Thực trạng tái canh cây hồ tiêu trên đất bị nhiễm bệnh ở Gia Lai

Kết luận Tỉnh Gia Lai có điều kiện tự nhiên và khí hậu rất thuận lợi cho việc phát triển cây hồ tiêu. Tuy nhiên tình trạng canh tác tự phát đã làm gia tăng diện tích hồ tiêu vượt quá quy hoạch của tỉnh dẫn đến tình trạng không kiểm soát được dịch bệnh trên cây hồ tiêu, diện tích hồ tiêu nhiễm bệnh và chết ngày càng gia tăng ở tất cả các huyện. Tỉ lệ thành công trong tái canh cây hồ tiêu đạt thấp, trong tổng số 120 hộ điều tra có 60 hộ tái canh thất bại, 60 hộ còn lại tuy vườn hồ tiêu ít có triệu chứng bệnh nhưng thời gian tái canh còn ngắn nên chưa thể đảm bảo chắc chắn tỉ lệ thành công. Hầu hết các hộ nông dân đều canh tác theo lối truyền thống và theo kinh nghiệm bản thân mà chưa có những thay đổi trong phương thức canh tác theo hướng nông nghiệp bền vững. Tái canh cây hồ tiêu thất bại do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó kỹ thuật canh tác, chế độ chăm sóc và giống hồ tiêu là các yếu tố đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trên 95% các hộ tiến hành tái canh là do trước đó vườn tiêu bị bệnh tuy nhiên 100% các hộ nông dân không gửi mẫu bệnh trước khi tái canh để xác định đối tượng gây bệnh mà tự ý sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật vừa gây ô nhiễm môi trường vừa không đem lại hiệu quả phòng trị bệnh. Trên 60% các hộ gia đình không xử lý đất trước khi trồng, sử dụng nguồn giống không đảm bảo chất lượng và cũng không tiến hành xử lý giống trước khi trồng. Bên cạnh đó những sai lầm trong việc sử dụng phân bón, sai lầm trong kỹ thuật chăm sóc như không làm rãnh thoát nước, không tủ gốc cho cây vào mùa khô, không có cây che bóng. cũng là những nguyên nhân dẫn đến tái canh thất bại.

pdf6 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng tái canh cây hồ tiêu trên đất bị nhiễm bệnh ở Gia Lai, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT20 T Ạ P C H Í K H O A H Ọ C C Ô N G N G H Ệ V À M Ô I T R Ư Ờ N G 1. Mở đầu Tỉnh Gia Lai có điều kiện tự nhiên và khí hậu rất thuận lợi cho việc phát triển cây hồ tiêu. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tình hình sản xuất tiêu trên địa bàn tỉnh Gia Lai gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh xuất hiện ngày càng nhiều. Khả năng tái canh đạt hiệu quả rất thấp vì sự tồn tại của mầm bệnh trong đất rất cao, phương pháp xử lý mầm bệnh chưa đúng kỹ thuật. Diện tích hồ tiêu được phát triển ồ ạt không theo quy hoạch, khí hậu biến đổi thất thường dẫn đến tình hình sâu bệnh hại trên cây hồ tiêu xuất hiện ngày một nhiều và nghiêm trọng hơn. Đã có nhiều nghiên cứu xác định nguyên nhân và các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại trên cây hồ tiêu, đặc biệt là bệnh héo chết nhanh và vàng lá chết chậm. Tuy nhiên, việc phòng trừ bệnh hại cho cây hồ tiêu, đặc biệt là các bệnh có nguồn gốc từ đất, cho đến