Thực trạng không tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp - Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh

Kết quả nghiên cứu về các vi phạm không tuân thủ thuế TNDN Các thành viên trong nhóm thảo luận và các tình huống nghiên cứu thảo luận tay đôi đều cho thấy tồn tại 3 nhóm hành vi chính về không tuân thủ thuế TNDN làm giảm số thuế TNDN phải nộp theo quy định của Luật thuế TNDN Việt Nam: - Nhóm hành vi liên quan đến doanh thu tính thuế TNDN. - Nhóm hành vi liên quan đến chi phí tính thuế TNDN. - Nhóm hành vi liên quan đến số lỗ năm trước chuyển sang. Kết quả nghiên cứu ở 2 giai đoạn đều cho thấy trong 3 nhóm hành vi nêu trên có tất cả 11 vi phạm cụ thể về thuế TNDN, được tổng hợp ở Bảng 4. Theo Bảng 4, kê khai thiếu doanh thu là vi phạm xuất hiện nhiều nhất ở nhóm hành vi vi phạm về thuế TNDN, được tất cả 15 chuyên gia tham gia thảo luận nhóm đồng tình và xảy ra ở 7/20 trường hợp DN đã được thanh tra, kiểm tra thuế (chiếm tỷ trọng 35% mẫu nghiên cứu). Hành vi hợp thức hóa chi phí không có hóa đơn bằng các chứng từ không liên quan hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) là vi phạm xuất hiện phổ biến nhất, xảy ra ở tất cả các tình huống nghiên cứu, tại 20/20 DN (đạt tỷ lệ 100%) và được 15/15 chuyên gia nhận định. Bên cạnh đó, việc tăng chi phí tiền lương không có thực bằng nhiều cách thức như tạo hợp đồng lao động giả mạo, hạch toán chi phí lương cao hơn thực tế là hành vi dẫn đến không tuân thủ thuế TNDN phổ biến không kém, xảy ra ở 9/20 tình huống thảo luận với DN (chiếm tỷ trọng 45%) và nhận được sự đồng tình của 13/15 chuyên gia thảo luận. Nhóm hành vi liên quan đến số lỗ năm trước chuyển sang bao gồm 02 hành vi chính là xác định lỗ chuyển sang và xác định thời gian chuyển lỗ không đúng quy định. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu ở 2 giai đoạn cho thấy các hành vi vi phạm xuất hiện chủ yếu ở các DN có mã ngành cấp 1 là: F, I, G, C, H. Trong đó, 2 lĩnh vực kinh doanh được nhận định là có nhiều hành vi vi phạm không tuân thủ thuế TNDN nhiều nhất là xây dựng (mã ngành F); dịch vụ lưu trú và ăn uống (mã ngành I).

pdf12 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 25/01/2022 | Lượt xem: 121 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng không tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp - Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
69 © Học viện Ngân hàng ISSN 1859 - 011X Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng Số 210- Tháng 11. 2019 Thực trạng không tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp - nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Loan Nguyễn Việt Hồng Anh Chi Cục thuế Bình Thạnh TP. HCM Lê Thị Tuyết Hoa Ngày nhận: 27/09/2019 Ngày nhận bản sửa: 23/10/2019 Ngày duyệt đăng: 21/11/2019 Bài viết sử dụng kết hợp phương pháp thảo luận nhóm, thảo luận tay đôi và phương pháp thống kê, so sánh để nghiên cứu thực trạng không tuân thủ thuế của doanh nghiệp (DN) trong giai đoạn 2013- 2017 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). Các số liệu phản ánh sự không tuân thủ thuế thể hiện qua những vi phạm pháp luật thuế Việt Nam của DN, được tổng hợp qua các kỳ thanh tra, kiểm tra thuế của Cục Thuế TP.HCM và kinh nghiệm về quản lý thuế của cơ quan thuế (CQT). Qua đó, bài viết đề xuất một số giải pháp về công tác quản lý thuế của CQT; các khuyến nghị đối với Chính phủ về những quy định trong chính sách thuế cũng như đối với các cơ quan chức năng về nguồn nhân lực quản lý Nhà nước nhằm The situation of corporate income tax non-compliance: the research in Ho Chi Minh City Abstract: The paper used a combination of group discussions, private discussions and statistical and comparative methods to study the situation of non-tax compliance of enterprises during the period from 2013 to 2017. Tax non-compliance was researched as the tax fraud of enterprises, which were detected through tax inspections and tax examinations of the Tax Department of Ho Chi Minh City and tax administration experience from tax authorities. Thereby, the article has proposed: a number of solutions on tax administration of tax authorities; some recommendations for the Government on the provisions of the tax policy as well as to the human resources authorities to contribute to limit the situation of non-tax compliance of enterprises in the legal Vietnamese tax law’s environment. Keywords: the situation, tax non-compliance, corporate income tax Asscociate Professor Loan Thi Nguyen, PhD Email: loannt@buh.edu.vn Banking University of Ho Chi Minh City Anh Viet Hong Nguyen, MEc Email: nvhanh.hcm@gdt.gov.vn Sub-department of Taxation of Binh Thanh District, Ho Chi Minh City Hoa Thi Tuyet Le, PhD Email: hoaltt@buh.edu.vn Banking University of Ho Chi Minh City Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh Thực trạng không tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp - nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 210- Tháng 11. 