó tới thị trường lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế. 14 1.Thực trạng dân số Việt Nam 14 2. Ảnh hưởng của dân số tới cung lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế. 16 3. Yêu cầu đặt ra đối với dân số Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế. 19 III.Các giải pháp đối với dân số và thị trường lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế. 20 1.Đối với dân số 20 2.Đối với thị trường lao động 22 KẾT LUẬN 24 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

doc27 trang | Chia sẻ: thanhnguyen | Lượt xem: 2611 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Thực trạng dân số Việt Nam và ảnh hưởng của nó tới thị trường lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Dân số là một trong những mối quan tâm sâu, rộng của rất nhiều các quốc gia trên thế giới ở mọi thời đại. Nói cụ thể hơn thì dân số không chỉ là vấn đề mà các nhà khoa học quan tâm tới mà các chính phủ cũng đều quan tâm, không chỉ có ngày nay mà từ xa xưa đã quan tâm và không chỉ các quốc gia đang bùng nổ dân số như Việt Nam và các nước đang phát triển mới quan tâm mà các nước phát triển cũng rất quan tâm đến. Đó là bởi vì dân số là sức mạnh quốc gia, dân số càng đông thì sức mạnh càng lớn. Quy mô, cơ cấu, chất lượng tăng dân số có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đối với mỗi quốc gia mà dân số có tác động tiêu cực hoặc tích cực. Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên vấn đề dân số càng cần được quan tâm, điều chỉnh phù hợp để cung cấp nguồn lao động hợp lý và có chất lượng cao cho thị trường lao động còn chưa được hoàn chỉnhở nước ta. Đặc biệt hơn khi Việt Nam cũng đang trong tiến trình hội nhập kinh tế với sự kiện gần nhất là nước ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) với những đòi hỏi khắt khe của môi trường quốc tế. Chúng ta sẽ có nhiều cơ hội song cũng không ít thách thức để dân số Việt Nam phải điều chỉnh sao cho đáp ứng yêu cầu của xu thế phát triển. Vì vậy dân số vẫn luôn là đề tài nóng của mọi thời đại, cần luôn được đựơc chú trọng. Và do đó tôi đã chọn đề tài : “Thực trạng dân số Việt Nam và ảnh hưởng của nó tới thị trường lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế ”. *Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu là dân số và thị trường lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế. - Phạm vi nghiên cứu là dân số và cung lao động cả nước Việt Nam. * Phương pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, điều tra chọn mẫu, các phương pháp thống kê toán học thường được sử dụng để xử lý phân tích thông tin. Các hình thức thu thập thông tin qua phỏng vấn, thảo luận. * Kết cấu đề tài -Lời mở đầu -Nội dung I. Cơ sở lý luận của dân số và thị trường lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế. II. Thực trạng dân số Việt Nam và ảnh hưởng của nó tới thị trường lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế. III. Các giải pháp đối với dân số và đối với thị trường lao động trong tiến trình hội nhâp kinh tế. - Kết luận - Danh mục tài liệu tham khảo - Phụ lục I.Cơ sở lý luận của dân số và thị trường lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế. 1.Dân số và các chỉ tiêu của dân số 1.1.Khái niệm dân số Tập hợp những người cùng sống trên một lãnh thổ nhất định gọi là dân cư của vùng đó. Lãnh thổ có thể là xã, huyện, tỉnh, cả nước hay cả Trái Đất…Dân cư của một vùng lãnh thổ là khách thể nghiên cứu chung của nhiều bộ môn khoa học như Y học, Kinh tế học, Ngôn ngữ học… Mỗi khoa học nghiên cứu một khía cạnh nào đó của khách thể này. Và dân số chính là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ quy mô và cơ cấu và những thành tố gây nên sự biến động của chúng: sinh, chết, di cư. 1.2.Các chỉ tiêu của dân số 1.2.1.Quy mô dân số Quy mô dân số của một vùng lãnh thổ là tổng số dân sinh sống trên vùng lãnh thổ đố tại một thời điểm nhất định. Thời điểm có thể là đầu năm, giữa năm hay cuối năm…cùng với những phương pháp chuyên môn người ta sẽ xác định được lượng người cư trú trong vùng lãnh thổ nào đó. Tuỳ mục đích hay yêu cầu nghiên cứu người ta cần nắm dân số hiện có mặt tại một địa phương và dân số pháp lý tức thường trú theo tiêu thức đăng ký hộ tịch, hộ khẩu từ đó xác định số dân tạm trú, tạm vắng. Hai chỉ tiêu biểu hiện quy mô dân số thường dùng là: +Dân số trung bình là số lượng dân được tính bình quân trong một thời kỳ nào đó(tháng, quý, năm hoặc thời kỳ dài). +Tăng trưởng dân số là sự biến đổi quy mô dân số theo thời gian. Để đánh giá chỉ tiêu này người ta thường tính tỉ lệ tăng dân số hàng năm (r) r =(số dân cuối năm - số dân đầu năm )/số dân đầu năm 1.2.2.Cơ cấu dân số Sự phân chia dân số thành các bộ phận khác nhau theo các tiêu thức khác nhau tạo nên cơ cấu dân số. Theo đó sẽ có nhiều cơ cấu dân số tuỳ theo cách phân chia, đó là: -Theo giới tính: cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân thành số nam và số nữ. Các chỉ tiêu đơn giản thường được dùng là: Tỉ số giới tính SR = Pnam/Pnữ Tỉ lệ nam( nữ ) trong tổng số dân = Pnam(nữ)/P Tỉ số giới phụ thuộc vào tỉ số giới của trẻ sơ sinh, sự khác biệt về tử vong và di cư của nam và nữ. -Theo tuổi: cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân theo từng độ tuổi(một năm) hoặc nhóm tuổi( thường là 5 năm, 10 năm) và các khoảng tuổi lớn( dưới tuổi lao động từ 0 đến 15 tuổi; ngoài tuổi lao động từ 60 tuổi trở lên; trong độ tuổi sinh đẻ từ 15 đến 49 tuổi…). Ở đây có một chỉ tiêu thể hiện mức đảm