KHUYẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY
MẠNH ỨNG DỤNG CNC TRONG CÁC HỢP
TÁC XÃ
Thứ nhất, cần có chính sách hỗ trợ, tạo
hành lang pháp lý cho các hoạt động thuê đất,
góp đất với quy mô và thời gian đủ lớn giữa
HTX và hộ nông dân để đảm bảo lợi ích hài hòa
bền vững cho cả hai bên. Chính quyền địa
phương cần đứng ra làm trung gian kết nối
người dân và HTX nhằm hỗ trợ cho các giao dịch
thuê mượn đất được đơn giản, thuận lợi.
Thứ hai, các huyện cần rà soát quỹ đất để
hỗ trợ bố trí trụ sở làm việc cho các HTX. Cần
sớm ban hành các quy định về công nhận giá trị
tài sản (nhà lưới, nhà màng, chuồng trại, hệ
thống tưới tiêu.) trên đất nông nghiệp để HTX
có cơ sở vay vốn. Xem xét mở rộng và nới các
tiêu chuẩn cho vay để các HTX tiếp cận được
nguồn vốn vay ưu đãi từ ngân hàng.
Thứ ba, dự báo về nhu cầu thị trường đối
với sản phẩm nông nghiệp, nhất là sản
phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao làm
cơ sở định hướng phát triển nông nghiệp công
nghệ cao trên địa bàn. Tăng cường sự phối hợp
chặt chẽ giữa các sở, ngành, Liên minh
HTX, trong việc hỗ trợ HTX tham gia hội chợ,
tham gia chương trình xúc tiến thương mại để
tìm kiếm cơ hội liên kết tiêu thụ sản phẩm ứng
dụng CNC Tăng cường kiểm tra phát hiện, xử
lý các hàng hóa nông sản bị làm giả, làm nhái
các nông sản ứng dụng công nghệ cao.
Thứ tư, nâng cao năng lực cán bộ quản lý
HTX. Ngoài các lớp tập huấn về quản trị HTX,
với các nội dung chính là kiến thức kỹ năng
quản lý, phổ biến chủ trương, chính sách hỗ trợ
của Nhà nước trong phát triển kinh tế tập thể,
cần bổ sung các lớp tấp huận về kiến thức nông
nghiệp CNC, nông nghiệp hữu cơ, cũng như các
kỹ năng phân tích kinh doanh và thị trường.
Tập huấn chuyển giao công nghệ sản xuất nông
nghiệp CNC giúp các HTX tiếp cận và đầu tư
làm nông nghiệp CNC rộng rãi.
Thứ năm, đẩy mạnh các hoạt động nghiên
cứu ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học
kỹ thuật, cơ giới hóa, tự động hóa các khâu
trong quá trình sản xuất; tập trung ứng dụng
các tiến bộ về giống, các quy trình sản xuất tiên
tiến, công nghệ sạch, hữu cơ, các chế phẩm sinh
học, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; ứng
dụng công nghệ thông tin trong chuyển giao kỹ
thuật, quản lý sản xuất nông nghiệp CNC.
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng ứng dụng công nghệ cao của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No. 9: 757-766 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(9): 757-766
www.vnua.edu.vn
757
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
Nguyễn Thị Thu Phương1*, Trần Mạnh Hải1, Quyền Đình Hà1, Đỗ Thị Nhài1, Nguyễn Thị Nhung1,2
1Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Giang
*Tác giả liên hệ: nttphuong1979@vnua.edu.vn
Ngày nhận bài: 12.06.2020 Ngày chấp nhận đăng: 15.07.2020
TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ cao của các hợp tác xã nông nghiệp
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Số liệu sơ cấp được thu thập từ việc phỏng vấn 35 hợp tác xã nông nghiệp đã ứng dụng
công nghệ cao, 5 hợp tác xã nông nghiệp chưa ứng dụng công nghệ cao, và 05 doanh nghiệp có giao dịch thường
xuyên với các hợp tác xã. Kết quả nghiên cứu cho thấy ứng dụng công nghệ cao đã giúp các hợp tác xã nông
nghiệp cải thiện đáng kể hiệu quả sản xuất kinh doanh nhờ chủ động hơn trong sản xuất, giảm chi phí vật tư nông
nghiệp đầu vào và nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, quy mô ứng dụng công nghệ cao của các
hợp tác xã nông nghiệp vẫn nhỏ lẻ, phân tán, công nghệ cao chủ yếu mới được áp dụng ở một số khâu trong quá
trình sản xuất và trong lĩnh vực trồng trọt do yêu cầu về vốn đầu tư vào công nghệ cao thấp hơn và những hạn chế
khác về nguồn lực của hợp tác xã cũng như một số rào cản chính sách. Từ đó, nghiên cứu đã đề xuất một số
khuyến nghị nhằm thúc đẩy các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp
hiệu quả hơn.