201970 góp phần hạn chế thực trạng không tuân thủ thuế của DN trong môi trường pháp luật thuế Việt Nam. Từ khóa: Không tuân thủ thuế, Thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Giới thiệu Thuế xuất hiện đồng thời với nhà nước, dưới nhiều hình thức khác nhau. Từ khi chính sách thuế ra đời thì nghĩa vụ thuế của người nộp thuế được hình thành. Thuế là một trong những khoản đóng góp bắt buộc, có giới hạn phải nộp (Phan Hiển Minh và cộng sự, 2001). Tuy nhiên, không phải lúc nào người nộp thuế cũng thực hiện nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ. Theo Noor và cộng sự (2013), Chính phủ ngày càng quan tâm nhiều hơn về vấn đề trốn thuế, không tuân thủ thuế vì các hoạt động này làm giảm nỗ lực tăng thu ngân sách của quốc gia. Tại Việt Nam, Chính phủ luôn quan tâm đến việc quản lý thuế của quốc gia, nhất là nghĩa vụ thuế của các DN, với số thu thuế từ DN chiếm tỷ lệ hơn 50% tổng thu Ngân sách Nhà nước (NSNN) (Bộ Tài chính, 2016). Bên cạnh đó, theo Báo cáo Ngân sách của Bộ Tài chính (2016), trong các giai đoạn từ 2001- 2005; 2006- 2010; 2011- 2015, cơ cấu thu ngân sách theo sắc thuế cho thấy tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) luôn chiếm trên 30%, cao nhất so với những sắc thuế còn lại. Do vậy, có thể thấy DN là đối tượng nộp thuế đóng vai trò quan trọng của nền kinh tế Việt Nam và thuế TNDN là một trong những nguồn thu chủ yếu mà Chính phủ rất quan tâm. Theo thống kê của Bộ Tài chính, kết quả kiểm tra trong 9 tháng đầu năm 2016 với 52.222 DN đã phát hiện và truy thu 9.145,11 tỷ đồng, tỷ lệ thu ngân sách đối với các DN từ việc thanh tra kiểm tra chiếm đến 54,16% (Nguyen Vu, 2016). Đến cuối năm 2016, theo thống kê, qua thanh kiểm tra có đến 91.419 DN bị thanh tra kiến nghị thu hồi ngân sách 17.285 tỷ đồng, truy hoàn thuế 1.400 tỷ đồng, giảm khấu trừ thuế là 79 tỷ đồng, hơn nữa số thu thuế năm 2016 đạt dự toán Ngân sách nhờ vào những nỗ lực của công tác thanh tra kiểm tra thuế các DN (Kien and Nga, 2017). Năm 2017, CQT các cấp đã thực hiện hơn 97.000 cuộc thanh tra kiểm tra DN và truy thu 17.960 tỷ đồng, giảm lỗ hơn 34.118 tỷ đồng (tính đến ngày 25/12/2017) (Tạp chí Thuế 2018). Mặc dù DN có nghĩa vụ tự khai báo tự nộp thuế theo quy định nhưng nếu không có công tác thanh tra kiểm tra thuế thì số tiền thất thu ngân sách ngày càng nhiều. Từ những năm 1990, Kamdar (1997) đã nghiên cứu tác động của các yếu tố về chính sách có ảnh hưởng đến sự không tuân thủ thuế tại Mỹ trong giai đoạn 1961-1987. Nurtegin (2008) tại Mỹ còn nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến gian lận thuế của DN với dữ liệu của 23 quốc gia trên thế giới. Noor và cộng sự (2012) nghiên cứu về các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến gian lận thuế thu nhập của DN tại Malaysia. Tedds (2010) đã thực hiện cuộc điều tra khảo sát để kết luận các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi không khai báo thuế, gian lận thuế của DN tại Canada. Do vậy, việc không tuân thủ thuế là một vấn đề đã xuất hiện từ lâu kể từ khi nghĩa vụ thuế được xác lập và được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu. Hơn nữa, sự NGUYỄN THỊ LOAN - NGUYỄN VIỆT HỒNG ANH - LÊ THỊ TUYẾT HOA Số 210- Tháng 11. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 71 tăng lên của số thuế truy thu và những vi phạm về thuế qua thanh tra, kiểm tra hằng năm cho thấy những vi phạm về thuế, trốn thuế tại Việt Nam là một thực trạng cần được các cơ quan chức năng nghiên cứu và tìm ra những giải pháp thiết thực nhằm hạn chế vấn đề này. Do thuế TNDN là một trong những sắc thuế chiếm tỷ trọng cao trong nguồn thu ngân sách nên bài viết tập trung nghiên cứu thực trạng không tuân thủ thuế liên quan đến nghĩa vụ thuế TNDN thể hiện qua các hành vi trốn thuế, gian lận thuế phải nộp trái với những quy định về pháp luật thuế TNDN tại Việt Nam. Đồng thời, bài viết cũng xác định những nguyên nhân dẫn đến vi phạm và những hạn chế trong quản lý thuế đối với DN. Qua đó, đề xuất các giải pháp góp phần ngăn