nhiệm, đó là tỉ số phụ thuộc( gánh nặng phụ thuộc). Qua đây có thể biết trung bình cứ cứ 100 người trong tuổi lao động phải nuôi bao nhiêu người ở các nhóm tuổi dưới và trên độ tuổi lao động. Ngoài ra còn có nhiều cách phân chia cơ cấu dân số nữa như cơ cấu dân số theo tình trạng hôn nhân hay theo trình độ giáo dục… song cơ cấu tuổi và giới tính của dân số là những cơ cấu dân số nền tảng và được sử dụng nhiều trong phân tích dân số học. 1.2.3.Phân bố dân số Để đáp ứng nhu cầu thực tế, số liệu dân số cần phải được thu thập, tính toán, phân chia theo các vùng địa lý, vùng kinh tế hoặc các đơn vị hành chính…trong mỗi quốc gia. Người ta có thể nhận biết một vùng là đông dân hay thưa dân trên cơ sở mật độ dân số. Chỉ tiêu này biểu thị số dân trên một đơn vị diện tích ( thường là người/km2). -Theo vùng lãnh thổ -Theo các khu vực thành thị và nông thôn 1.2.4.Mức sinh -Khái niệm: Mức sinh là biểu hiện khả năng sinh sản trên thực tế của người phụ nữ. Nó liên quan đến số trẻ sinh sống mà một người phụ nữ có thực trong suốt cuộc đời sinh sản của mình. -Các thước đo đánh giá mức sinh: +Tỉ suất sinh thô CBR biểu thị số trẻ em sinh ra trong một năm so với 1000 dân trung bình của địa phương trong năm đó. Nó phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu dân số. Nếu cơ cấu dân số thuận lợi cho mức sinh (số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cao) mặc dù mức sinh của người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ không đổi nhưng số trẻ em sinh ra trong một năm vẫn cao nên CBR cũng cao. Thước đo này được sử dụng rộng rãi và nó khác nhau giữa các vùng, các nước, các thời kỳ. +Tỉ suất sinh chung GFR biểu thị số trẻ em sinh ra trong một năm so với 1000 phụ nữ trong độ tuổi có khả năng sinh đẻ. Thước đo này đã loại bỏ một phần ảnh hưởng của cơ cấu tuổi và giới tính đối với mức sinh. Nó không chỉ phụ thuộc vào mức sinh của phụ nữ mà còn phụ thuộc vào cơ cấu tuổi trong nhóm phụ nữ ở tuổi sinh đẻ. +Tỉ suất sinh đặc trưng theo từng nhóm tuổi ASFRx để đánh giá mức độ sinh của từng độ tuổi(nhóm tuổi). thước đo này đã loại bỏ hoàn toàn cơ cấu tuổi và giới đối với mức sinh. Tuy nhiên để xác định được nó cần có số liệu chi tiết mức sinh cho từng độ tuổi. Trong thực tế thường chỉ tính cho từng nhóm tuổi. +Tổng tỉ suất sinh TFR là thước đo đánh giá mức sinh được các nhà nhân khẩu học sử dụng rộng rãi. Phương pháp xác định khá đơn giản nhưng phải xác định được các tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi rồi cộng lại được tỉ suất sinh. Nhưng chú ý tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi tính cho 1000 phụ nữ còn tổng tỉ suất sinh tính cho một phụ nữ. -Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh: +Nhóm yếu tố tự nhiên: cơ cấu dân số theo tuổi và giới +Nhóm yếu tố kinh tế- xã hội: nghề nghiệp, thu nhập, trình độ giáo dục, lối sống, phong tục thờ cúng…cũng ảnh hưởng đến nhận thức và kiến thức của người dân về quan điểm, quyết định sinh đẻ vì vậy mức sinh có thay đổi đáng kể. +Nhóm yếu tố chính sách dân số cũng là nhân tố quan trọng quyết định mức sinh của người dân. +Nhóm yếu tố giáo dục kĩ thuật: các phương tiện tránh thai có tác động tích cực đến mức sinh nếu biết cách sử dụng hợp lý nhưng nó cũng sẽ phản tác dụng nếu quá lạm dụng hoặc sử dụng không đúng cách và có thể dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. 1.2.5.Mức chết -Khái niệm Chết là sự mất đi vĩnh viễn những biểu hiện của sự sống tại bất cứ thời điểm nào sau khi có sự kiện sinh sống xảy ra(sự chấm dứt tất cả những biểu hiện của sự sống mà không một khả năng nào khôi phục lại được). Như vậy sự kiện chết xảy ra chỉ sau khi có sự kiện sinh ra sống được. Khoảng thời gian kể từ khi sinh đến khi chết là độ dài cuộc sống, hay một đời người. -Các thước đo đánh giá mức chết: +Tỉ suất chết thô CDR biểu thị số người chết trong một năm so với 1000 người dân. Đây là thước đo phổ biến nhất được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên nó vẫn bộc lộ nhược điểm là không phản ánh chính xác mức chết vì nó còn phụ thuộc vào cơ cấu dân số. Cơ cấu dân số càng già thì CDR càng cao trong khi các tỉ suất sinh đặc trưng theo tuổi không thay đổi, vì vậy nó không phản ánh được trình độ y học, mức sống của người dân. +Tỉ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi IMR biểu thị số trẻ em chết dưới 1 tuổi trong năm so với 1000 trẻ em sinh sống trong năm. Đây là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá dân số vì nó là một trong những chỉ báo nhạy cảm nhất để đánh giá độ ảnh hưởng của y tế và bảo vệ sức khoẻ dân cư. Và nó còn đo mức độ chết trong phân bố dân cư và có mức độ chết cực cao nên nó ảnh hưởng rất lớn đến mức độ chết chung của dân cư. Tuy nhiên IMR lại không nhận ra tỷ suất chết thực thụ của nó. +Tỉ suất chết đặc trưng theo độ tuổi ASDRx đã loại bỏ hoàn toàn ảnh hưởng cơ cấu tuổi đối với mức chết, vì vậy nó có giá trị so sánh mức độ chết giữa các địa phương, quốc gia, thời kỳ với nhau và phản ánh được mức sống người dân, trình độ y tế, phát triển khoa học. Để xác định việc đó phải có số liệu chi tiết, không chỉ cần biết số người chết trong năm mà còn cần phải phân theo độ tuổi hay nhóm tuổi. 1.2.6.Di dân -Khái niệm: Di dân là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những giới hạn về thời gian và không gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên. -Đặc trưng chủ yếu của di dân: Một là, con người có thuộc tính luôn vươn tới điều kiện sống tốt hơn về vật chất