nay vẫn chưa mấy hiệu quả. Việc sử dụng các loại thuốc hóa học để trị bệnh chỉ có hiệu quả trong một thời gian ngắn, sau đó bệnh lại xuất hiện Thực trạng tái canh cây hồ tiêu trên đất bị nhiễm bệnh ở Gia Lai NGÔ ĐĂNG DUYÊN1 NGUYỄN ĐẶNG TOÀN CHƯƠNG2 1. Trường Đại học Tây Nguyên 2. Sở Khoa học và Công nghệ Gia Lai Hồ tiêu là một trong những loại cây trồng có diện tích lớn ở tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên, phát triển hồ tiêu tại Gia Lai hiện nay đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề hồ tiêu tái canh bị chết hàng loạt do trồng trên đất đã nhiễm bệnh. Kết quả điều tra thực trạng tái canh cây hồ tiêu trên 120 hộ gia đình thuộc 4 huyện ở Gia Lai cho thấy tỉ lệ thành công trong tái canh cây hồ tiêu đạt thấp, trong tổng số 120 hộ điều tra có 60 hộ tái canh thất bại, 60 hộ còn lại tuy vườn hồ tiêu ít có triệu chứng bệnh nhưng thời gian tái canh còn ngắn nên chưa thể đảm bảo chắc chắn tỉ lệ thành công. Trên 95% các hộ tiến hành tái canh là do trước đó vườn tiêu bị bệnh, tuy nhiên 100% các hộ nông dân không gửi mẫu đất và mẫu bệnh trước khi tái canh để xác định đối tượng gây bệnh mà tự ý sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật. Trên 60% các hộ gia đình không xử lý đất trước khi trồng, sử dụng nguồn giống không đảm bảo chất lượng và cũng không tiến hành xử lý giống trước khi trồng. Những sai lầm trong việc sử dụng phân bón, sai lầm trong kỹ thuật chăm sóc như không làm rãnh thoát nước, không tủ gốc cho cây vào mùa khô, không có cây che bóng... cũng là những nguyên nhân dẫn đến tái canh thất bại. Từ khóa: hồ tiêu, tái canh, đất bị nhiễm bệnh KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT 21 S Ố 0 5 N Ă M 2 0 18và lây lan nếu không xử lý thuốc liên tục. Do đó, cần điều tra để đánh giá phương pháp trồng và chăm sóc cây hồ tiêu nhằm rút ra những biện pháp tổng hợp giúp phát triển cây Hồ tiêu bền vững. 2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 2.1. Nghiên cứu thực trạng tái canh cây hồ tiêu trên đất bệnh Điều tra, khảo sát và phỏng vấn các chủ hộ trồng Hồ tiêu nhằm xác định mối quan hệ giữa quá trình sử dụng đất, canh tác (sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tưới nước, giống cây trồng...) với khả năng tái canh cây hồ tiêu trên đất nhiễm bệnh. 2.2. Địa điểm điều tra và thu thập mẫu Điều tra và thu thập mẫu tại các vườn hồ tiêu tái canh tại 04 huyện trồng hồ tiêu của Gia Lai. - Huyện Chư Pưh: Điều tra tại 3 xã( Ia HRú, Ia BLứ và thị trấn Nhơn Hòa) - Huyện Chư Sê: Điều tra tại 3 xã (Ia BLang, Ia Hlốp và Al Bá) - Huyện Chư Prông: Điều tra tại 3 xã (Ia O, Ia Boòng và thị trấn Chư Prông) - Huyện Ia Grai: Điều tra tại 3 xã (Ia Krăi, Ia Hrung và thị trấn Ia Kha) 2.3. Chỉ tiêu điều tra Điều tra bằng hình thức phỏng vấn theo nội dung ghi trong mẫu phiếu điều tra được lập sẵn, bao gồm các chỉ tiêu: - Tên chủ hộ; diện tích; năm