Kết luận
Tỉnh Gia Lai có điều kiện tự nhiên và khí
hậu rất thuận lợi cho việc phát triển cây hồ tiêu.
Tuy nhiên tình trạng canh tác tự phát đã làm
gia tăng diện tích hồ tiêu vượt quá quy hoạch
của tỉnh dẫn đến tình trạng không kiểm soát
được dịch bệnh trên cây hồ tiêu, diện tích hồ
tiêu nhiễm bệnh và chết ngày càng gia tăng ở
tất cả các huyện.
Tỉ lệ thành công trong tái canh cây hồ tiêu
đạt thấp, trong tổng số 120 hộ điều tra có 60
hộ tái canh thất bại, 60 hộ còn lại tuy vườn hồ
tiêu ít có triệu chứng bệnh nhưng thời gian tái
canh còn ngắn nên chưa thể đảm bảo chắc
chắn tỉ lệ thành công.
Hầu hết các hộ nông dân đều canh tác theo
lối truyền thống và theo kinh nghiệm bản thân
mà chưa có những thay đổi trong phương thức
canh tác theo hướng nông nghiệp bền vững.
Tái canh cây hồ tiêu thất bại do nhiều
nguyên nhân khác nhau trong đó kỹ thuật canh
tác, chế độ chăm sóc và giống hồ tiêu là các yếu
tố đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trên 95%
các hộ tiến hành tái canh là do trước đó vườn
tiêu bị bệnh tuy nhiên 100% các hộ nông dân
không gửi mẫu bệnh trước khi tái canh để xác
định đối tượng gây bệnh mà tự ý sử dụng các
loại thuốc bảo vệ thực vật vừa gây ô nhiễm môi
trường vừa không đem lại hiệu quả phòng trị
bệnh. Trên 60% các hộ gia đình không xử lý đất
trước khi trồng, sử dụng nguồn giống không
đảm bảo chất lượng và cũng không tiến hành
xử lý giống trước khi trồng. Bên cạnh đó những
sai lầm trong việc sử dụng phân bón, sai lầm
trong kỹ thuật chăm sóc như không làm rãnh
thoát nước, không tủ gốc cho cây vào mùa khô,
không có cây che bóng. cũng là những nguyên
nhân dẫn đến tái canh thất bại.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng tái canh cây hồ tiêu trên đất bị nhiễm bệnh ở Gia Lai, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT20
T
Ạ
P
C
H
Í
K
H
O
A
H
Ọ
C
C
Ô
N
G
N
G
H
Ệ
V
À
M
Ô
I T
R
Ư
Ờ
N
G
1. Mở đầu
Tỉnh Gia Lai có điều kiện tự nhiên và khí
hậu rất thuận lợi cho việc phát triển cây hồ
tiêu. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tình
hình sản xuất tiêu trên địa bàn tỉnh Gia Lai gặp
nhiều khó khăn do dịch bệnh xuất hiện ngày
càng nhiều. Khả năng tái canh đạt hiệu quả rất
thấp vì sự tồn tại của mầm bệnh trong đất rất
cao, phương pháp xử lý mầm bệnh chưa đúng
kỹ thuật. Diện tích hồ tiêu được phát triển ồ ạt
không theo quy hoạch, khí hậu biến đổi thất
thường dẫn đến tình hình sâu bệnh hại trên cây
hồ tiêu xuất hiện ngày một nhiều và nghiêm
trọng hơn.