và tinh thần. Nó cho phép nhìn nhận lại động cơ và mục đích di dân. Thường thì nơi định di cư đến là nơi có điều kiện sống tốt hơn xét tren một phương diện nào đó. Hai là, mức di dân cao hay thấp cũng liên quan chặt chẽ với độ tuổi. theo nghiên cứu thì dân số ở độ tuổi 15-30 chiếm đa số trong dòng di dân. Họ có nhiều cơ hội và triển vọng lớn hơn so với các độ tuổi khác trong đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm. Ba là, trong số người di dân thì nam thường nhiều hơn nữ. Điều này là do bản năng và sự phân công giới tính tự nhiên. Bốn là, người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trình độ lành nghề cao hơn thì khả năng di dân lớn hơn. họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn về việc làm với người sở tại, dễ dàng tạo được các điều kiện định cư lâu dài tại nơi mới. Năm là, người ít bị ràng buộc vào tôn giáo, các yếu tố văn hoá truyền thống, hoàn cảnh gia đình, họ sẽ dễ dàng thích nghi hơn do đó khả năng di cư sẽ cao hơn so với bộ phận dân số còn lại. Ngoài ra còn có các chỉ tiêu khác của dân số như tuổi thọ trung bình, biến động dân số tự nhiên… 2.Thị trường lao động và các yếu tố của thị trường lao động 2.1.Khái niệm thị trường lao động Thị trường: là nơi mua bán hàng hóa, là nơi gặp gỡ để tiến hành mua bán giữa người bán và người mua. Thị trường lao động : là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hoá sức lao động hoặc dịch vụ lao động giữa một bên là người sử dụng lao động và một bên là người lao động. Đây là bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thị trường và chịu sự tác động của hệ thống quy luật của nền kinh tế thị trường. 2.2.Các yếu tố của thị trường lao động 2.2.1.Cung lao động Tổng cung lao động là bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân và một bộ phận tuy chưa có việc làm nhưng đang có nhu cầu tìm việc. Cung lao động có tính thời điểm nên ta có cung thực tế và cung tiềm năng: -Cung lao động thực tế gồm những người lao động đang làm việc thực tế(đang hoạt động kinh tế ) và những người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có nhu cầu làm việc đang tìm việc trên thị trường lao động. -Cung lao động tiềm năng về lao động chỉ những khả năng tiềm tàng về nguồn nhân lực của một thị trường lao động và bao gồm các thành phần sau: cung thực tế lao động; những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang đi học (văn học, chuyên môn, kĩ thuật…); những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang làm công việc nội trợ trong gia đình mình; những người trong độ tuổi lao động đang đi nghĩa vụ quân sự và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nằm trong các tình trạng khác. 2.2.2.Cầu lao động Tổng cầu lao động là toàn bộ nhu cầu về sức lao động của nền kinh tế (của một đơn vị kinh tế, của một ngành) ở một thời kỳ nhất định, và bao gồm cả mặt số lượng và chất lượng, thường được xác định thông qua chỉ tiêu việc làm. 2.2.3.Giá cả sức lao động và thông tin thị trường lao động Giá cả sức lao động là biểu hiện tiền tệ của giá trị hàng hoá sức lao động. Giá trị hàng hoá sức lao động là do giá trị tư liệu sinh hoạt mà sức lao động cần có để sản xuất, duy trì và phát triển, quyết định. Số tiền chi trả cho những tư liệu sinh hoạt ấy tạo thành giá cả hàng hóa sức lao động. Giá cả sức lao động biểu hiện tiền công của người làm thuê. 2.2.4.Các quan hệ giao dịch cung- cầu lao động Sự vận động của cung cầu lao động sẽ chi phối số lượng người tham gia vào thị trường lao động và mức tiền công. Nếu mức cung lao động phù hợp với mức cầu, với điều kiện mức cầu có khả năng thu hút tất cả những người có khả năng lao động và mong muốn làm việc thì thị trường lao động vận hành tốt. Trong trường hợp ngược lại thì thị trường lao động sẽ lâm vào trạng thái không ổn định. Nêú mức cung lao động cao hơn cầu lao động, thì lao động sẽ thừa và ngược lại. Mặt khác, giá cả hàng hoá sức lao động không chỉ quyết định ở giá trị của nó, mà còn chịu ảnh hưởng của quan hệ cung cầu lao động. Khi cung lao động lớn hơn cầu, thì giá cả sức lao động sẽ thấp hơn giá trị sức lao động. Khi cung lao động không đáp ứng cầu, thì giá cả sức lao động sẽ tăng lên. Như vậy yếu tố cung, cầu lao động và giá cả sức lao động cũng có quan hệ tác động qua lại với nhau trên thị trường lao động. 3.Khái niệm hội nhập kinh tế Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, mở rộng quan hệ giao lưu hợp tác kinh tế, gia nhập trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế, các định chế kinh tế - tài chính quốc tế và tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu. 4.Mối liên hệ giữa dân số và thị trường lao động Thị trường lao động có 4 yếu tố song trong đề tài này chỉ xem xét mối liên hệ giữa dân số và cung lao động. Dân số và nguồn lao động có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Dân số là cơ sở hình thành nên nguồn lao động - lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội. Nguồn lao động là bộ phận dân số trong tuổi lao động và có khả năng lao động song trong thực tế nó còn bao gồm cả những người ngoài độ tuổi lao động thực tế có tham gia hoạt động lao động. Vì vậy khi xem xét mối liên hệ giữa dân số với nguồn lao động cũng chính là xem xét dân số với cung lao động. 4.1.Dân số ảnh hưởng tới nguồn lao động (cung lao động) 4.1.1.Quy mô, phân bố dân số ảnh hưởng đến quy mô, phân bố nguồn lao động. Dân số học thường chia tổng dân số ra làm ba bộ phận: bộ phận dân số dưới tuổi lao động (ký hiệu P0-14), bao gồm tất cả số trẻ em tính từ lúc mới sinh ra(0 tuổi) cho đến hết tuổi 15; bộ phận dân số trong độ tuổi lao động( ký hiệu P15-59 đối với nữ và P15-64 đối với nam); bộ phận dân số già (P60+ hoặc P65+). Với các điều kiện khác không thay đổi( như cơ cấu tuổi, giới tính…), khi nào và ở đâu quy mô dân số đông, mật độ dân số cao thì khi đó, nơi đó nguồn lao động cũng dồi dào. Đây không phải lúc nào cũng là thuận lợi mà đối với các nước chậm phát triển thì đây lại là một vấn đề gây đau đầu các nhà hoạch định chính sách. Với nguồn lao động lớn song nguồn vốn không đủ lớn, nên sẽ không có đủ việc làm cho họ. Đây sẽ trở thành áp lực lớn cho quá trình phát triển. 