trồng; loại giống. - Tình trạng vườn hồ tiêu trước tái canh (có bị bệnh hay không), thời gian bỏ hóa và luân canh. - Các phương pháp làm đất và xử lý đất trước khi tái canh. - Các kỹ thuật canh tác (phương pháp trồng, bón phân, tưới nước, chăm sóc) khi tái canh. - Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh trước và sau khi tái canh. - Tỷ lệ và mức độ bệnh vàng lá chết chậm, bệnh chết nhanh, sâu bệnh hại khác. - Tình trạng sử dụng cây che bóng, cây trồng xen. 3. Kết quả và thảo luận 3.1. Thực trạng sản xuất cây hồ tiêu tại Gia Lai 3.1.1. Thực trạng sản xuất cây hồ tiêu tại huyện Chư Prông Cây hồ tiêu sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của địa phương; tuy nhiên, từ năm 2015 đến năm 2017 điều kiện thời tiết luôn biến động, không ổn định đã ảnh hưởng nhiều đến tình hình sinh trưởng và phát triển của cây hồ tiêu làm nhiều diện tích bị nhiễm bệnh và chết. Tổng diện tích hồ tiêu bị chết từ năm 2015 đến 2017 là 185,86 ha. Trong đó: - Năm 2015: Diện tích tiêu chết là: 70,86 ha, (nguyên nhân: Do hạn hán: 0 ha; do dịch bệnh: 63,36 ha; do già cỗi: 7,5 ha). - Năm 2016: Diện tích tiêu chết là: 61,25 ha (nguyên nhân: Do hạn hán: 15,68 ha; do dịch bệnh: 35,37 ha; do già cỗi: 10,2 ha). - Năm 2017: Diện tích tiêu chết là: 53,75 ha (nguyên nhân: Do hạn hán: 0 ha; do dịch bệnh: 41,45 ha; do già cỗi: 12,3 ha). Diện tích tiêu chết tập trung tại những vùng có diện tích sản xuất tiêu lớn, người dân chưa áp dụng tốt khoa học vào sản xuất, còn lạm dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất. Bảng 1. Tình hình sản xuất cây Hồ tiêu của huyện Chư Prông Năm Các chỉ tiêu Diện tích hiện có (ha) Trồng mới (ha) Diện tích cho sản phẩm(ha) NS trên DT cho SP (Tạ/ha) Sản lượng thu hoạch (Tấn) 2014 2.840,0 90,0 2.350,0 38,5 9.047,5 2015 2.559,0 233,0 2.016,6 39,9 8.053,0 2016 2.539,0 100,0 2.191,0 40,2 8.807,8 2017 2.480,4 100,0 1.708,0 40,8 6.971,0 (Nguồn: báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, 2017) KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT22 T Ạ P C H Í K H O A H Ọ C C Ô N G N G H Ệ V À M Ô I T R Ư Ờ N G Các giống tiêu được trồng phổ biến trên địa bàn huyện: Giống tiêu Vĩnh Linh chiếm 80% diện tích; giống tiêu Lộc Ninh chiến 15% diện tích; còn 5% diện tích là một số giống tiêu địa phương và tiêu nhập nội (Srilanka) được người dân trồng thử nghiệm. Diện tích trồng bằng trụ chết không có cây che bóng vẫn chiếm đa số so với diện tích trồng bằng trụ sống và trụ chết có cây che bóng. 3.1.2. Thực trạng sản xuất Hồ tiêu tại huyện Chư Pưh Tính đến cuối năm 2017, tổng diện tích sản xuất hồ tiêu trên địa bàn huyện có 2.991,6 ha; trong đó: KTCB 434 ha, kinh doanh 2.454ha, trồng mới 103,6ha (trồng tái canh lại trên đất cũ 44,5ha.): - Diện tích hồ tiêu phát triển ngoài quy hoạch là: 122,7 ha. - Diện tích hồ tiêu phát triển trong quy hoạch: 2.868,9 ha. - Năng suất bình quân năm 