Từ khóa: Hợp tác xã nông nghiệp, công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao, Bắc Giang.
High Technology Application by Agricultural Cooperatives in Bac Giang Province
ABSTRACT
This study aimed to assess the situation of the high technology application by agricultural cooperatives in Bac
Giang province. Data was collected from interviewing a total of 35 agricultural cooperatives have applied high
technology, while 05 others have not applied yet, and 05 enterprises that have had frequent transactions with the
cooperatives. The results showed that high technology application helped agricultural cooperatives significantly
improve production efficiency, being more proactive in production, reducing agricultural input costs, and improving
productivity and product quality. However, the scale of high technology application by agricultural cooperatives was
still small, scattered. High technology was mainly applied in some stages in the production process and the crop
sector due to lower capital requirements for high technology and other resource limitations of agricultural
cooperatives as well as constraints on policies. Therefore, the study has proposed a number of recommendations to
promote agricultural cooperatives to apply high technology in agriculture more efficiently.
Keywords: Agricultural cooperatives, high technology, high technology agriculture, Bac Giang.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) là xu
hướng tất yếu nhằm phát triển nền nông nghiệp
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thích
ứng với biến đổi khí hậu và cách mạng công
nghiệp 4.0 (Trần Duy Quý, 2018). Tại Việt Nam,
thuật ngữ “nông nghiệp công nghệ cao” được
hiểu là nền nông nghiệp ứng dụng hợp lý những
công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: cơ giới
hóa các khâu của quá trình sản xuất, tự động
hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu
mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng,
giống vật nuôi... nhằm tạo ra các sản phẩm có
Thực trạng ứng dụng công nghệ cao của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
758
năng suất, chất lượng cao, an toàn và hiệu quả
(Nguyễn Bạch Nguyệt & Hoàng Thị Thu Hà,
2018). Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 1895/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình
phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
thuộc Chương trình quốc gia phát triển công
nghệ cao đến năm 2020 nhằm thúc đẩy phát
triển NNCNC, xây dựng nền nông nghiệp theo
hướng hiện đại, có năng suất, chất lượng, hiệu
quả và sức cạnh tranh cao.
Thực hiện Quyết định trên, tỉnh Bắc Giang
đã và đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao
(CNC) vào sản xuất nông nghiệp. Năm 2016,
tỉnh đã có Nghị quyết số 130-NQ/TU về chuyển
dịch kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ cao vào sản xuất. Sau 5 năm thực
hiện, toàn tỉnh hiện có 716 mô hình nông
nghiệp ứng dụng CNC, thực hiện liên kết tiêu
thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị (UBND tỉnh
Bắc Giang, 2019). Đến cuối năm 2019, tỉnh Bắc
Giang đã có 43 hợp tác xã nông nghiệp
(HTXNN) ứng dụng công nghệ cao, chiếm gần
10% tổng số HTXNN toàn tỉnh (Sở NN&PTNT
tỉnh Bắc Giang, 2019).
Tuy nhiên, các mô hình HTX ứng dụng
CNC trong sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ,
phân tán, tỷ lệ áp dụng chưa cao và chưa đồng
bộ. Hầu hết các HTX mới chỉ ứng dụng CNC
trong một khâu hoặc một vài công đoạn sản
xuất. Bên cạnh đó, các HTX đang gặp nhiều
thách thức như thiếu vốn, thiếu quỹ đất để
ứng dụng CNC vào sản xuất, thiếu thông tin
thị trường...
Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá
thực trạng ứng dụng CNC trong các HTXNN,
xác định các rào cản, từ đó khuyến nghị một số
giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển HTXNN
ứng dụng CNC trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ các
báo cáo của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, Liên minh HTX, Chi cục
Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang về ứng
dụng công nghệ cao trong các HTXNN.
Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập thông
qua khảo sát các HTXNN trên địa bàn, sử dụng
phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản.
Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn trực tiếp dựa
trên bảng hỏi cấu trúc và bán cấu trúc tại 35/43
HTXNN ứng dụng CNC (29 HTX trồng trọt, 6
HTX chăn nuôi) và khảo sát 9 HTXNN chuyên
ngành chưa ứng dụng công nghệ cao (6 HTX
trồng trọt, 3 HTX chăn nuôi), có quy mô về đất
đai tương đương với các HTXNN ứng dụng
CNC. Các thông tin định tính bổ sung được thu
thập thông qua phỏng vấn sâu 5 doanh nghiệp
có liên kết với các HTXNN ứng dụng CNC, tham
vấn ý kiến 5 lãnh đạo Chi cục Phát triển nông
thôn, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật,
Liên minh HTX tỉnh.
Các số liệu thu thập được kiểm tra, tổng
hợp và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.
Phương pháp cơ bản để phân tích là phương
pháp thống kê mô tả, sử dụng tần suất, số trung
bình, độ lệch chuẩn bình quân.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thực trạng ứng dụng công nghệ cao
của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang
3.1.1. Số lượng hợp tác xã, lĩnh vực hoạt
động và loại công nghệ cao đang ứng dụng
tại các hợp tác xã nông nghiệp
Số lượng HTXNN ứng dụng CNC ở tỉnh Bắc
Giang có sự gia tăng trong những năm gần đây.
Nếu năm 2017, toàn tỉnh mới chỉ có 23 HTX thì
đến năm 2019 đã có 43 HTXNN ứng dụng CNC.
Các HTXNN ứng dụng CNC phân bố rải rác
trên địa bàn tỉnh. Các huyện tập trung nhiều
HTXNN ứng dụng CNC là Yên Dũng, Việt Yên,
Lục Ngạn, Yên Thế và Thành phố Bắc Giang.
Sự phân bố này tương đồng với quy hoạch vùng
NN CNC của tỉnh Bắc Giang được phê duyệt
theo Quyết định số 439/QĐ-UBND ngày
27/7/2017. Trong số các HTXNN ứng dụng CNC,
có 67,4% HTXNN ứng dụng CNC trong lĩnh vực
trồng trọt, 14,0% lĩnh vực chăn nuôi, 18,6%
HTXNN tổng hợp.
Nguyễn Thị Thu Phương, Trần Mạnh Hải, Quyền Đình Hà, Đỗ Thị Nhài, Nguyễn Thị Nhung
759
Xét về khâu ứng dụng CNC, trong số 43
HTXNN ứng dụng CNC có 82% HTXNN ứng
dụng CNC trong khâu sản xuất, chủ yếu là kỹ
thuật canh tác, nuôi trồng, với 46,5% CNC đang
được sử dụng là nhà màng, nhà lưới, 62,8% sử
dụng công nghệ tưới tự động. Tỷ lệ HTX ứng
dụng các công nghệ hiện đại như hệ thống cảm
biến độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng, hệ thống bón
phân tự động còn rất thấp, chỉ chiếm dưới 7%.
Trong chăn nuôi, các công nghệ cao sử dụng phổ
biến gồm hệ thống chuồng khép kín, hệ thống
làm mát, máng ăn, máng uống tự động, quạt
hút gió, bể biogas, đệm lót sinh học chiếm 14%
số HTXNN ứng dụng CNC.