ngừa và hạn chế sự không tuân thủ thuế TNDN. 2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 2.1. Khái niệm không tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp Theo Nguyễn Minh Hà và cộng sự (2012), quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thuyết rằng hầu hết các DN về bản chất là không tự nguyện tuân thủ và chỉ chấp hành nghĩa vụ khi có sự cưỡng chế của CQT hay khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế. Khái niệm không tuân thủ thuế mà mô hình của BISEP (Organization for Economic Cooperation and Development, 2004) đưa ra phụ thuộc vào mức độ của chi phí tuân thủ và áp lực. Theo tổng hợp của Alabede và cộng sự (2011), không tuân thủ thuế xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Tuy nhiên, kết quả của việc không tuân thủ thuế là dẫn đến những vi phạm pháp luật về thuế, trong đó bao gồm hành vi gian lận thuế. Theo James và Alley (2002), không tuân thủ thuế là việc người nộp thuế đã không chấp hành các nghĩa vụ thuế và hành vi đó được thực hiện một cách có ý thức hoặc vô thức. Theo Singh (2003), không tuân thủ thuế ở DN xảy ra khi xuất hiện các vi phạm về Luật Thuế như không báo cáo chính xác nghĩa vụ thuế theo quy định chủ yếu do khai thiếu doanh thu hoặc khai khống chi phí được trừ. Những DN không khai báo đúng hai yếu tố thu nhập và chi phí hoặc không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đều được hiểu là không tuân thủ thuế TNDN (Tan & Sawyer, 2003). Các biểu hiện không phù hợp về số liệu trên báo cáo tài chính (BCTC) sẽ dẫn đến sự không phù hợp của các báo cáo thuế- đây là một trong những biểu hiện của sự không tuân thủ thuế của DN (Frank và cộng sự, 2004). Theo Văn phòng Chính phủ Hoa Kỳ (United States Government Accountability Office, 2012), sự không tuân thủ thuế TNDN là các hành vi khai báo thu nhập ít hơn hoặc kê khai chi phí cao hơn so với thực tế, vi phạm những quy định của Luật Thuế. Theo quy định tại Điều 103 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Việt Nam, những hành vi vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế bao gồm: (1) Vi phạm các thủ tục về thuế; (2) Chậm nộp tiền thuế; (3) Khai báo nộp thuế sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn lại; (4) Trốn thuế, gian lận thuế. Tuy nhiên, khá nhiều công trình khoa học đã nghiên cứu về không tuân thủ thuế của DN là việc khai báo sai thu nhập liên quan đến thông tin phản ánh nghĩa vụ thuế TNDN không đúng quy định vì đó là nghĩa vụ thuế đầu tiên và cơ bản nhất của các DN hoạt động trong nền kinh tế. Thực trạng không tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp - nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 210- Tháng 11. 201972 Trong phạm vi nghiên cứu của bài viết, về thực trạng không tuân thủ thuế TNDN bao gồm việc không khai báo đúng nghĩa vụ thuế TNDN, làm giảm số thuế phải nộp đối với Nhà nước. Đó là những vi phạm của DN về pháp luật thuế Việt Nam trong việc khai thuế cho cơ quan quản lý thuế. 2.2. Lý thuyết nghiên cứu không tuân thủ thuế 2.2.1. Lý thuyết mô hình ngăn chặn kinh tế (Economic Deterrence Model) Becker (1968) đề xuất một luận cứ hẹp rằng các biện pháp ngăn chặn như xác suất phát hiện xử phạt và những hình phạt có ảnh hưởng đến sự tuân thủ. Đến những năm 1970, dựa trên “Thuyết hữu dụng”, Allingham và Sandmo (1972) cho rằng người nộp thuế sẽ tìm cách tối ưu hóa lợi ích của họ để thực hiện các quyết định tuân thủ trong các báo cáo thuế, nơi mà việc trốn thuế xuất hiện nếu như các lợi ích về mặt tài chính thấp hơn các chi phí tài chính. Từ những năm 1980, mô hình ngăn chặn kinh tế đã xuất hiện nhiều phiên bản, trong đó sửa đổi một số giả định cơ bản và kiểm tra các biến tuân thủ khác nhau. Nhìn chung, theo quan điểm nghiên cứu của mô hình ngăn chặn kinh tế, các nhà khoa học đã tóm tắt hiệu quả của những yếu tố quyết định chi phí tài chính có ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế như: Sự phức tạp của hệ thống thuế; thuế suất; xác suất phát hiện vi phạm; mức thu nhập và cấu trúc hình phạt. Tuy nhiên, ít bằng chứng thực nghiệm chứng minh được những dự đoán của mô hình ngăn chặn kinh tế là hoàn toàn đúng đắn (Devos 2014). Tiếp nối hướng nghiên cứu trong lĩnh vực tuân thủ thuế, một phương pháp tiếp cận khác mô hình ngăn chặn kinh tế đã xuất hiện là mô hình tâm lý xã hội và tài chính. 