4.1.2.Cơ cấu tuổi và giới tính của dân số ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng nguồn lao động. Một dân cư có số người trẻ chiếm tỷ trọng cao trong dân số, thường do mức sinh cao và số người gia nhập vào lực lượng lao động nhiều hơn so với số người ra khỏi lực lượng lao động. Điều đó làm cho quy mô nguồn lao động không ngừng được tăng lên, cơ cấu lực lượng lao động được trẻ hoá, dòng di chuyển của lao động diễn ra nhiều và mạnh hơn, chất lượng nguồn nhân lực sẽ được cải thiện hơn so với một dân cư già, với số người già chiếm đa phần trong dân số. 4.1.3.Chất lượng dân số ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng nguồn lao động. Nguồn lao động là bộ phận chủ yếu của dân số. Chất lượng dân số tốt cũng có nghĩa là chất lượng nguồn nhân lực tốt và ngược lại. Thể lực, trí lực, nhân cách, phẩm hạnh, hành vi ứng xử, lối sống… của dân cư có ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cũng như quy mô, cơ cấu và sự phân bố của nguồn nhân lực. Dân số trẻ thì thường nguồn lao động cũng trẻ. Dân số trẻ trong tuổi lao động thường có thể lực, trí lực tốt hơn so với những những người lao động cao tuổi. Họ là bộ phận dân số khá linh hoạt và năng động trong cuộc sống, trong công việc và thường di chuyển, thay đổi nghề nghiệp, nơi làm việc và nơi cư trú nhiều hơn. Nhóm dân cư này chính là những đối tượng trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia và đống góp vào quá trình phân công lại lao động xã hội, thực hiện phân bố và phân bố lại lực lượng lao động, lực lượng sản xuất theo ngành và lãnh thổ góp phần chuyển dịch và đổi mới cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất trong nền kinh tế quốc dân. Trình độ học vấn của dân cư ảnh hưởng rất đáng kể đến chất lượng nguồn nhân lực. Khi trình độ học vấn của dân cư được nâng cao, nhiều người trẻ được tiếp cận và tiếp nhận giáo dục tốt, tỷ lệ biết chữ cao…sẽ tác động tích cực đến vấn đề giáo dục chuyên môn, nghề nghiệp, đào tạo kỷ luật, nâng cao kỹ năng của người lao động. 4.1.4. Ảnh hưởng của mức sinh đến nguồn lao động. Mức sinh giữ một vị thế rất quan trọng trong sự phát triển dân số, lao động và phát triển kinh tế xã hội. Mức sinh thay đổi, tại thời điểm đó số trẻ em mới được sinh ra có ảnh hưởng đến số lượng dân số nhưng không trực tiếp tác động đến quy mô nguồn lao động, mà thường sau 15 năm. Tuy nhiên, mức sinh cao thường đi liền với nó là quy mô dân số đông và nguồn lao động dồi dào. Mức sinh cao hay thấp, tăng nhanh hay chậm tất yếu sẽ làm cho cấu trúc tuổi của dân số và lao động trẻ ra hoặc già đi, cấu trúc giới tính có thể mất cân đối hoặc hài hoà hợp lý hơn. Sinh đẻ nhiều, số trẻ em mới được sinh ra đông, cấu trúc dân số trẻ, mức đảm nhận cao, gánh nặng kinh tế của những người trong tuổi lao động tăng lên, điều kiện để cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sông sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với các nước đang phát triển, các nước nghèo. Mức sinh không chỉ ảnh hưởng gián tiếp mà còn trực tiếp tác độngđến nguồn lao động. tại thời điểm mức sinh cao, số phụ nữ sinh đẻ nhiều và đẻ dày, mức độ tham gia vào lực lượng lao động của phụ nữ trẻ bị hạn chế, cung lao động nữ trong độ tuổi có cường độ và năng suất lao động cao tại thời điểm đó giảm xuống, ảnh hưởng đáng kể đến nhiều ngành sản xuất, nhất là những ngành cần nhiều lao động nữ. Sinh đẻ nhiều, điều kiện học tập để nâng cao trình độ chuyên môn của phụ nữ bị hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực nữ thấp từ đó cơ hội tìm kiếm việc làm và khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường trở nên khó khăn hơn. Và ngược lại nếu mức sinh thấp thì cơ hội học tập cũng như tìm kiếm việc lam sẽ được nâng cao. 4.1.5.Tác động của mức chết đến nguồn lao động Mức chết thay đổi có ảnh hưởng đáng kể đến quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố nguồn nhân lực. Do chết hầu như phân bố đều ở tất cả các lứa tuổi nên tác động của mức chết đến nguồn lao động không giống các quá trình dân số khác như sinh đẻ hay di dân. Khi mức chết tăng lên thì quy mô nguồn lao động thường giảm và tỉ số phụ thuộc có thể giảm theo. Điều này là do chết ở độ tuổi già và trẻ em cao hơn ở nhóm tuổi trong tuổi lao động. Khi mức chết giảm xuống thì thường mức chết của người già và trẻ em cũng giảm theo, tuổi thọ trung bình của dân cư tăng lên, cơ cấu dân cư là cơ cấu dân số già. Đồng thời khi đó mức chết trẻ em giảm sẽ kéo theo sự hạ giảm mức sinh, do đó cung lao động trẻ tương lai giảm xuống, cơ cấu nguồn lao động gìa đi và chất lượng nguồn nhân lực sẽ bị ảnh hưởng. 