Đã có nhiều nghiên cứu xác định nguyên
nhân và các biện pháp phòng trừ sâu bệnh
hại trên cây hồ tiêu, đặc biệt là bệnh héo chết
nhanh và vàng lá chết chậm. Tuy nhiên, việc
phòng trừ bệnh hại cho cây hồ tiêu, đặc biệt
là các bệnh có nguồn gốc từ đất, cho đến nay
vẫn chưa mấy hiệu quả. Việc sử dụng các loại
thuốc hóa học để trị bệnh chỉ có hiệu quả trong
một thời gian ngắn, sau đó bệnh lại xuất hiện
Thực trạng tái canh cây hồ tiêu
trên đất bị nhiễm bệnh ở Gia Lai
NGÔ ĐĂNG DUYÊN1
NGUYỄN ĐẶNG TOÀN CHƯƠNG2
1. Trường Đại học Tây Nguyên
2. Sở Khoa học và Công nghệ Gia Lai
Hồ tiêu là một trong những loại cây trồng có diện tích lớn ở tỉnh Gia Lai. Tuy
nhiên, phát triển hồ tiêu tại Gia Lai hiện nay đang phải đối mặt với nhiều thách
thức, trong đó có vấn đề hồ tiêu tái canh bị chết hàng loạt do trồng trên đất đã
nhiễm bệnh. Kết quả điều tra thực trạng tái canh cây hồ tiêu trên 120 hộ gia đình
thuộc 4 huyện ở Gia Lai cho thấy tỉ lệ thành công trong tái canh cây hồ tiêu đạt
thấp, trong tổng số 120 hộ điều tra có 60 hộ tái canh thất bại, 60 hộ còn lại tuy
vườn hồ tiêu ít có triệu chứng bệnh nhưng thời gian tái canh còn ngắn nên chưa
thể đảm bảo chắc chắn tỉ lệ thành công. Trên 95% các hộ tiến hành tái canh là
do trước đó vườn tiêu bị bệnh, tuy nhiên 100% các hộ nông dân không gửi mẫu
đất và mẫu bệnh trước khi tái canh để xác định đối tượng gây bệnh mà tự ý sử
dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật. Trên 60% các hộ gia đình không xử lý đất
trước khi trồng, sử dụng nguồn giống không đảm bảo chất lượng và cũng không
tiến hành xử lý giống trước khi trồng. Những sai lầm trong việc sử dụng phân
bón, sai lầm trong kỹ thuật chăm sóc như không làm rãnh thoát nước, không
tủ gốc cho cây vào mùa khô, không có cây che bóng... cũng là những nguyên
nhân dẫn đến tái canh thất bại.
Từ khóa: hồ tiêu, tái canh, đất bị nhiễm bệnh
KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT 21
S
Ố
0
5
N
Ă
M
2
0
18và lây lan nếu không xử lý thuốc liên tục. Do đó,
cần điều tra để đánh giá phương pháp trồng
và chăm sóc cây hồ tiêu nhằm rút ra những
biện pháp tổng hợp giúp phát triển cây Hồ
tiêu bền vững.
2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu thực trạng tái canh cây
hồ tiêu trên đất bệnh
Điều tra, khảo sát và phỏng vấn các chủ hộ
trồng Hồ tiêu nhằm xác định mối quan hệ giữa
quá trình sử dụng đất, canh tác (sử dụng phân
bón, thuốc bảo vệ thực vật, tưới nước, giống
cây trồng...) với khả năng tái canh cây hồ tiêu
trên đất nhiễm bệnh.
2.2. Địa điểm điều tra và thu thập mẫu
Điều tra và thu thập mẫu tại các vườn hồ
tiêu tái canh tại 04 huyện trồng hồ tiêu của
Gia Lai.
- Huyện Chư Pưh: Điều tra tại 3 xã( Ia HRú,
Ia BLứ và thị trấn Nhơn Hòa)
- Huyện Chư Sê: Điều tra tại 3 xã (Ia BLang,
Ia Hlốp và Al Bá)
- Huyện Chư Prông: Điều tra tại 3 xã (Ia O,
Ia Boòng và thị trấn Chư Prông)
- Huyện Ia Grai: Điều tra tại 3 xã (Ia Krăi, Ia
Hrung và thị trấn Ia Kha)
2.3. Chỉ tiêu điều tra
Điều tra bằng hình thức phỏng vấn theo
nội dung ghi trong mẫu phiếu điều tra được
lập sẵn, bao gồm các chỉ tiêu:
- Tên chủ hộ; diện tích; năm trồng; loại giống.
- Tình trạng vườn hồ tiêu trước tái canh
(có bị bệnh hay không), thời gian bỏ hóa và
luân canh.
- Các phương pháp làm đất và xử lý đất
trước khi tái canh.
- Các kỹ thuật canh tác (phương pháp trồng,
bón phân, tưới nước, chăm sóc) khi tái canh.
- Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh trước
và sau khi tái canh.
- Tỷ lệ và mức độ bệnh vàng lá chết chậm,
bệnh chết nhanh, sâu bệnh hại khác.
- Tình trạng sử dụng cây che bóng, cây
trồng xen.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Thực trạng sản xuất cây hồ tiêu tại
Gia Lai
3.1.1. Thực trạng sản xuất cây hồ tiêu tại
huyện Chư Prông
Cây hồ tiêu sinh trưởng và phát triển tốt
trong điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của địa
phương; tuy nhiên, từ năm 2015 đến năm 2017
điều kiện thời tiết luôn biến động, không ổn
định đã ảnh hưởng nhiều đến tình hình sinh
trưởng và phát triển của cây hồ tiêu làm nhiều
diện tích bị nhiễm bệnh và chết. Tổng diện tích
hồ tiêu bị chết từ năm 2015 đến 2017 là 185,86
ha. Trong đó:
- Năm 2015: Diện tích tiêu chết là: 70,86 ha,
(nguyên nhân: Do hạn hán: 0 ha; do dịch bệnh:
63,36 ha; do già cỗi: 7,5 ha).
- Năm 2016: Diện tích tiêu chết là: 61,25 ha
(nguyên nhân: Do hạn hán: 15,68 ha; do dịch
bệnh: 35,37 ha; do già cỗi: 10,2 ha).
- Năm 2017: Diện tích tiêu chết là: 53,75 ha
(nguyên nhân: Do hạn hán: 0 ha; do dịch bệnh:
41,45 ha; do già cỗi: 12,3 ha).
Diện tích tiêu chết tập trung tại những
vùng có diện tích sản xuất tiêu lớn, người dân
chưa áp dụng tốt khoa học vào sản xuất, còn
lạm dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực
vật trong sản xuất.
Bảng 1. Tình hình sản xuất cây Hồ tiêu của
huyện Chư Prông
Năm
Các chỉ tiêu
Diện tích
hiện có (ha)
Trồng
mới
(ha)
Diện tích
cho sản
phẩm(ha)
NS trên
DT cho SP
(Tạ/ha)
Sản lượng
thu hoạch
(Tấn)
2014 2.840,0 90,0 2.350,0 38,5 9.047,5
2015 2.559,0 233,0 2.016,6 39,9 8.053,0
2016 2.539,0 100,0 2.191,0 40,2 8.807,8
2017 2.480,4 100,0 1.708,0 40,8 6.971,0
(Nguồn: báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, 2017)
KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT22
T
Ạ
P
C
H
Í
K
H
O
A
H
Ọ
C
C
Ô
N
G
N
G
H
Ệ
V
À
M
Ô
I T
R
Ư
Ờ
N
G Các giống tiêu được trồng phổ biến trên
địa bàn huyện: Giống tiêu Vĩnh Linh chiếm 80%
diện tích; giống tiêu Lộc Ninh chiến 15% diện
tích; còn 5% diện tích là một số giống tiêu địa
phương và tiêu nhập nội (Srilanka) được người
dân trồng thử nghiệm. Diện tích trồng bằng trụ
chết không có cây che bóng vẫn chiếm đa số
so với diện tích trồng bằng trụ sống và trụ chết
có cây che bóng.
3.1.2. Thực trạng sản xuất Hồ tiêu tại huyện
Chư Pưh
Tính đến cuối năm 2017, tổng diện tích
sản xuất hồ tiêu trên địa bàn huyện có 2.991,6
ha; trong đó: KTCB 434 ha, kinh doanh 2.454ha,
trồng mới 103,6ha (trồng tái canh lại trên đất
cũ 44,5ha.):
- Diện tích hồ tiêu phát triển ngoài quy
hoạch là: 122,7 ha.
- Diện tích hồ tiêu phát triển trong quy
hoạch: 2.868,9 ha.
- Năng suất bình quân năm 2017: 38,05
tạ/ha.
- Tổng sản lượng năm 2017: 9.336,8 tấn.
- Diện tích hồ tiêu già cỗi cần tái canh:
865,9 ha.