2.2.2. Lý thuyết mô hình tâm lý xã hội và tài chính (Fiscal and Social Psychology Models) Hướng tiếp cận của mô hình tâm lý xã hội và tài chính là kiểm tra các yếu tố của con người ảnh hưởng đến thái độ và hành vi tuân thủ thuế (Devos, 2014). Một trong những nghiên cứu sớm nhất về trốn thuế đã khám phá ra khái niệm “tư duy thuế” được trình bày bởi Schmolders (1959). Do đó, nếu người nộp thuế càng có thái độ tích cực về thuế cũng như cách làm việc với CQT, họ càng sẵn sàng đóng thuế. Kinsey (1986) diễn giải khái niệm “sẵn sàng hợp tác” có liên quan đến sự tuân thủ, trong đó những người nộp thuế rất hợp tác với CQT, có thể sẽ tuân thủ nhiều hơn những người không hợp tác. Trong suốt những năm 1990 và đầu những năm 2000, các biến số khác xuất hiện trong các mô hình tâm lý xã hội và tài chính cũng không có trong mô hình ngăn chặn kinh tế thuần túy (Devos, 2014). Như vậy, trong suốt nhiều năm nghiên cứu, nền tảng lý thuyết về tuân thủ thuế đã xuất hiện như mô hình ngăn chặn kinh tế và mô hình tâm lý xã hội và tài chính. Tuy nhiên, các kết luận của những nhà nghiên cứu vẫn còn nhiều tranh cãi. 2.2.3. Lý thuyết Tam giác gian lận của Cressey (1953) Theo Alabede và cộng sự (2011), không tuân thủ thuế bao gồm khái niệm gian lận thuế nên lý thuyết hành vi gian lận được đề cập để phân tích nhằm tìm ra khung nghiên cứu cho bài viết. Kết quả của Cressey (1953) đã đưa ra mô hình tam giác gian lận (Fraud Triangle) với nội dung: Hành vi gian lận hay tổng quát hơn là tội phạm hoặc những vi phạm pháp luật chỉ được thực hiện trên cơ sở hội đủ 3 yếu NGUYỄN THỊ LOAN - NGUYỄN VIỆT HỒNG ANH - LÊ THỊ TUYẾT HOA Số 210- Tháng 11. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 73 tố. Đó là cơ hội, áp lực (động cơ) và thái độ, cá tính hay sự hợp lý hóa hành vi gian lận của con người. Cụ thể là: + Áp lực (động cơ): Khởi nguồn của việc thực hiện vi phạm pháp luật là do người thực hiện chịu những áp lực. Các áp lực có thể do những khó khăn về tài chính, ví dụ như hao hụt về tiền bạc trong cuộc sống mà cá nhân phải vượt qua; hoặc mối quan hệ không suôn sẻ giữa người chủ và nhân viên. Theo lý giải của mô hình tam giác gian lận, khi áp lực tăng thì gian lận xuất hiện. + Cơ hội: Yếu tố này còn thể hiện phương thức thực hiện hành vi vi phạm. Một khi đã tồn tại những áp lực thúc đẩy như đã đề cập, nếu có cơ hội thì hành vi gian lận sẽ được thực hiện. + Thái độ của con người hay khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận của con người: Cressey (1953) cho thấy rằng, tùy theo cá tính của mỗi người mà hành vi gian lận có được thực hiện hay không. Có những người khi có cơ hội và chịu áp lực họ sẽ thực hiện hành vi gian lận với lý lẽ tự an ủi rằng họ sẽ không để chuyện này lặp lại. Tam giác gian lận của Cressey (1953) được dùng để lý giải rất nhiều vụ gian lận hoặc vi phạm các quy định của luật pháp và được áp dụng trong việc nghiên cứu, đánh giá rủi ro có gian lận phát sinh trong nhiều lĩnh vực nghề nghiệp. Không tuân thủ thuế thể hiện qua những vi phạm pháp luật về thuế dẫn đến thất thu thuế, gian lận thuế theo lý thuyết Tam giác gian lận của Cressey (1953) đã được sử dụng khá phổ biến để nghiên cứu những yếu tố tác động đến các vi phạm pháp luật trước đây cả trong nước và trên thế giới ở lĩnh vực kinh tế tài chính. Vì vậy, lý thuyết Tam giác gian lận (Cressey, 1953) sẽ được nhóm tác giả sử dụng làm cơ sở phân tích thực trạng không tuân thủ thuế TNDN trong môi trường pháp luật thuế Việt Nam với ý nghĩa rằng: Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật là sự xuất hiện áp lực và cơ hội thực hiện cũng như thái độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế thấp. 2.3. Tổng quan các nghiên cứu Các nghiên cứu trên thế giới như: Chương trình tài chính công của Chính phủ Đức (GIZ Sector Programme Public Finance, 2010), Abdixhiku (2013), Sapiei và cộng sự (2014), Awan và Hannan (2014), Yahyapour và cộng sự (2015) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế. Những yếu tố đưa ra trong mô hình đóng vai trò là nguyên nhân dẫn đến trốn thuế. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đã tìm ra mối liên hệ giữa không tuân thủ thuế và các thông tin trên BCTC, đồng thời đưa ra các nhận định về không tuân thủ thuế TNDN dựa trên những thông tin của BCTC thể hiện qua việc kê khai thiếu thuế TNDN như: Lisowsky (2010); Noor và cộng sự (2012); Noor và cộng sự (2013); Yusof và cộng sự (2014). Mills (1996) đã nghiên cứu sự tuân thủ thuế và việc thực hiện BCTC của DN. Ông cho rằng CQT phát hiện những sai lệch về số thuế TNDN sẽ tăng lên tương ứng với các chênh lệch giữa lợi nhuận trên sổ sách và thu nhập chịu thuế mà DN đã khai báo. Các biểu hiện không phù hợp trên BCTC sẽ dẫn đến sự không phù hợp của các báo cáo thuế và dẫn đến một trong những biểu hiện của sự không tuân thủ thuế TNDN (Frank và cộng sự, 2009). Các nghiên cứu tại Việt Nam phần lớn là phân tích thực trạng, kinh nghiệm nhận định các hành vi không tuân thủ của CQT Thực trạng không tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp - nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 210- Tháng 11. 