4.1.6.Tác động của di dân đến nguồn lao động Mục đích và động cơ của người di dân chủ yếu là để tìm kiếm công việc có thu nhập cao. Vì vậy, những người di chuyển đa phần đều là dân cư trong tuổi lao động và nam di chuyển nhiều hơn do có lợi thế sức khoẻ và điều kiện học tập nâng cao trình độ học vấn cũng như trình độ chuyên môn. Do vậy, vùng đi thì quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng nguồn nhân lực giảm xuống. Còn vùng đến thì có sự gia tăng quy mô, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực cũng được cải thiện. 4.2.Cung lao động ảnh hưởng tới dân số Dân số và cung lao động có ảnh hưởng qua lại với nhau. Quy mô nguồn lao động lớn và có xu hướng gia tăng tức là số người gia nhập lực lượng lao động hàng năm lớn hơn số người ra khỏi. Nguồn lao động được trẻ hoá, dân số trong độ tuổi sinh đẻ tăng lên, số trẻ em được sinh ra hàng năm nhiều hơn, quy mô dân số đông, cơ cấu dân số trẻ hơn. Ngược lại, khi quy mô nguồn lao động giảm tức hàng năm số người gia nhập lực lượng lao động nhỏ hơn số người ra khỏi. Dân số trong tuổi sinh đẻ ít, số trẻ em sinh ra hàng năm cũng ít đi tức mức sinh gia tăng chậm dần dẫn tới quy mô dân số tăng không đáng kể, dân số có xu hướng già đi. Cung lao động vùng đến tăng làm cho quy mô dân số và lao động vùng đi giảm xuống và già đi, chất lượng dân số và lao động vùng đi cũng giảm theo, trong khi dân số cũng như lao động vùng đến thì hoàn toàn ngược lại. Sự di chuyển lao động- dân số như vậy có thể dẫn đến tình trạng cơ cấu dân số và lao động của cả hai vùng bị mất cân bằng. Điều này gây ảnh hưởng đến cả hôn nhân và gia đình.Cụ thể là hôn nhân có thể bị đẩy lùi hoặc thúc đẩy nhanh hơn dẫn đến mức sinh và dân số, lao động tương lai của cả hai vùng cũng biến động theo. Nhiều khi cung lao động lớn hơn cầu lao động dẫn đến áp lực về việc làm và sự cạnh tranh trên thị trường lao động. Những người muốn được tham gia vào quá trình lao động buộc phải tự nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kĩ thuật của mình. Việc làm này đòi hỏi nhiều thời gian và tâm sức, vì thế dẫn đến tuổi kết hôn của dân số tăng lên, sinh đẻ ít đi để đầu tư chăm sóc con cái được tốt hơn. Như vậy mức sinh và quy mô dân số giảm xuống nhưng chất lượng dân số được nâng cao hơn. II.Thực trạng dân số Việt Nam và ảnh hưởng của nó tới thị trường lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế. 1.Thực trạng dân số Việt Nam Dân số cho đến nay vẫn là vấn đề giành được sự quan tâm của rất nhiều các quốc gia trên thế giới. Bởi xét trên tầm vĩ mô nó có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội… Trong những năm qua, sự gia tăng dân số mạnh mẽ ở các nước đang phát triển và sự chững lại thậm chí là giảm xuống của một số nước. Hiện là một nước đang phát triển, dân số Việt Nam cũng đang làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách. -Hiện nay, Việt Nam là một trong các quốc gia có quy mô dân số còn lớn và tăng liên tục. Đầu kỉ nguyên dân số Việt Nam chiếm 0,6% dân số thế giới và đến nay tăng 1,4% dân số thế giới. Dân số trung bình Việt Nam năm 2005 là 83,104 triệu người; Tạp chí lao động- xã hội, số 313, tr20. 2006 là 84,1558 triệu người. Http: //www.gso.gov.vn. Vì vậy dân số Việt Nam hiện nay đang đứng thứ 3 Đông Nam Á và đứng thứ 13 trên thế giới. Dân số đông, diện tích nước ta thì lại chỉ có 331689 km2 cho nên mật độ dân số cũng khá lớn. Mật độ dân số Việt Nam năm 2005 là 252 người/km2; 2006 là 254 người/km2.(2) Ở chỉ tiêu này thì Việt Nam đứng thứ 3 Đông Nam Á và đứng thứ 13/42 ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương. -Tốc độ tăng dân số ở nước ta còn cao. Đỉnh cao tốc độ tăng dân số Việt Nam nằm trong những năm 60 của thập kỷ qua và từ đó tới nay mức sinh giảm xuống rất nhanh, mức chết thay đổi không đáng kể nên tốc độ tăng dân số có giảm chút ít nhưng so với nhiều quốc gia khác thì vẫn còn ở mức cao. Cụ thể là tốc độ tăng dân số nước ta năm 1989 là 1,99% và đến năm 2005 đã giảm xuống còn 1,28% (1). Có được thành quả này là do chính sách kế hoạch hoá gia đình của Đảng bộ, Nhà nước và các tổ chức, ban ngành có liên quan cùng phối hợp thực hiện. Tuy nhiên nhận thức của người dân vẫn chưa thể thay đổi sâu rộng trong thời gian ngắn nên mặc dù tốc độ tăng dân số đã có giảm bớt song vẫn ở mức cao. -Phân bố dân cư không đồng đều, mật độ dân số rất khác nhau giữa các vùng, miền, tỉnh, huyện. Đồng bằng thì đất chật người đông, ngược lại miền núi đất rộng người thưa. Đồng bằng chiếm 75% dân số trong khi chỉ có ¼ diện tích. Có sự khác biệt rất lớn theo vùng địa lý kinh tế : đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là châu thổ của hai sông lớn, có khoảng 43% dân số của cả nước sinh sống nhưng chỉ chiếm 17% đất đai của cả nước. Trong khi Tây Bắc và Tây Nguyên chiếm tới 27% diện tích của cả nước song chỉ có khoảng 8,5% dân số sinh sống nơi đây. Giáo trình dân số và phát triển - Học viện CTQG HCM & Viện XHH và tâm lý lãnh đạo quản lý, tr 33. Sự phân bố dân số còn không đồng đều giữa nông thôn và thành thị. Thành thị thường là nơi tập trung đông dân cư hơn do dòng di chuyển lớn của dân số trong độ tuổi lao động ra các khu đô thị lớn để tìm kiếm việc làm. -Cơ cấu dân số theo độ tuổi, giới tính chưa hợp lý và đang biến động. +Theo tuổi: dân số nước ta thuộc loại dân số trẻ, tuy vậy mức độ trẻ ngày càng giảm. Nhóm 0-14 tuổi năm 2003 là 30% tổng dân số. Cơ cấu tuổi phụ thuộc vào mức sinh, mức sinh càng cao thì cơ cấu tuổi càng trẻ. Thời gian gần đây do có các biện pháp hạn chế mức sinh nên mức sinh đã giảm, vì vậy mức độ trẻ hiện nay đã giảm so với thời kỳ trước. +Theo giới tính: không có sự chênh lệch đáng kể. Do ngày nay sự bình đẳng giới đã được nâng