- Diện tích hồ tiêu trồng trên chân đất phù
hợp: 2.782,7 ha.
- Diện tích hồ tiêu trồng trên chân đất
không phù hợp: 208,9 ha.
- Diện tích hồ tiêu chuyển đổi sang trồng
cây ăn quả hoặc cây trồng khác có hiệu quả:
548,5 ha.
Vụ đông xuân năm 2015 - 2016, tình hình
khô hạn diễn ra gay gắt, kéo dài đã làm ảnh
hưởng và thiệt hại nghiêm trọng đến ngành
sản xuất hồ tiêu trên địa bàn huyện, nhiều diện
tích hồ tiêu bị ảnh hưởng khô hạn trong mùa
khô năm 2016 đã không còn khả năng phục
hồi sau hạn hán, nông dân phá bỏ để chuyển
cây trồng khác. Bên cạnh đó, do giá cả hồ tiêu
trong giai đoạn năm 2013-2016 luôn ổn định
ở mức cao nên người dân mạo hiểm dùng vốn
tích lũy được, vay vốn ngân hàng đầu tư trồng
mở rộng diện tích sản xuất trên những vùng
đất không phù hợp hoặc trồng tái canh ngay
trên diện tích hồ tiêu đã bị nhiễm bệnh, chết mà
không thực hiện qui trình luân canh cây trồng
khác trong 2-3 năm.
Theo tổng hợp thống kê từ công tác dự
báo, dự tính tình hình sâu bệnh hại hàng năm
của cơ quan chuyên môn huyện, từ năm 2014
đến cuối tháng 12/2017, diện tích hồ tiêu chết
do bệnh, già cỗi và bị hạn không thể phục hồi
lại được nông dân đã phá bỏ là 440,6 ha.
Diện tích tiêu của huyện qua các năm
- Tổng diện tích tiêu năm 2015, 2016, 2017
lần lượt là 2542ha; 2773,8ha và 2991,6ha.
Diện tích tiêu trồng mới qua các năm
- Tiêu trồng mới năm 2015: 707ha
- Tiêu trồng mới năm 2016: 231,8ha
- Tiêu trồng mới năm 2017: 103,6ha
3.1.3. Thực trạng sản xuất cây hồ tiêu tại
huyện Chư Sê
Diện tích trồng hồ tiêu trồng mới tăng
mạnh trong khoảng thời gian từ 2014-2015, tuy
nhiên do vấn đề sâu bệnh hại phức tạp làm ảnh
hưởng đến cây hồ tiêu nên tổng diện tích năm
2015 lại giảm 97 ha so với năm 2014.
Bảng 2. Diện tích, năng suất, sản lượng hồ
tiêu của huyện Chư Sê
Năm
Các chỉ tiêu
Diện tích
hiện có (ha)
Trồng
mới
(ha)
Diện tích cho
sản phẩm (ha)
NS trên DT
cho SP
(Tạ/ha)
Sản lượng
thu hoạch
(Tấn)
2014 3.847,0 20,0 3.223,0 35,3 11.377,9
2015 3.750,0 312,1 3.037,2 37,1 11.272,0
2016 3.749,0 154,0 3.136,0 39,8 12.481,3
2017 3.750,0 154,0 2.949,0 40,5 11.931,9
(Nguồn: Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Gia Lai)
Diện tích cho sản phẩm giảm, nguyên
nhân là do tiêu bị bệnh hại chết nhiều nên các
nông hộ phải tiến hành trồng mới nên chưa cho
thu hoạch. Nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật nên năng suất (tạ/ha) có sự tăng lên
rõ rệt. Từ đó sản lượng hồ tiêu của huyện Chư
Sê cũng tăng khá đáng kể tuy nhiên đến tháng
KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT 23
S
Ố
0
5
N
Ă
M
2
0
1812/2017 sản lượng thu hoạch giảm nguyên
nhân là do diện tích hồ tiêu cho thu hoạch giảm
so với năm 2016.