201974 và đề xuất hướng giải quyết. Nghiên cứu năm 2013 của Lê Xuân Trường và Nguyễn Đình Chiến đã phần nào phác họa nên những vi phạm cụ thể về gian lận thuế của DN để CQT có giải pháp hạn chế thực trạng này. Đặc biệt, nghiên cứu của Vũ Hữu Đức và cộng sự (2009) đã kết luận các chỉ số trên BCTC có mối liên hệ với sự tuân thủ thuế TNDN, thể hiện qua khoảng chênh lệch giữa số thuế TNDN tự kê khai và kết quả kiểm tra của CQT. Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng bao gồm: Kỹ thuật phân tích, tổng hợp, điều tra khảo sát. Một số nghiên cứu đã sử dụng phương pháp định lượng như hồi quy bội, phân tích nhân tố khám phá (EFA), hồi quy Logit để thực hiện mục tiêu nghiên cứu theo từng đề tài. Trong nghiên cứu này, bài viết nghiên cứu thực trạng không tuân thủ thuế TNDN thông qua sự kế thừa các nghiên cứu trước đồng thời có sự kết hợp giữa các số liệu thống kê, những đúc kết kinh nghiệm của CQT và nhận định từ các DN đã được thanh tra kiểm tra thuế. 2.4. Phương pháp nghiên cứu Bài viết kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau, cụ thể: Nhóm tác giả thực hiện phương pháp tổng hợp cơ sở lý thuyết kết hợp với phương pháp thảo luận nhóm giữa các chuyên gia từ các CQT và phương pháp phỏng vấn, thảo luận tay đôi với đại diện DN đã được thanh tra, kiểm tra thuế. Các phương pháp nghiên cứu được thực hiện kết hợp nhằm khai thác thông tin chuyên sâu từ thực tế vi phạm, kinh nghiệm của các chuyên gia trong ngành thuế tại Việt Nam, phù hợp với một số công trình nghiên cứu trước đây đã sử dụng như Yalama và Gumus (2013); Yahyapour và cộng sự (2015). Các bước thực hiện như sau: - Bước 1: Chọn mẫu thu thập dữ liệu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. - Bước 2: Tiến hành thu thập dữ liệu thông qua 2 giai đoạn bằng công cụ thảo luận nhóm và thảo luận tay đôi, được thực hiện tại TP. Hồ Chí Minh từ tháng 3/2018 đến hết tháng 5/2018. - Bước 3: Phân tích dữ liệu từ những ý kiến của các chuyên gia (từ phía CQT và phía DN) đã được ghi chép và mã hóa thành các thông tin, yếu tố cụ thể. Trong đó có sự đối chiếu và so sánh để tổng hợp kết quả nghiên cứu. Số lượng mẫu ở 2 giai đoạn nghiên cứu được nhóm tác giả xác định theo quan điểm của Gummesson (2000) trong Nguyễn Đình Thọ (2011). Số lượng mẫu được xác định ở mức thông tin thu thập được hầu như không có gì khác biệt so với các mẫu trước đó, sau đó tiếp tục chọn thêm một mẫu nhằm khẳng định điểm bão hòa. Nếu không phát hiện thêm thông tin gì mới thì sẽ ngừng lại. Mẫu được chọn riêng biệt ở 2 giai đoạn nghiên cứu với những tiêu chí như sau: Thảo luận nhóm: Được tiến hành với đối tượng là các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý thuế, có kinh nghiệm làm công tác thanh tra, kiểm tra từ 5 năm trở lên với mong muốn nhận được những ý kiến đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng dẫn đến khai báo thuế TNDN không đúng quy định pháp luật. Thảo luận tay đôi: Được tiến hành với đại diện các DN (giám đốc, chủ DN hoặc kế toán trưởng) đã được CQT thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế trong quá trình kê khai nghĩa vụ TNDN. Họ có kinh nghiệm trong việc giải trình NGUYỄN THỊ LOAN - NGUYỄN VIỆT HỒNG ANH - LÊ THỊ TUYẾT HOA Số 210- Tháng 11. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 75 với CQT về những vi phạm, các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện vi phạm thể hiện qua kết quả kiểm tra ghi nhận trong hồ sơ của CQT. Thông tin dùng để khai thác cho quá trình chọn mẫu nghiên cứu là: (1) Những vi phạm pháp luật thuế TNDN dẫn đến làm giảm nghĩa vụ thuế TNDN phải nộp; (2) Nguyên nhân dẫn đến sự không tuân thủ thuế TNDN; (3) Những hạn chế trong công tác quản lý thuế đối với DN. Trong đó, nguyên nhân dẫn đến sự không tuân thủ thuế được bài viết khai thác trên cơ sở lý thuyết Tam giác gian lận (Cressey, 1953) đã được phân tích và kế thừa từ các nghiên cứu trước. Quy trình chọn mẫu được thực hiện riêng biệt bằng phương pháp chọn Hình 1. Chọn mẫu lý thuyết ở giai đoạn thảo luận nhóm Nguồn: Kết quả chọn mẫu của phương pháp thảo luận nhóm Hình 2. Chọn mẫu lý thuyết ở giai đoạn thảo luận tay đôi Nguồn: Kết quả chọn mẫu của phương pháp thảo luận tay đôi Thực trạng không tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp - nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 210- Tháng 11. 