2017: 38,05 tạ/ha. - Tổng sản lượng năm 2017: 9.336,8 tấn. - Diện tích hồ tiêu già cỗi cần tái canh: 865,9 ha. - Diện tích hồ tiêu trồng trên chân đất phù hợp: 2.782,7 ha. - Diện tích hồ tiêu trồng trên chân đất không phù hợp: 208,9 ha. - Diện tích hồ tiêu chuyển đổi sang trồng cây ăn quả hoặc cây trồng khác có hiệu quả: 548,5 ha. Vụ đông xuân năm 2015 - 2016, tình hình khô hạn diễn ra gay gắt, kéo dài đã làm ảnh hưởng và thiệt hại nghiêm trọng đến ngành sản xuất hồ tiêu trên địa bàn huyện, nhiều diện tích hồ tiêu bị ảnh hưởng khô hạn trong mùa khô năm 2016 đã không còn khả năng phục hồi sau hạn hán, nông dân phá bỏ để chuyển cây trồng khác. Bên cạnh đó, do giá cả hồ tiêu trong giai đoạn năm 2013-2016 luôn ổn định ở mức cao nên người dân mạo hiểm dùng vốn tích lũy được, vay vốn ngân hàng đầu tư trồng mở rộng diện tích sản xuất trên những vùng đất không phù hợp hoặc trồng tái canh ngay trên diện tích hồ tiêu đã bị nhiễm bệnh, chết mà không thực hiện qui trình luân canh cây trồng khác trong 2-3 năm. Theo tổng hợp thống kê từ công tác dự báo, dự tính tình hình sâu bệnh hại hàng năm của cơ quan chuyên môn huyện, từ năm 2014 đến cuối tháng 12/2017, diện tích hồ tiêu chết do bệnh, già cỗi và bị hạn không thể phục hồi lại được nông dân đã phá bỏ là 440,6 ha. Diện tích tiêu của huyện qua các năm - Tổng diện tích tiêu năm 2015, 2016, 2017 lần lượt là 2542ha; 2773,8ha và 2991,6ha. Diện tích tiêu trồng mới qua các năm - Tiêu trồng mới năm 2015: 707ha - Tiêu trồng mới năm 2016: 231,8ha - Tiêu trồng mới năm 2017: 103,6ha 3.1.3. Thực trạng sản xuất cây hồ tiêu tại huyện Chư Sê Diện tích trồng hồ tiêu trồng mới tăng mạnh trong khoảng thời gian từ 2014-2015, tuy nhiên do vấn đề sâu bệnh hại phức tạp làm ảnh hưởng đến cây hồ tiêu nên tổng diện tích năm 2015 lại giảm 97 ha so với năm 2014. Bảng 2. Diện tích, năng suất, sản lượng hồ tiêu của huyện Chư Sê Năm Các chỉ tiêu Diện tích hiện có (ha) Trồng mới (ha) Diện tích cho sản phẩm (ha) NS trên DT cho SP (Tạ/ha) Sản lượng thu hoạch (Tấn) 2014 3.847,0 20,0 3.223,0 35,3 11.377,9 2015 3.750,0 312,1 3.037,2 37,1 11.272,0 2016 3.749,0 154,0 3.136,0 39,8 12.481,3 2017 3.750,0 154,0 2.949,0 40,5 11.931,9 (Nguồn: Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Gia Lai) Diện tích cho sản phẩm giảm, nguyên nhân là do tiêu bị bệnh hại chết nhiều nên các nông hộ phải tiến hành trồng mới nên chưa cho thu hoạch. Nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nên năng suất (tạ/ha) có sự tăng lên rõ rệt. Từ đó sản lượng hồ tiêu của huyện Chư Sê cũng tăng khá đáng kể tuy nhiên đến tháng KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT 23 S Ố 0 5 N Ă M 2 0 1812/2017 sản lượng thu hoạch giảm nguyên nhân là do diện tích hồ tiêu cho thu hoạch giảm so với năm 2016. 