lên rất nhiều, hệ tư tưởng đã thay đổi mạnh mẽ. Đây là bước biến chuyển tốt đẹp, không gây mất cân bằng giới. Hiện nay nữ chiếm khoảng 51% tổng dân số. +Cơ cấu nghề: chủ yếu là nông nghiệp, tỉ số dân cư sống bằng nông nghiệp cao mặc dù những năm gần đây có giảm nhưng tốc độ chậm. Do xuất phát điểm của Việt Nam là đi lên từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu nên dân số trong khu vực nông nghiệp vẫn luôn chiếm tỉ trọng lớn nhất. Tuy nhiên không thể phủ nhận những bước chuyển mình theo hướng tích cực của cơ cấu ngành nghề của Việt Nam trong những năm gần đây đó là giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ. Kéo theo đó là tỉ số dân cư cũng dịch chuyển theo tương ứng mặc dù sự xê dịch vẫn còn khá chậm. Cụ thể tỉ số dân cư trong nông nghiệp năm 1995 là 72,6% và đến năm 2000 tỷ số này đã giảm xuống còn 62,6%. +Cơ cấu theo trình độ học vấn còn nhiều bất cập và có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn. Dân số ở thành thị thì có điều kiện thuận lợi cho học tập hơn ở nông thôn do đó ở thành thị dân số có trình độ học vấn cao cả về số lượng và chất lượng. 2. Ảnh hưởng của dân số tới cung lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế. Xét về nguồn gốc thì nguồn nhân lực là nơi cung cấp sức lao động cho thị trường lao động, trong khi đó nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số, gắn với quy mô, tốc độ tăng và cơ cấu dân số dẫn đến biến động của dân số tại các thời điểm ảnh hưởng trực tiếp đến cung lao động của quốc gia, vùng, địa phương và các khu vực. -Lực lượng lao động: hàng năm có khoảng 1,2 triệu dân số bước vào tuổi lao động, trong đó có khoảng 63% tham gia lực lượng lao động. Năm 2005 lực lượng lao động Việt Nam là 44,38 triệu người, tăng gần 2,6% so với năm 2004, với quy mô tăng thêm là 1,143 triệu người. Năm 2006 lực lượng lao động cả nước là 45,27 triệu người, tăng 2% so với năm 2005. Đây là những con số lớn cho thấy tiềm năng nhân lực cho hiên tại và tương lai là rất dồi dào thể hiện một thế mạnh của Việt Nam tuy nhỏ bé về mặt lãnh thổ song không hề khan hiếm lao động. Tốc độ tăng lực lượng lao động cao hơn tốc độ tăng dân số, bình quân giai đoạn 1999-2005 là 1,3% trong khi tốc độ tăng lực lượng lao động là 3,2%/năm. Điều này có nghĩa số gia nhập vào lực lượng lao động lớn do ảnh hưởng của mức sinh cao ở thời kỳ trước. Mức sinh cao ở thời kỳ đó không ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lao động mà nó biểu hiện rõ rệt là phải sau 15 năm. Và trong những năm gần đây mức sinh đã có xu hướng giảm nên tốc độ tăng dân số mới chậm lại so với tốc độ tăng lực lượng lao động. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số đủ 15 tuổi trở lên khá cao: từ năm 2000 đến năm 2005 là 69- 71%. -Lực lượng lao động theo giới tính: cũng không có sự chênh lệch đáng kể giữa tỷ lệ lao động của hai giới. Điều này là do xã hội đã ngày càng nhận thức rõ về bình đẳng giới, đặt ngang bằng với nam giới trong mọi lĩnh vực, trong đó có hoạt động lao động xã hội. Biểu 1: Tỷ lệ lực lượng lao động theo giới tính. Tỷ lệ lao động nam Tỷ lệ lao động nữ 2005 51,3% 48,7% 2006 51,56% 48,44% Nguồn: Giáo trình thị trường lao động – PGS.TS Nguyễn Tiệp – NXB LĐXH, Hà Nội 2007, tr265. -Lực lượng lao động theo độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao trong tổng lực lượng lao động cả nước, năm 2005 là 94,2% trong khi trên độ tuổi lao động chỉ có 5,8%. Ngoài ra còn có khoảng 700 nghìn lao động trẻ em( dưới 15 tuổi) tham gia hoạt động kinh tế chủ yếu là ở nông thôn đặc biệt là ở các làng nghề hay từ nông thôn ra thành phố làm việc. Những năm gần đây, lực lượng lao động của cả nước có xu hướng tăng tỷ trọng lao động ở các nhóm tuổi từ 25 trở lên và giảm ở các nhóm tuổi trẻ từ 15-24 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu là do sự gia tăng số lượng và tỷ lệ đi học của những người ở độ tuổi từ 15-24 tuổi trong tổng số nhân khẩu từ 15 tuổi trở lên. Ngoài ra, số người không tham gia hoạt động kinh tế do đi học trong số nhân khẩu đủ 15 tuổi trở lên đã tăng từ 10,9% (năm 2000) lên 11,4% (năm 2005). -Lực lượng lao động ở khu vực nông thôn lớn: đây là điều dễ hiểu vì Việt Nam vốn xuất phát là nước thuần nông nên dân cư phần lớn tập trung ở khu vực nông thôn vì vậy lực lượng lao động nơi đây cũng chiếm tỉ trọng cao 75,1% tổng số lao động cả nước. Xu hướng vận động theo thời gian là tăng lực lượng lao động thành thị và giảm lực lượng lao động nông thôn. Cụ thể là nếu năm 1996 lao động nông thôn chiếm hơn 79% thì đến năm 2005 giảm xuống còn 75,1% đồng thời nâng tỷ lệ lao động thành thị từ 20,3% lên 24,95. điều này là do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, khu vực nông thôn bị thu hẹp dần và xuất hiện ngày một nhiều các khu công nghiệp, các khu đô thị mới. -Lực lượng lao động theo vùng lãnh thổ phân bố không đều giữa đồng bằng và miền núi. Cung lao động tập trung chủ yếu ở các khu vực thị trường, đồng bằng nơi mà có nhiều thuận lợi về giao thông, thông tin, cơ sở vật chất… phục vụ tốt cho quá trình lao động. Biểu 2: Tỷ lệ lực lượng lao động theo vùng lãnh thổ. Vùng lãnh thổ Tỷ lệ lực lượng lao động Đồng bằng sông Hồng 22,4% Đồng bằng sông Cửu Long 21,5% Đông Nam Bộ 15,3% Bắc trung Bộ 12% Đông Bắc 11,7% Duyên hải Nam Trung Bộ 8,3% Tây Nguyên 5,6% Tây Bắc 3,2% Nguồn: Giáo trình thị trường lao động – PGS.TS Nguyễn Tiệp – NXB LĐXH, Hà Nội 2007, tr 266. Xu hướng biến động theo vùng, một mặt phụ thuộc vào tốc độ tăng dân số và phân bố dân số theo vùng, mặt khác còn phụ thuộcvào trình độ và tốc độ phát triển kinh tế- xã hội của từng vùng. Lực lượng lao động ở các vùng kinh tế trọng điểm và các vùng có tốc độ đô thị hoá, công nghiệp cao có tốc độ tăng lớn hơn. Các vùng nay ngoài tăng lực lượng lao động tại chỗ còn thu hút nhiều lao động từ các vùng khác đến để đáp ứng cho cầu lao động trong các ngành nghề, lĩnh vực mới phát triển. 