201976 mẫu lý thuyết ở cả 2 giai đoạn thảo luận, được minh họa như Hình 1 và Hình 2. Đối với giai đoạn thảo luận nhóm: Nhóm tác giả chọn ngẫu nhiên đối tượng thứ nhất S1 để thảo luận. Thông qua thảo luận, chúng tôi nhận thấy có 4 hành vi vi phạm về thuế ở DN được đề cập; 4 nguyên nhân dẫn đến sự không tuân thủ thuế của DN và 4 hạn chế trong công tác quản lý của CQT hiện nay. Tiếp theo, nhóm nghiên cứu tiếp tục thảo luận nhóm với 3 đối tượng kế tiếp S2-S4 để thu thập dữ liệu và bổ sung thêm 1 hành vi vi phạm về thuế TNDN ở DN; 4 nguyên nhân và 2 hạn chế trong công tác quản lý thuế ngoài những nội dung mà đối tượng thứ nhất đã cung cấp. Vì vậy, nhóm tác giả tiếp tục thảo luận nhóm với các đối tượng tiếp theo để phát hiện ra những yếu tố mới có tác động đến không tuân thủ thuế của DN (theo minh họa ở Hình 1). Nhóm tác giả cứ thế tiếp tục cho đến đối tượng S14, chúng tôi nhận thấy không còn thông tin gì mới nữa để tiếp tục. Vì vậy, S14 được xem là điểm bão hòa. Để khẳng định điểm bão hòa, nhóm nghiên cứu tiếp tục thảo luận với 1 đối tượng tiếp theo S15. Kết quả cho thấy không có phát hiện thêm yếu tố mới. Do đó, mẫu nghiên cứu trong giai đoạn 1 là n=15 với 11 hành vi vi phạm về thuế TNDN được đúc kết; 12 nguyên nhân dẫn đến không tuân thủ thuế TNDN và 10 điểm hạn chế trong công tác quản lý thuế đối với DN hiện nay được phát hiện qua nghiên cứu. Số lượng mẫu nghiên cứu được phân loại theo vị trí công tác được minh họa trong Hình 3. Theo Hình 3, đối tượng tham gia thảo luận nhóm là những người làm công tác quản lý và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra nghĩa vụ chấp hành pháp luật thuế của doanh nghiệp. (1) Ban lãnh đạo bao gồm những người lãnh đạo Cục thuế, Chi cục Thuế. Họ là những người đứng đầu, nắm quyền về quản lý, chịu trách nhiệm điều hành và tham mưu cho Chính phủ về công tác quản lý thuế của quốc gia; (2) Trưởng phòng Thanh tra và (3) Đội trưởng Đội kiểm tra là những người điều hành các đoàn thanh tra, kiểm tra nghĩa vụ chấp hành pháp luật thuế của doanh nghiệp, chịu trách nhiệm tham mưu cho Ban lãnh đạo; (4) Thanh tra viên và (6) Kiểm tra viên là những người trực tiếp thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế của doanh nghiệp, họ có những kinh nghiệm thực tế liên quan đến vấn đề tuân thủ thuế của doanh nghiệp. Tất cả các đối tượng được mời tham gia thảo luận nhóm ở những vị trí công tác khác nhau sẽ cung cấp thông tin phản ánh thực trạng một cách đầy đủ hơn về nội dung nghiên cứu. Đối với giai đoạn thảo luận tay đôi: Quy trình chọn mẫu được thực hiện tương tự như giai đoạn trước, tuy nhiên từng lần thảo luận chỉ được thực hiện giữa nhóm nghiên cứu và 1 đối tượng nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy mẫu nghiên cứu giai đoạn này là n= 20, điểm bão hòa là S20 (Hình 2). Qua nghiên cứu 20 tình huống, nhóm tác giả đúc kết có tất cả 11 hành vi vi phạm về thuế TNDN đã được Hình 3. Phân loại đối tượng thảo luận nhóm Nguồn: Tổng hợp từ kết quả thảo luận nhóm NGUYỄN THỊ LOAN - NGUYỄN VIỆT HỒNG ANH - LÊ THỊ TUYẾT HOA Số 210- Tháng 11. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 77 phát hiện; 11 nguyên nhân dẫn đến không tuân thủ thuế TNDN. Các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu thuộc các ngành nghề khác nhau, được phân loại theo mã ngành cấp 1 theo Quyết định số 10/2007/ QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ, trên thông tin đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Hình 4 phân loại các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu được chọn theo quy trình chọn mẫu lý thuyết đã nêu theo các mã ngành nghề kinh doanh chính. Kết quả cho thấy các doanh nghiệp tham gia vào nghiên cứu thuộc 5 lĩnh vực kinh doanh chính: C- Công nghiệp chế biến, chế tạo; H- Vận tải kho bãi; I- Dịch vụ lưu trú và ăn uống; G- Bán buôn và bán lẻ; xây dựng. 