3.1.4. Thực trạng sản xuất hồ tiêu tại huyện
Ia Grai
Bảng 3. Diện tích, năng suất, sản lượng hồ
tiêu của huyện Ia Grai
Năm
Các chỉ tiêu
Diện tích
hiện có
(ha)
Trồng
mới
(ha)
Diện tích
cho sản
phẩm(ha)
NS trên DT
cho SP
(Tạ/ha)
Sản lượng
thu hoạch
(Tấn)
2014 472,4 78,0 216,0 34,3 740,9
2015 506,0 115,0 246,0 33,7 830,0
2016 506,4 115,0 300,0 39,2 1.176,0
2017 532,6 71,2 461,4 30,0 1.384,2
Diện tích trồng hồ tiêu trên địa bàn huyện
tăng dần qua các năm, tính đến năm 2017 diện
tích hồ tiêu cho sản phẩm đạt 461,4 ha; chiếm
86,63% tổng diện tích hồ tiêu của huyện. Tuy
nhiên, năng suất hồ tiêu không dược duy trì ổn
định qua các năm mà có khuynh hướng tăng
giảm thất thường, nguyên nhân một phần là
do tình hình thời tiết các năm biến động nhiều
đã tác động đến cây hồ tiêu. Bên cạnh đó còn
phải kể đến các nguyên nhân khác như chế độ
canh tác, chăm sóc, phân bón...
3.2. Nghiên cứu thực trạng tái canh cây
hồ tiêu trên đất bệnh
Quá trình điều tra được thực hiện tại 04
huyện: Huyện Chư Sê (xã Al Bá, xã Ia Blang và
xã Ia Hlốp); huyện Chư Pưh( xã Ia Blứ, thị trấn
Nhơn hòa và xã Ia Hrú); huyện Chư Prông (xã Ia
Bloòng, xã Ia O và thị trấn Chư Prông) và huyện
Ia Grai ( xã Ia Krai, xã Ia Hrung và thị trấn Ia Kha).
Kết quả phỏng vấn điều tra 120 hộ gia đình
trồng hồ tiêu tại 12 xã của 4 huyện trên địa bàn
tỉnh Gia Lai, trong đó có 60 hộ tái canh hồ tiêu
và 60 hộ tái canh hồ tiêu thất bại nhận thấy đa
phần gia đình trồng tiêu tại đây là thuần nông,
diện tích canh tác từ 0,25 hecta đến 1 hecta.
Mật độ trồng khá đồng nhất và phổ biến trong
khoảng 1.100 trụ/hecta đến 1.300 trụ/hecta.
Đồ thị 1: Phân bố giới tính, dân tộc và nghề nghiệp của
các hộ được điều tra
Nhân lực trồng hồ tiêu đa phần là nam giới
(chiếm > 85%), trong đó đa phần là người Kinh,
người đồng bào Jrai chỉ có 3 hộ trong 120 hộ
được điều tra, các hộ đều là nông dân với thu
nhập chính từ canh tác nông nghiệp, ngoại trừ
5 hộ là công chức, viên chức nhà nước. Điều này
cho thấy tái canh thành công hay thất bại cây
hồ tiêu ảnh hưởng sâu sắc đến thu nhập và đời
sống của mỗi người dân nơi đây.
Có 3 loại trụ được sử dụng để trồng hồ tiêu
bao gồm trụ cây sống, trụ gỗ và trụ bê tông,
trong đó chủ yếu là sử dụng trụ bê tông (>50
%). Tuy nhiên, trụ bê tông không thấm nước
nên khi thời tiết nắng nóng nhiệt độ trụ cao
gây ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh trưởng
của cây, độ ẩm tại các gốc tiêu dùng trụ bê tông
thấp do đó mật độ vi sinh vật thấp. Vì vậy cần
làm giàn che cho hồ tiêu trồng mới và cần phủ
gốc giữ ẩm cho cây vào mùa khô. Theo kết quả
điều tra cho thấy có tới 62,5% các vườn không
tủ gốc giữ ẩm cho cây vào mùa khô, đây là một
trong những nguyên nhân gây chết hồ tiêu.