3. Yêu cầu đặt ra đối với dân số Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế. Số lao động qua đào tạo nghề thấp, trình độ tay nghề, trình độ chuyên môn kỹ thuật, ngoại ngữ của lao động Việt Nam còn thấp, có trên 75% lao động chưa qua đào tạo nghề, số mà đã qua đào tạo thì nhiều trường hợp không đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn của công việc do thiếu kỹ năng để có thể làm công việc việc độc lập, công nghệ đào tạo chưa phù hợp với xu thế phát triển của thời kỳ hội nhập. Mặc dù lực lượng lao động nước ta là rất lớn song lao động chất lượng cao lại vẫn đang khan hiếm, nhất là trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, quản lý doanh nghiệp… Thể lực và tình trạng sức khoẻ của người dân Việt Nam nói chung và của lao động Việt Nam nói riêng là yếu hơn so với nhiều nước trong khu vực như Thái Lan, Philipin, Ấn Độ, Nhật Bản… cả về chiều cao và cân nặng. Sau gần 30 năm(1975- 2003), chiều cao trung bình của nam thanh niên tăng thêm được 3,7cm (từ 160 cm lên 163,7 cm), của nữ thanh niên tăng thêm thêm được 3 cm (từ 150 cm lên 153 cm). So chiều cao của thanh niên Việt Nam ở tuổi 15 với tiêu chuẩn quốc tế của WHO thì mức thua kém là rất lớn ( 8,34 cm đối với nam và 9,13 cm đối với nữ). Về thể lực, đối với sức bền, sức dẻo dai, người Việt Nam chỉ đạt tối đa là 3 điểm so với 10 điểm của người Nhật. Tạp chí lao động và xã hội, số 311, tr 33. Một bộ phận không nhỏ người lao động Việt Nam chưa có tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật chưa cao, hiểu và thực hiện pháp luật còn hạn chế, năng lực làm việc theo nhóm và quan hệ hợp tác trong công việc chưa cao. Bước ra biển lớn với rất nhiều cơ hội song cũng có không ít thách thức trong quá trình hội nhập mà đòi hỏi Việt Nam phải đương đầu để chứng tỏ bản lĩnh với bạn bè quốc tế. III.Các giải pháp đối với dân số và thị trường lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế. 1.Đối với dân số -Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đảm bảo đủ kinh phí cho công tác dân số kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ), sử dụng có hiệu quả theo chương trình mục tiêu, tạo ra nguồn cung lao động hợp lý cho từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội, trên cơ sở đó, hướng tới hình thành cung lao động chất lượng cao, có quy mô và tốc độ tăng hợp lý. Mặc dù hiện nay Uỷ ban KHHGĐ đã đổi thành Uỷ ban Chăm sóc bà mẹ và trẻ em song không phải vì thế mà công tác kế hoạch hoá gia đình bị xoá bỏ hoàn toàn. Mà nó vẫn thực hiện chức năng của mình vì dân số nước ta vẫn còn ở mức cao so với thế giới và với khả năng và tiềm lực kinh tế chưa đủ lớn mạnh của Việt Nam thì dân số lớn cũng là một áp lực gây rất nhiều khó khăn cho sự phát triển của đất nước. -Kiện toàn hệ thống làm công tác dân số KHHGĐ từ Trung ương đến địa phương. Đây là công tác đòi hỏi cần có sự thực hiện đồng bộ không chỉ của các cấp chính quyền mà còn cả toàn dân. Với quy mô lớn và cần được thực hiện sâu rộng nên hệ thống thực hiện phải khoa học và nhận được sự hưởng ứng của đại bộ phận dân cư. Và thực sự công tác này đã rất có kết quả ở Việt Nam, đây là điều không thể phủ nhận. Nhưng cần thực hiện mạnh mẽ và triệt để hơn nữa vì tốc độ tăng dân số những năm gần đây mặc dù đã có giảm song vẫn còn ở mức cao. -Tăng cường công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền. Quá trình thực hiện công tác KHHGĐ để đến được với toàn dân thì cần thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, giáo dục nhận thức của người dân. Đặc biệt ở các vùng còn nhiều khó khăn như miền núi, hải đảo thì còn cần tuyên truyền, giáo dục bằng các phương thức thích hợp. Nói chung tuỳ điều kiện của từng nơi mà sử dụng biện pháp nào cho có kết qua tốt nhất. -Cung cấp đầy đủ, kịp thời dụng cụ, phương tiện tránh thai. Vì chúng luôn cần thiết và đó là những phương pháp để giảm mức sinh hữu hiệu nếu như thực hiên đúng cách và kịp thời. Nếu sử dụng không kịp thời và không đúng cách thì sẽ gây ra hậu quả không chỉ trực tiếp cho người sử dụng mà có thể ảnh hưởng đến thế hệ sau. -Có chính sách khuyến khích về tinh thần và vật chất thoả đáng cho người áp dụng và thực hiện. Đây là điều rất quan trọng để thuyết phục họ thực hiện một cách tự nguyện. -Tập trung các biện pháp nâng cao chất lượng dân số. Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng tầm vóc thân thể, thể lực do các yếu tố sau tác động : dinh dưỡng chi phối 31%, di truyền 23%, thể dục - thể thao 20%, môi trường 16% và tâm lý- xã hội chiếm 10%. Mức tiêu chuẩn sinh học trung bình của WHO đối với tuổi 15, chiều cao của nam đạt 1,69 mét và nữ là 1,62 mét hay bình quân chung là 1,66 mét (4)… Để đạt được mục tiêu này cần mở rộng phạm vi và nâng capo chất lượng chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em; thực hiện chương trình tổng hợp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao thể lực cho phụ nữ; mở rộng các hoạt động tư vấn về sức khoẻ sinh sản; coi trọng và đổi mới việc tổ chức giáo dục thể chất trong các trường và đẩy mạnh phong trào toàn dân tập thể dục, rèn luyện thân thể; phát triển y tế dự phòng; đẩy mạnh các hoạt động về vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch và vệ sinh an toàn thực phẩm cho người dân. Các biện pháp trên cần được thực hiện một cách đồng bộ và phối hợp với nhau thì mới đạt được kết quả. 2.