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Thực trạng không tuân thủ thuế TNDN qua các số liệu thống kê Theo thống kê tại Bảng 1 dưới đây, tỷ trọng khoản thu từ DN trong nước tại Việt Nam rất cao, luôn chiếm trên 65% tổng nguồn thu nội địa. Bên cạnh đó, nếu so sánh với tổng thu NSNN thì số thu từ các DN nội địa cũng chiếm tỷ lệ khá lớn, từ 30% đến hơn 50%. Điều này chứng tỏ nghĩa vụ thuế của DN trong nước đóng vai trò rất quan trọng đối với ngân sách quốc gia. Xu hướng biến động tỷ trọng số thu từ DN trong nước trên tổng thu ngân sách có xu hướng giảm từ năm 2013 đến năm 2017. Trong khi đó tỷ trọng số thu từ DN trong nước trong tổng thu nội địa có xu Hình 4. Phân loại các doanh nghiệp tham gia thảo luận tay đôi theo ngành nghề kinh doanh chính Nguồn: Tổng hợp từ kết quả thảo luận tay đôi Bảng 1. Thống kê cơ cấu nguồn thu NSNN tại Việt Nam ĐVT: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Thu từ DN trong nước 405.773 403.454 482.847 558.807 681.918 Thu nội địa từ SXKD 513.090 539.000 638.600 846.230 990.280 Tổng thu NSNN 1.084.064 782.700 911.100 1.093.631 1.280.755 Tỷ trọng số thu từ DN trong nước / tổng thu nội địa (%) 79,08 74,85 75,61 66,03 68,86 Tỷ trọng số thu từ DN trong nước / tổng thu NSNN (%) 37,43 51,55 53,00 51,10 53,24 Nguồn: Tổng hợp từ Website Bộ Tài chính tại www.mof.gov.vn Thực trạng không tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp - nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 210- Tháng 11. 201978 hướng tăng nhưng lại giảm đáng kể ở năm 2016 trước khi tăng nhẹ lại ở năm 2017. Bên cạnh đó, theo số liệu báo cáo NSNN của Bộ Tài chính từ năm 2013- 2017, tỷ trọng số thu theo các sắc thuế được thể hiện trong Hình 5. Hình 5 minh họa tỷ trọng số thu theo các sắc thuế trong tổng thu ngân sách cả nước cho thấy, trong khoảng thời gian từ năm 2013- 2017 tỷ trọng thu thuế TNDN có khuynh hướng giảm rõ nét ở năm 2017 so với các năm trước trong khi xu hướng của các sắc thuế khác tăng nhẹ mặc dù có nhiều biến động trong giai đoạn nghiên cứu. Số liệu thống kê Hình 5 phản ánh thực tế số tiền thuế TNDN đã nộp vào NSNN, bao gồm số thuế TNDN tự kê khai, tự nộp và cả số thuế TNDN mà CQT phát hiện qua thanh tra kiểm tra đã được nộp. Do đó, một trong các nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ này thấp là mức độ tuân thủ thuế TNDN tại Việt Nam đang có dấu hiệu ngày càng có rủi ro cao về thuế, cần phải được các cơ quan chức năng chú trọng nhiều hơn. Riêng thực trạng thu thuế theo số liệu báo cáo tại Thành phố Hồ Chí Minh được trình bày chi tiết trong Bảng 2. Cũng giống như xu hướng chung của cả nước, tỷ trọng thu thuế TNDN giảm dần trong giai đoạn 2013- 2017. Qua các con số thống kê thực trạng nguồn thu ngân sách và việc phân loại số thu theo các sắc thuế, có thể thấy sự không tuân thủ thuế TNDN tại Việt Nam nói chung cũng như TP. HCM nói riêng rất đáng được quan tâm và cần có những biện pháp tập trung khai thác nguồn thu. Nguồn: Báo cáo quyết toán NSNN- Bộ Tài chính Hình 5. Biến động của tỷ trọng số thu các sắc thuế trong tổng thu NSNN tại Việt Nam ĐVT: % Bảng 2. Doanh số thu theo sắc thuế tại Thành phố Hồ Chí Minh Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Số tiền (tỷ đồng) Tỷ trọng (%) Số tiền (tỷ đồng) Tỷ trọng (%) Số tiền (tỷ đồng) Tỷ trọng (%) Số tiền (tỷ đồng) Tỷ trọng (%) Số tiền (tỷ đồng) Tỷ trọng (%) Thuế GTGT 30.949 39,99 34.874 41,60 40.532 44,06 43.775 39,91 52.494 42,11 Thuế TNDN 32.488 41,97 34.652 41,33 34.999 38,05 37.799 34,46 41.836 33,56 Thuế TNCN 13.964 18,04 14.313 17,07 16.458 17,89 28.104 25,62 30.330 24,33 Cộng 77.401 100 83.839 100 91.989 100 109.678 100 124.660 100 Nguồn: Báo cáo thu NSNN- Kho bạc Nhà nước TP. Hồ Chí Minh NGUYỄN THỊ LOAN - NGUYỄN VIỆT HỒNG ANH - LÊ THỊ TUYẾT HOA Số 210- Tháng 11. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 79 Bảng 3 trình bày kết quả số thu thuế và phạt qua các hành vi vi phạm pháp luật thuế của DN đã được CQT tại TP.HCM phát hiện trong 5 năm 2013- 2017. Các hành vi vi phạm về thuế được Cục thuế TP.HCM thống kê qua thực tế thanh tra, kiểm tra tại các DN ở Bảng 3 chủ yếu tập trung ở các vi phạm về hóa đơn, kê khai doanh thu và chi phí không đúng quy Bảng 3. Kết quả xử lý về các hành vi vi phạm pháp luật thuế qua thanh tra, kiểm tra DN tại TP. HCM ĐVT: triệu đồng Hành vi vi phạm Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Gian lận sử dụng hóa đơn 42.557 45.884 48.541 50.448 58.403 Khai tăng chi phí đầu vào 32.975 25.003 50.664 54.458 61.560 Che giấu doanh thu 7.816 4.126 6.479 24.682 26.917 Vi phạm hành chính về kế toán 1.296 1.550 1.865 2.024 2.197 Nguồn: Báo cáo của Cục thuế TP. Hồ Chí Minh Bảng 4. Tổng hợp các hành vi vi phạm trong mẫu nghiên cứu TT Biểu hiện của vi phạm Số lượng chuyên gia đưa ra ý kiến 15 chuyên gia thuộc CQT Đại diện của 20 DN Nhóm hành vi liên quan đến doanh thu tính thuế 1 Kê khai thiếu doanh thu (Bán hàng