3.1.4. Thực trạng sản xuất hồ tiêu tại huyện Ia Grai Bảng 3. Diện tích, năng suất, sản lượng hồ tiêu của huyện Ia Grai Năm Các chỉ tiêu Diện tích hiện có (ha) Trồng mới (ha) Diện tích cho sản phẩm(ha) NS trên DT cho SP (Tạ/ha) Sản lượng thu hoạch (Tấn) 2014 472,4 78,0 216,0 34,3 740,9 2015 506,0 115,0 246,0 33,7 830,0 2016 506,4 115,0 300,0 39,2 1.176,0 2017 532,6 71,2 461,4 30,0 1.384,2 Diện tích trồng hồ tiêu trên địa bàn huyện tăng dần qua các năm, tính đến năm 2017 diện tích hồ tiêu cho sản phẩm đạt 461,4 ha; chiếm 86,63% tổng diện tích hồ tiêu của huyện. Tuy nhiên, năng suất hồ tiêu không dược duy trì ổn định qua các năm mà có khuynh hướng tăng giảm thất thường, nguyên nhân một phần là do tình hình thời tiết các năm biến động nhiều đã tác động đến cây hồ tiêu. Bên cạnh đó còn phải kể đến các nguyên nhân khác như chế độ canh tác, chăm sóc, phân bón... 3.2. Nghiên cứu thực trạng tái canh cây hồ tiêu trên đất bệnh Quá trình điều tra được thực hiện tại 04 huyện: Huyện Chư Sê (xã Al Bá, xã Ia Blang và xã Ia Hlốp); huyện Chư Pưh( xã Ia Blứ, thị trấn Nhơn hòa và xã Ia Hrú); huyện Chư Prông (xã Ia Bloòng, xã Ia O và thị trấn Chư Prông) và huyện Ia Grai ( xã Ia Krai, xã Ia Hrung và thị trấn Ia Kha). Kết quả phỏng vấn điều tra 120 hộ gia đình trồng hồ tiêu tại 12 xã của 4 huyện trên địa bàn tỉnh Gia Lai, trong đó có 60 hộ tái canh hồ tiêu và 60 hộ tái canh hồ tiêu thất bại nhận thấy đa phần gia đình trồng tiêu tại đây là thuần nông, diện tích canh tác từ 0,25 hecta đến 1 hecta. Mật độ trồng khá đồng nhất và phổ biến trong khoảng 1.100 trụ/hecta đến 1.300 trụ/hecta. Đồ thị 1: Phân bố giới tính, dân tộc và nghề nghiệp của các hộ được điều tra Nhân lực trồng hồ tiêu đa phần là nam giới (chiếm > 85%), trong đó đa phần là người Kinh, người đồng bào Jrai chỉ có 3 hộ trong 120 hộ được điều tra, các hộ đều là nông dân với thu nhập chính từ canh tác nông nghiệp, ngoại trừ 5 hộ là công chức, viên chức nhà nước. Điều này cho thấy tái canh thành công hay thất bại cây hồ tiêu ảnh hưởng sâu sắc đến thu nhập và đời sống của mỗi người dân nơi đây. Có 3 loại trụ được sử dụng để trồng hồ tiêu bao gồm trụ cây sống, trụ gỗ và trụ bê tông, trong đó chủ yếu là sử dụng trụ bê tông (>50 %). Tuy nhiên, trụ bê tông không thấm nước nên khi thời tiết nắng nóng nhiệt độ trụ cao gây ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh trưởng của cây, độ ẩm tại các gốc tiêu dùng trụ bê tông thấp do đó mật độ vi sinh vật thấp. Vì vậy cần làm giàn che cho hồ tiêu trồng mới và cần phủ gốc giữ ẩm cho cây vào mùa khô. Theo kết quả điều tra cho thấy có tới 62,5% các vườn không tủ gốc giữ ẩm cho cây vào mùa khô, đây là một trong những nguyên nhân gây chết hồ tiêu. Nền đất sử dụng trồng hồ tiêu là loại đất đỏ bazan với khả năng thoát nước tốt. Kết quả so sánh tình hình vườn cây trước khi tái canh cho thấy hầu hết các vườn tiêu trước tái canh đã bị nhiễm bệnh, những hộ nông dân tái canh thất bại có tỉ lệ cây nhiễm bệnh là rất cao so với những hộ tái