Đối với thị trường lao động -Tiếp tục điều chỉnh hệ thống chính sách và pháp luật lao động cho phù hợp với thông lệ quốc tế để đảm bảo sự vận hành thông suốt của thị trường lao động. Một thị trường lao động được xem là vận hành hiệu quả khi không bị chia cắt bởi các yếu tố chính sách hành chính, tự do di chuyển lao động do tác động của mức tiền lương ( tiền công) trên thị trường lao động. Do đó, cần phải hoàn thiện chính sách hành chính nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc di chuyển lao động trên thị trường lao động; hoàn thiện các chính sách thị trường lao động hướng vào đảm bảo quyền và lợi ích bình đẳng giữa lao động các khu vực kinh tế ( Nhà nước, tư nhân, FDI), giữa lao động tại chỗ, lao động nhập cư và lao động là người nước ngoài trên thị trường lao động; Nhà nước không can thiệp vào các quá trình điều tiết cung cầu lao động tự nhiên trên thị trường lao động toàn quốc. -Hoàn thiện và phát triển hệ thống an sinh xã hội đáp ứng yêu cầu hội nhập. Khi tham gia vào môi trường quốc tế thì sẽ có rất nhiều mối lợi và lợi nhuận thu được nếu thành công sẽ rất khổng lồ song nó cũng luôn tiềm ẩn những rủi ro không nhỏ của thị trường. Đặc biệt khi Việt Nam vừa gia nhập WTO thì việc hoàn thiện càng trở nên cần thiết. -Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây là giải pháp cơ bản để có thể đưa lao động Việt Nam ngang tầm với lao động quốc tế. Trong tiến trình hội nhập nếu không có đủ trình độ và bản lĩnh thì sớm muộn cũng bị tụt lại phía sau so với các đối thủ nước ngoài. Muốn làm được điều này cần phát triển đào tạo nghề, điều chỉnh cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực cả về trình độ và ngành nghề. -Phát triển dạy nghề theo hướng hội nhập khu vực và quốc tế. Cụ thể là phải xây dựng tiêu chuẩn kĩ năng nghề quốc gia, chương trình dạy nghề thì cần cập nhật các phương pháp tiên tiến, hiện đại trên thế giới và vận dụng phù hợp vào Việt Nam. Để được công nhận lẫn nhau về chứng chỉ kỹ năng nghề giữa các nước trong khu vực và trên thế giới thì việc triển khai thí điểm việc đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là hết sức cần thiết. Nên tích cực tham gia các cuộc thi tay nghề khu vực và thế giới. Đó là cơ hội để cọ xát, học hỏi kinh nghiệm rất tốt cho chúng ta. Chất lượng đội ngũ dạy nghề cũng cần được tăng cường hơn nữa vì Việt Nam vẫn còn nặng về học lý thuyết mà yếu về thực hành. Và còn cần tiến tới công nhận văn bằng chứng chỉ với các nước trong khu vực và thế giới. -Mở rộng và phát triển thị trường lao động ngoài nước. Để làm được việc này cần tiếp tục hoàn thiện hơn nữa những hệ thống pháp luật và những chiến lược về đào tạo nghề cho xuất khẩu lao động . KẾT LUẬN Qua phân tích ở trên có thể giúp chúng ta thấy được tầm quan trọng của dân số đối với các hoạt động kinh tế - xã hội nói chung và đối với thị trường lao động nói riêng. Dân số là sức mạnh của quốc gia nên đối với hoàn cảnh của từng quốc gia mà áp dụng các chính sách hỗ trợ để góp phần thúc đẩy sự phát triển của quốc gia trong tiến trình hội nhập kinh tế. Đối với Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, các điều kiện cơ sở vật chất vẫn còn thiếu thốn thì việc gia tăng dân số nhanh và liên tục là một điều không tốt cho sự phát triển của đất nước. Vì vậy các biện pháp để giảm mức sinh tăng chất lượng dân số nói chung và chất lượng người lao động nói riêng là hết sức cần thiết và cần phải hành động ngay. Hoà mình vào môi trường quốc tế là cơ hội song cũng là thách thức mà Việt Nam phải đối mặt. Với những giải pháp đã đề xuất đối với dân số và thị trường lao động Việt Nam hi vọng có thể được thực thi vào thực tế. Qua đây tôi cũng xin trân trọng cảm ơn PGS. TS Trần Thị Thu và các thầy cô giáo cùng các bạn sinh viên lớp Lao động 46B đã hỗ trợ và đóng góp cho quá trình thực hiện đề án này. Song trong quá trình thực hiện đề tài, do kiến thức còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 11 năm 2007 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Cơ sở lý luận về dân số- phát triển và lồng ghép dân số vào kế hoạch hoá phát triển- Dự án VIE/01/P14 Hà Nội, 2005, tr11. 2. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh(2005)- Giáo trình dân số và phát triển-NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2005, tr 26. 3. Http:// www.gso.gov.vn 4. Lê Cự Linh(2006)- Giáo trình dân số và phát triển - NXB Y học Hà Nội, 2006, tr 18. 5. Lê Thế Giới; Võ Xuân Tiến; Trương Bá Thanh (2005) - Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển bền vững- NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2005, tr8. 6. Lê Xuân Bá( 2003 )- Hội nhập kinh tế quốc tế áp lực cạnh tranh trên thị trường và đối sách của một số nước- NXB Giao thông vận tải, 2003, tr 5. 7. Nguyễn Tiệp (2007)-Giáo trình thị trường lao động - NXB Lao động Xã hội, 2007, tr 9. 8. Niên giám thống kê 2005-NXB Thống kê, 2005. 9. Tạp chí lao động và xã hội số 310(1-15/5/2007),tr 20 ; số311(16-31/5/2007), tr36; số 313 (16-30/6/2007), tr 20. 10. Tổng cục thống kê(2004)- Điều tra biến động dân số và nguồn lao động 1/4/2003: Những kết quả chủ yếu-NXB Thống kê Hà Nội,2004, tr26. MỤC LỤC .

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc75810.DOC