Nền đất sử dụng trồng hồ tiêu là loại đất
đỏ bazan với khả năng thoát nước tốt. Kết quả
so sánh tình hình vườn cây trước khi tái canh
cho thấy hầu hết các vườn tiêu trước tái canh
đã bị nhiễm bệnh, những hộ nông dân tái canh
thất bại có tỉ lệ cây nhiễm bệnh là rất cao so
với những hộ tái canh thành công (tỉ lệ nhiễm
bệnh >20% chiếm 70% ở hộ tái canh thất bại
so với 35% ở hộ tái canh thành công). Như vậy,
nguồn bệnh tồn tại trong đất là một trong
những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự
thành công hay thất bại của điều kiện tái canh
cây Hồ tiêu.
KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT24
T
Ạ
P
C
H
Í
K
H
O
A
H
Ọ
C
C
Ô
N
G
N
G
H
Ệ
V
À
M
Ô
I T
R
Ư
Ờ
N
G Bảng 4. Các biện pháp kỹ thuật được áp
dụng khi tái canh cây hồ tiêu
Chỉ tiêu điều tra
Tái canh Tái canh thất bại
Số
lượng
Tỉ lệ
(%)
Số
lượng
Tỉ lệ
(%)
Phân tích mẫu bệnh sau khi canh tác
Có 2 3,3 0 0
Không 58 96,7 60 100
Lí do thực hiện tái canh Hồ tiêu
Già cỗi 3 5 1 1,7
Bị bệnh (chết nhanh,
chết chậm...) 57 95 59 98,3
Phương pháp tái canh
Trồng mới 100% 48 80 53 88,3
Trồng mới 50% 8 13,3 5 8,3
Trồng dặm 4 6,7 2 3,3
Cày đất, nhặt rễ trước khi tái canh hồ tiêu
Có 26 43,3 18 30
Không 34 56,7 42 70
Đào hố trước khi trồng
Có 51 85 55 91,7
Không 9 15 5 8,3
Xử lý hố trước khi trồng
Có 13 21,7 6 10
Không 47 78,3 54 90
Phương pháp xử lí
Tưới vào hố 5 8,3 2 3,3
Rải vào hố 8 13,3 4 6,7
Sử dụng loại thuốc
Thuốc hóa học 7 11,7 5 8,3
Thuốc sinh học 6 10 1 1,7
Sử dụng phân hữu cơ
Phân chuồng 56 93,3 56 93,3
Phân vi sinh 34 56,7 37 61,7
Sử dụng phân vô cơ
Vôi 55 91,7 50 83,3
Lân 14 23,3 16 26,7
Đại đa số các hộ trồng hồ tiêu trong diện
được điều tra tiến hành tái canh là do vườn cây
hồ tiêu bị bệnh (>95%), phương pháp tái canh
chủ yếu trồng mới hoàn toàn (>80%) và không
tiến hành phân tích mẫu bệnh sau khi canh tác
(>96%). Phương pháp trồng đại đa số vẫn theo
lối truyền thống cũ là đào hố sâu và bón lót
bằng phân chuồng và phân hữu cơ vi sinh. Tuy
nhiên sự khác biệt ở các hộ tái canh và tái canh
thất bại ở các phương pháp như cày đất, nhặt rễ
trước khi tái canh hồ tiêu và xử lý hố trước khi
trồng. Ở các hộ tái canh thất bại, 70% hộ trồng
hồ tiêu không phơi ải đất và không loại bỏ các
rễ tàn dư chứa mầm bệnh, ngoài ra số lượng hộ
xử lý đất trước khi trồng chỉ chiếm 10% trong
khi các hộ được xem là tái canh thành công có
xử lý đất và loại bỏ rễ bệnh (43,3% so với 30%)
đồng thời có xử lý hố trước khi trồng (21,7% so
với 10%). Kết quả điều tra này cho thấy phương
pháp xử lý đất sau khi vườn cây bị bệnh và trước
khi xuống giống hết sức quan trọng, ảnh hưởng
đến thành công hay thất bại đến khả năng tái
canh cây Hồ tiêu.