canh thành công (tỉ lệ nhiễm bệnh >20% chiếm 70% ở hộ tái canh thất bại so với 35% ở hộ tái canh thành công). Như vậy, nguồn bệnh tồn tại trong đất là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự thành công hay thất bại của điều kiện tái canh cây Hồ tiêu. KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT24 T Ạ P C H Í K H O A H Ọ C C Ô N G N G H Ệ V À M Ô I T R Ư Ờ N G Bảng 4. Các biện pháp kỹ thuật được áp dụng khi tái canh cây hồ tiêu Chỉ tiêu điều tra Tái canh Tái canh thất bại Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) Phân tích mẫu bệnh sau khi canh tác Có 2 3,3 0 0 Không 58 96,7 60 100 Lí do thực hiện tái canh Hồ tiêu Già cỗi 3 5 1 1,7 Bị bệnh (chết nhanh, chết chậm...) 57 95 59 98,3 Phương pháp tái canh Trồng mới 100% 48 80 53 88,3 Trồng mới 50% 8 13,3 5 8,3 Trồng dặm 4 6,7 2 3,3 Cày đất, nhặt rễ trước khi tái canh hồ tiêu Có 26 43,3 18 30 Không 34 56,7 42 70 Đào hố trước khi trồng Có 51 85 55 91,7 Không 9 15 5 8,3 Xử lý hố trước khi trồng Có 13 21,7 6 10 Không 47 78,3 54 90 Phương pháp xử lí Tưới vào hố 5 8,3 2 3,3 Rải vào hố 8 13,3 4 6,7 Sử dụng loại thuốc Thuốc hóa học 7 11,7 5 8,3 Thuốc sinh học 6 10 1 1,7 Sử dụng phân hữu cơ Phân chuồng 56 93,3 56 93,3 Phân vi sinh 34 56,7 37 61,7 Sử dụng phân vô cơ Vôi 55 91,7 50 83,3 Lân 14 23,3 16 26,7 Đại đa số các hộ trồng hồ tiêu trong diện được điều tra tiến hành tái canh là do vườn cây hồ tiêu bị bệnh (>95%), phương pháp tái canh chủ yếu trồng mới hoàn toàn (>80%) và không tiến hành phân tích mẫu bệnh sau khi canh tác (>96%). Phương pháp trồng đại đa số vẫn theo lối truyền thống cũ là đào hố sâu và bón lót bằng phân chuồng và phân hữu cơ vi sinh. Tuy nhiên sự khác biệt ở các hộ tái canh và tái canh thất bại ở các phương pháp như cày đất, nhặt rễ trước khi tái canh hồ tiêu và xử lý hố trước khi trồng. Ở các hộ tái canh thất bại, 70% hộ trồng hồ tiêu không phơi ải đất và không loại bỏ các rễ tàn dư chứa mầm bệnh, ngoài ra số lượng hộ xử lý đất trước khi trồng chỉ chiếm 10% trong khi các hộ được xem là tái canh thành công có xử lý đất và loại bỏ rễ bệnh (43,3% so với 30%) đồng thời có xử lý hố trước khi trồng (21,7% so với 10%). Kết quả điều tra này cho thấy phương pháp xử lý đất sau khi vườn cây bị bệnh và trước khi xuống giống hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến thành công hay thất bại đến khả năng tái canh cây Hồ tiêu. Ngoài yếu tố xử lý đất trước khi trồng, nguồn giống sử dụng cũng đóng vai trò rất quan trọng trong quy trình tái canh cây hồ tiêu. Kết quả điều tra cho thấy về nguồn gốc giống: Phần lớn các hộ nông dân tự sản xuất giống hoặc mua giống ngoài thị trường tự do hoặc sử dụng cả 2 nguồn trên. Đây là yếu tố rủi ro rất cao về chất lượng giống, nếu mua phải giống tiêu có chất lượng kém, mang sẵn mầm bệnh sẽ làm cho nguy cơ tái canh thất bại rất cao. Mặt khác, khâu kiểm tra chất lượng giống không