không xuất hóa đơn, để ngoài sổ sách kế toán doanh thu tính thuế, thông đồng giữa bên mua và bên bán qua các hợp đồng kinh tế) 15 7 2 Hạch toán giá bán không theo giá thị trường 13 6 3 Không ghi nhận doanh thu tài chính, chuyển nhượng vốn 11 3 Nhóm hành vi liên quan đến chi phí tính thuế TNDN 4 Bán hàng thấp hơn giá vốn 9 6 5 Hạch toán chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho không đúng quy định 10 6 6 Hợp thức hóa chi phí không có hóa đơn bằng các chứng từ không liên quan hoạt động SXKD 15 20 7 Hạch toán tiền lương nhưng thực tế không chi (tạo hợp đồng lao động giả mạo) 13 9 8 Trích khấu hao không đúng quy định (vượt mức khống chế, tài sản khấu hao đã hết giá trị, tài sản không phục vụ SXKD) 9 5 9 Hạch toán chi phí lãi vay không phục vụ SXKD (khai khống chi phí lãi vay cá nhân, lãi vay để góp vốn điều lệ) 11 8 Nhóm hành vi liên quan đến số lỗ năm trước chuyển sang 10 Xác định số lỗ năm trước chuyển sang không đúng quy định 7 4 11 Xác định sai thời gian chuyển lỗ 6 3 Nguồn: Tổng hợp từ kết quả thảo luận nhóm với 15 chuyên gia từ CQT và thảo luận tay đôi với 20 DN Thực trạng không tuân thủ thuế thu nhập doanh nghiệp - nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 210- Tháng 11. 201980 định. Số thu của từng hành vi có mức tăng đáng kể qua các năm chứng tỏ thực trạng thu thuế tại TP.HCM hiện nay còn nhiều khó khăn và Cục thuế rất cần phải thực hiện những biện pháp hạn chế không tuân thủ thuế của DN. Hình 6 cho thấy số truy thu và phạt về thuế TNDN qua thanh tra kiểm tra thuế ở các năm tăng lên đáng kể. Năm 2017, số truy thu và phạt về thuế TNDN đã gần đạt gấp đôi những con số phát sinh các năm 2013 và 2014. Điều này cho thấy, các vi phạm về thuế TNDN ngày càng tăng qua các năm và nếu như không có công tác thanh tra, kiểm tra thuế thì tỷ lệ thất thu ngân sách về thuế TNDN tăng lên đáng kể. Hay nói cách khác, sự không tuân thủ thuế của DN về nghĩa vụ thuế TNDN ngày càng phổ biến hơn, ảnh hưởng mạnh mẽ đến hệ thống quản lý thu ngân sách của địa phương nói riêng và của cả nước nói chung. 3.2. Thực trạng không tuân thủ thuế từ kinh nghiệm Cơ quan Thuế và nhận định của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu về các vi phạm không tuân thủ thuế TNDN Các thành viên trong nhóm thảo luận và các tình huống nghiên cứu thảo luận tay đôi đều cho thấy tồn tại 3 nhóm hành vi chính về không tuân thủ thuế TNDN làm giảm số thuế TNDN phải nộp theo quy định của Luật thuế TNDN Việt Nam: - Nhóm hành vi liên quan đến doanh thu tính thuế TNDN. - Nhóm hành vi liên quan đến chi phí tính thuế TNDN. - Nhóm hành vi liên quan đến số lỗ năm trước chuyển sang. Kết quả nghiên cứu ở 2 giai đoạn đều cho thấy trong 3 nhóm hành vi nêu trên có tất cả 11 vi phạm cụ thể về thuế TNDN, được tổng hợp ở Bảng 4. Theo Bảng 4, kê khai thiếu doanh thu là vi phạm xuất hiện nhiều nhất ở nhóm hành vi vi phạm về thuế TNDN, được tất cả 15 chuyên gia tham gia thảo luận nhóm đồng tình và xảy ra ở 7/20 trường hợp DN đã được thanh tra, kiểm tra thuế (chiếm tỷ trọng 35% mẫu nghiên cứu). Hành vi hợp thức hóa chi phí không có hóa đơn bằng các chứng từ không liên quan hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) là vi phạm xuất hiện phổ biến nhất, xảy ra ở tất cả các tình huống nghiên cứu, tại 20/20 DN (đạt tỷ lệ 100%) và được 15/15 chuyên gia nhận định. Bên cạnh đó, việc tăng chi phí tiền lương không có thực bằng nhiều cách thức như tạo hợp đồng lao động giả mạo, hạch toán chi phí lương cao hơn thực tế là hành vi dẫn đến không tuân thủ thuế TNDN phổ biến không kém, xảy ra ở 9/20 tình huống thảo luận với DN (chiếm tỷ trọng 45%) và nhận được sự đồng tình của 13/15 chuyên gia thảo luận. Nhóm hành vi liên quan đến số lỗ năm trước chuyển sang bao gồm 02 hành vi chính là xác định lỗ chuyển sang và xác định thời gian chuyển lỗ không đúng quy định. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu ở 2 giai đoạn cho thấy các hành vi vi phạm xuất hiện chủ yếu ở các DN có mã ngành cấp 1 là: F, I, G, C, H. Trong đó, 2 lĩnh vực kinh doanh được nhận định là có nhiều hành vi vi phạm không tuân thủ thuế TNDN nhiều nhất là xây dựng (mã ngành F); dịch vụ lưu trú và ăn uống (mã ngành I). Nguyên nhân dẫn đến những vi phạm không tuân thủ thuế TNDN Các ý kiến thảo luận nhóm và thảo luận tay đôi từ phía CQT và DN được tổng hợp bên dưới (Bảng 5). còn nữa (xem tiếp số sau)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfthuc_trang_khong_tuan_thu_thue_thu_nhap_doanh_nghiep_nghien.pdf
Tài liệu liên quan