Ngoài yếu tố xử lý đất trước khi trồng,
nguồn giống sử dụng cũng đóng vai trò rất
quan trọng trong quy trình tái canh cây hồ
tiêu. Kết quả điều tra cho thấy về nguồn gốc
giống: Phần lớn các hộ nông dân tự sản xuất
giống hoặc mua giống ngoài thị trường tự do
hoặc sử dụng cả 2 nguồn trên. Đây là yếu tố rủi
ro rất cao về chất lượng giống, nếu mua phải
giống tiêu có chất lượng kém, mang sẵn mầm
bệnh sẽ làm cho nguy cơ tái canh thất bại rất
cao. Mặt khác, khâu kiểm tra chất lượng giống
không được quan tâm, trên 95% hộ nông dân
được hỏi bỏ qua khâu kiểm tra mầm bệnh cây
giống bằng kỹ thuật phân tích mà chỉ đánh giá
bằng giác quan bên ngoài, do đó nguy cơ giống
chứa mầm bệnh nội sinh là rất cao. Hơn nữa,
gần 100% hộ nông dân được hỏi đều không
xử lí nấm bệnh và tuyến trùng cho cây giống
trước khi trồng.
Bảng 5. Những vấn đề liên quan đến che
bóng, giữ ẩm và chế độ tưới trong tái canh cây
hồ tiêu của người dân
Chỉ tiêu điều tra
Tái canh Tái canh thất bại
Số
lượng
Tỉ lệ
(%)
Số
lượng Tỉ lệ (%)
Cây che bóng
Có 14 23,3 17 28,3
Không 46 76,6 43 71,7
Loại cây che bóng
Muồng đen 3 5 6 10
Keo dậu 10 16,7 10 16,7
Cây ăn quả 1 1,7 1 1,7
Trồng xen thời kỳ kiến
thiết cơ bản
Có 2 3,3 4 6,7
Không 58 96,7 56 93,3
Làm bồn
Có 58 96,7 2 93,3
Không 56 3,3 4 6,7
Làm rãnh thoát nước
Có 8 13,3 4 6,7
Không 52 86,7 56 93,3
Tủ gốc giữ ẩm ở thời kỳ
kiến thiết cơ bản
Có 27 45 23 38,3
Không 33 55 37 61,7
Vật liệu nào để ủ gốc
Rơm rạ 18 30 16 26,7
Cỏ rác, thân lá
ngô, đậu đỗ 9 15 7 11,7
Vườn tiêu có tưới đủ nước
vào mùa khô không
Có 59 98,3 59 98,3
Không 1 1,7 1 1,7
Số đợt tưới nước trong
mùa khô hằng năm
1 Lần 0 0 0 0
2 lần 0 0 0 0
3 lần 1 1,7 1 1,7
> 3 lần 59 98,3 59 98,3
Cây hồ tiêu là loại cây trồng ưa sáng, do
đó cần có những biện pháp kỹ thuật trồng xen
cây che bóng thích hợp tùy thuộc vào giai đoạn
phát triển của chúng. Tỉ lệ số hộ sử dụng cây che
bóng tại 4 huyện của tỉnh Gia Lai là rất ít (<30%)
KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT 25
S
Ố
0
5
N
Ă
M
2
0
18và sử dụng cây muồng đen hoặc keo đậu là chủ
yếu. Hồ tiêu ở thời kỳ kiến thiết cơ bản thường
được trồng xen với các loại cây trồng ngắn ngày
khác, vừa tăng thêm thu nhập, vừa che phủ đất
hạn chế sự phát triển của cỏ dại, tuy nhiên điều
này lại không được thực hiện tại các hộ được
khảo sát cả trên mô hình tái canh và tái canh
thất bại (>90%).
Các hộ nông dân chú trọng vào việc làm
bồn (>90%) để giữ nước vào mùa khô mà ít
quan tâm đến làm rãnh thoát nước khi mùa
mưa đến, điều này sẽ gây ngập úng bộ rễ, thối
cổ rễ và cây sẽ chết. 100% hộ nông dân không
gửi mẫu đất phân tích để được tư vấn sử dụng
phân bón hợp lý, bón phân theo kinh nghiệm
dẫn đến mất cân bằng tỉ lệ cation và anion
trong thành phần đất. Đây cũng là nguyên
nhân làm cho cây hồ tiêu phát triển kém và cho
năng suất thấp.