được quan tâm, trên 95% hộ nông dân được hỏi bỏ qua khâu kiểm tra mầm bệnh cây giống bằng kỹ thuật phân tích mà chỉ đánh giá bằng giác quan bên ngoài, do đó nguy cơ giống chứa mầm bệnh nội sinh là rất cao. Hơn nữa, gần 100% hộ nông dân được hỏi đều không xử lí nấm bệnh và tuyến trùng cho cây giống trước khi trồng. Bảng 5. Những vấn đề liên quan đến che bóng, giữ ẩm và chế độ tưới trong tái canh cây hồ tiêu của người dân Chỉ tiêu điều tra Tái canh Tái canh thất bại Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) Cây che bóng Có 14 23,3 17 28,3 Không 46 76,6 43 71,7 Loại cây che bóng Muồng đen 3 5 6 10 Keo dậu 10 16,7 10 16,7 Cây ăn quả 1 1,7 1 1,7 Trồng xen thời kỳ kiến thiết cơ bản Có 2 3,3 4 6,7 Không 58 96,7 56 93,3 Làm bồn Có 58 96,7 2 93,3 Không 56 3,3 4 6,7 Làm rãnh thoát nước Có 8 13,3 4 6,7 Không 52 86,7 56 93,3 Tủ gốc giữ ẩm ở thời kỳ kiến thiết cơ bản Có 27 45 23 38,3 Không 33 55 37 61,7 Vật liệu nào để ủ gốc Rơm rạ 18 30 16 26,7 Cỏ rác, thân lá ngô, đậu đỗ 9 15 7 11,7 Vườn tiêu có tưới đủ nước vào mùa khô không Có 59 98,3 59 98,3 Không 1 1,7 1 1,7 Số đợt tưới nước trong mùa khô hằng năm 1 Lần 0 0 0 0 2 lần 0 0 0 0 3 lần 1 1,7 1 1,7 > 3 lần 59 98,3 59 98,3 Cây hồ tiêu là loại cây trồng ưa sáng, do đó cần có những biện pháp kỹ thuật trồng xen cây che bóng thích hợp tùy thuộc vào giai đoạn phát triển của chúng. Tỉ lệ số hộ sử dụng cây che bóng tại 4 huyện của tỉnh Gia Lai là rất ít (<30%) KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT 25 S Ố 0 5 N Ă M 2 0 18và sử dụng cây muồng đen hoặc keo đậu là chủ yếu. Hồ tiêu ở thời kỳ kiến thiết cơ bản thường được trồng xen với các loại cây trồng ngắn ngày khác, vừa tăng thêm thu nhập, vừa che phủ đất hạn chế sự phát triển của cỏ dại, tuy nhiên điều này lại không được thực hiện tại các hộ được khảo sát cả trên mô hình tái canh và tái canh thất bại (>90%). Các hộ nông dân chú trọng vào việc làm bồn (>90%) để giữ nước vào mùa khô mà ít quan tâm đến làm rãnh thoát nước khi mùa mưa đến, điều này sẽ gây ngập úng bộ rễ, thối cổ rễ và cây sẽ chết. 100% hộ nông dân không gửi mẫu đất phân tích để được tư vấn sử dụng phân bón hợp lý, bón phân theo kinh nghiệm dẫn đến mất cân bằng tỉ lệ cation và anion trong thành phần đất. Đây cũng là nguyên nhân làm cho cây hồ tiêu phát triển kém và cho năng suất thấp. Đối với sâu bệnh hại, 2 bệnh ảnh hưởng lớn nhất tới quá trình chăm sóc cây hồ tiêu là bệnh chết nhanh và chết chậm (>80%). Ngoài ra còn 1 số loại sâu bệnh khác như rệp sáp hại rễ và một số bệnh trên lá cũng có ảnh hưởng nhưng không lớn. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không theo định kỳ mà chỉ xử lý khi cây đã có hiện tượng sâu bệnh (>85%) đã làm cho khả năng phòng và trị bệnh kém hiệu quả. 100% các hộ trồng tiêu không gửi mẫu đất phân tích bệnh trước tái canh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tùy tiện cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tái canh thất bại. 4. Kết luận Tỉnh Gia Lai có điều kiện tự nhiên và khí hậu rất thuận lợi cho việc phát triển cây hồ tiêu. Tuy nhiên tình trạng canh tác tự phát đã làm gia tăng diện tích hồ tiêu vượt quá quy hoạch của tỉnh dẫn đến tình trạng không kiểm soát được dịch bệnh trên cây hồ tiêu, diện tích hồ tiêu nhiễm bệnh và chết ngày càng gia tăng ở tất cả các huyện. Tỉ lệ thành công trong tái canh cây hồ tiêu đạt thấp, trong tổng số 120 hộ điều tra có 60 hộ tái canh thất bại, 60 hộ còn lại tuy vườn hồ tiêu ít có triệu chứng bệnh nhưng thời gian tái canh còn ngắn nên chưa thể đảm bảo chắc chắn tỉ lệ thành công. Hầu hết các hộ nông dân đều canh tác theo lối truyền thống và theo kinh nghiệm bản thân mà chưa có những thay đổi trong phương thức canh tác theo hướng nông nghiệp bền vững. Tái canh cây hồ tiêu thất bại do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó kỹ thuật canh tác, chế độ chăm sóc và giống hồ tiêu là các yếu tố đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trên 95% các hộ tiến hành tái canh là do trước đó vườn tiêu bị bệnh tuy nhiên 100% các hộ nông dân không gửi mẫu bệnh trước khi tái canh để xác định đối tượng gây bệnh mà tự ý sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật vừa gây ô nhiễm môi trường vừa không đem lại hiệu quả phòng trị bệnh. Trên 60% các hộ gia đình không xử lý đất trước khi trồng, sử dụng nguồn giống không đảm bảo chất lượng và cũng không tiến hành xử lý giống trước khi trồng. Bên cạnh đó những sai lầm trong việc sử dụng phân bón, sai lầm trong kỹ thuật chăm sóc như không làm rãnh thoát nước, không tủ gốc cho cây vào mùa khô, không có cây che bóng... cũng là những nguyên nhân dẫn đến tái canh thất bại./. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Báo cáo tổng kết Chi cục BVTV Gia Lai, 2016. 2. Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, 2017. 3. Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Chư Pưh, 2017. 4. Jahagirdar, S., Siddaramaiah, A.L. and Chandrappa, H.M., (2000). Ecofriendly integrated management of foot rot of black pepper (Piper nigrum). Mysore J. Agric. Sci.,,34 (1): 47-54. 5. Koshy P. K., Santhosh J. E., Rakesh P. (2005). Nematode parasites of spices, condiments and medicinal plants. In: Plant parasitic nematodes in Subtropical and Tropical agriculture, 2nd edition (M. Luc, R.A. Sikora, J. Bridge). CAB International, pp. 751 - 792. 6. Menon, K.K., (1949). Survey of pollu (hollow berry disease) and root diseases of pepper. Indian J. Agric. Sci., 19: 89-136 7. Muller. (1936). Palmivora var. piperis Muller in Indonesia, Vol . 69 , No. 3 ( May - Jun, 1977) , 631-637. 8. IPC- International Pepper Community. tại: http:// www.ipcnet.org/.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfthuc_trang_tai_canh_cay_ho_tieu_tren_dat_bi_nhiem_benh_o_gia.pdf
Tài liệu liên quan