Đối với sâu bệnh hại, 2 bệnh ảnh hưởng lớn
nhất tới quá trình chăm sóc cây hồ tiêu là bệnh
chết nhanh và chết chậm (>80%). Ngoài ra còn
1 số loại sâu bệnh khác như rệp sáp hại rễ và
một số bệnh trên lá cũng có ảnh hưởng nhưng
không lớn. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
không theo định kỳ mà chỉ xử lý khi cây đã có
hiện tượng sâu bệnh (>85%) đã làm cho khả
năng phòng và trị bệnh kém hiệu quả. 100%
các hộ trồng tiêu không gửi mẫu đất phân tích
bệnh trước tái canh, sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật tùy tiện cũng là một trong những nguyên
nhân dẫn đến tái canh thất bại.
4. Kết luận
Tỉnh Gia Lai có điều kiện tự nhiên và khí
hậu rất thuận lợi cho việc phát triển cây hồ tiêu.
Tuy nhiên tình trạng canh tác tự phát đã làm
gia tăng diện tích hồ tiêu vượt quá quy hoạch
của tỉnh dẫn đến tình trạng không kiểm soát
được dịch bệnh trên cây hồ tiêu, diện tích hồ
tiêu nhiễm bệnh và chết ngày càng gia tăng ở
tất cả các huyện.
Tỉ lệ thành công trong tái canh cây hồ tiêu
đạt thấp, trong tổng số 120 hộ điều tra có 60
hộ tái canh thất bại, 60 hộ còn lại tuy vườn hồ
tiêu ít có triệu chứng bệnh nhưng thời gian tái
canh còn ngắn nên chưa thể đảm bảo chắc
chắn tỉ lệ thành công.
Hầu hết các hộ nông dân đều canh tác theo
lối truyền thống và theo kinh nghiệm bản thân
mà chưa có những thay đổi trong phương thức
canh tác theo hướng nông nghiệp bền vững.
Tái canh cây hồ tiêu thất bại do nhiều
nguyên nhân khác nhau trong đó kỹ thuật canh
tác, chế độ chăm sóc và giống hồ tiêu là các yếu
tố đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trên 95%
các hộ tiến hành tái canh là do trước đó vườn
tiêu bị bệnh tuy nhiên 100% các hộ nông dân
không gửi mẫu bệnh trước khi tái canh để xác
định đối tượng gây bệnh mà tự ý sử dụng các
loại thuốc bảo vệ thực vật vừa gây ô nhiễm môi
trường vừa không đem lại hiệu quả phòng trị
bệnh. Trên 60% các hộ gia đình không xử lý đất
trước khi trồng, sử dụng nguồn giống không
đảm bảo chất lượng và cũng không tiến hành
xử lý giống trước khi trồng. Bên cạnh đó những
sai lầm trong việc sử dụng phân bón, sai lầm
trong kỹ thuật chăm sóc như không làm rãnh
thoát nước, không tủ gốc cho cây vào mùa khô,
không có cây che bóng... cũng là những nguyên
nhân dẫn đến tái canh thất bại./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo tổng kết Chi cục BVTV Gia Lai, 2016.
2. Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Chư Prông, 2017.
3. Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Chư Pưh, 2017.
4. Jahagirdar, S., Siddaramaiah, A.L. and Chandrappa,
H.M., (2000). Ecofriendly integrated management of foot rot
of black pepper (Piper nigrum). Mysore J. Agric. Sci.,,34 (1): 47-54.
5. Koshy P. K., Santhosh J. E., Rakesh P. (2005). Nematode
parasites of spices, condiments and medicinal plants. In: Plant
parasitic nematodes in Subtropical and Tropical agriculture, 2nd
edition (M. Luc, R.A. Sikora, J. Bridge). CAB International, pp.
751 - 792.
6. Menon, K.K., (1949). Survey of pollu (hollow berry
disease) and root diseases of pepper. Indian J. Agric. Sci., 19:
89-136
7. Muller. (1936). Palmivora var. piperis Muller in Indonesia,
Vol . 69 , No. 3 ( May - Jun, 1977) , 631-637.
8. IPC- International Pepper Community. tại: http://
www.ipcnet.org/.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
thuc_trang_tai_canh_cay_ho_tieu_tren_dat_bi_nhiem_benh_o_gia.pdf