Trong khâu bảo quản và chế biến, số lượng
HTXNN ứng dụng CNC còn hạn chế, chiếm
37%, chủ yếu là kho lạnh trong bảo quản, chỉ có
5 HTX (chiếm 11%) đầu tư vào khâu chế biến.
Các sản phẩm chế biến của HTX khá đa dạng
gồm thịt tươi đóng gói hút chân không, cấp
đông, các sản phẩm giò chả, thịt hun khói, lạp
xưởng Khoảng 30% HTX đã ứng dụng QR code
cho phép truy xuất nguồn gốc của sản phẩm; đã
có một số HTX như HTX Rau sạch Yên Dũng,
HTX Nông nghiệp xanh Yên Thế đã ứng dụng
công nghệ Blockchain trong truy xuất nguồn
gốc, xác định trạng thái của sản phẩm và kiểm
soát quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Bảng 1. Loại hình HTX nông nghiệp ứng dụng CNC trên địa bàn tỉnh
Loại hình HTX Số lượng HTX ứng dụng CNC (n = 43) Tỷ lệ (%)
Theo lĩnh vực
Trồng trọt 29 67,4
Chăn nuôi 6 14,0
Tổng hợp 8 18,6
Theo khâu ứng dụng
Sản xuất 35 81,4
Bảo quản và chế biến 16 37,2
Tiêu thụ 14 32,6
Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Giang (2019).
Bảng 2. Công nghệ cao được ứng dụng trong các HTX nông nghiệp
Loại công nghệ cao Số lượng HTX ứng dụng Tỷ lệ ứng dụng (%)
Sản xuất
Nhà màng, nhà lưới 20 46,5
Tưới tự động (nhỏ giọt, phun) 27 62,8
Sản xuất thủy canh 4 9,3
Hệ thống cảm biến độ ẩm, nhiệt độ; Bón phân tự động 3 7,0
Chuồng trại khép kín, làm mát, máng ăn uống tự động, xử lý chất thải 6 14,0
Bảo quản và chế biến
Kho lạnh 16 37,2
Hệ thống giết mổ đạt chuẩn, sản phẩm hút chân không 4 9,3
Dây chuyền chế biến 5 11,6
Tiêu thụ
QR code 12 27,9
Blockchain 2 4,7
Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Giang (2019)
Thực trạng ứng dụng công nghệ cao của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
760
3.1.2. Quy mô của các hợp tác xã nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao
Khác với các HTXNN truyền thống, có số
thành viên trung bình 527 thành viên/HTX (Bộ
NN&PTNT, 2019), các HTXNN ứng dụng CNC
có số lượng thành viên ít hơn, nhiều HTX chỉ có
7-8 thành viên. Tại tỉnh Bắc Giang, trung bình
các HTXNN ứng dụng CNC trong trồng trọt có
14,7 thành viên, trong chăn nuôi có 15 thành
viên/HTX.
Trong các HTX được khảo sát, có 97% HTX
góp vốn điều lệ bằng tiền mặt, có 3% góp vốn
điều lệ bằng đất sản xuất. Về mức góp vốn,
trong khi vốn điều lệ bình quân của HTXNN
truyền thống cả nước là 566 triệu đồng, trung
bình 1 thành viên góp 1,1 triệu đồng (Hoàng Vũ
Quang & cs., 2015), các HTXNN ứng dụng CNC
có vốn điều lệ khá cao, trung bình các HTX
trồng trọt có vốn điều lệ trên 1,6 tỷ đồng, các
HTX chăn nuôi là 2 tỉ đồng/HTX. Mức góp vốn
điều lệ bình quân/thành viên của HTX trong
lĩnh vực trồng trọt là 110,1 triệu đồng và trong
chăn nuôi là 138 triệu đồng/thành viên. Cá biệt,
HTX quy mô lớn như HTX Rau sạch Yên Dũng,
HTX Chăn nuôi Tín nhiệm, HTX Lúa vàng,... có
vốn góp/thành viên ở mức trên 1 tỷ đồng/người.
Hầu hết các HTX ứng dụng CNC có cơ chế góp
vốn không bằng nhau giữa các thành viên, điều
này cho phép huy động được nhiều vốn góp từ
thành viên hơn. Diện tích ứng dụng CNC của
HTX còn khá nhỏ, trung bình các HTX trồng
trọt diện tích ứng dụng 2.000-3.000 m2/HTX.
Về quy mô vốn đầu tư ứng dụng CNC, các
HTX trồng trọt có quy mô vốn đầu tư vào CNC
trung bình 1.251,2 triệu đồng/HTX, các HTX
chăn nuôi là 8.617,5 triệu đồng/HTX. Điều đó
phản ánh quy mô nhỏ lẻ trong đầu tư vào CNC
của các HTX trong tỉnh.
3.1.3. Lựa chọn công nghệ cao của các HTX
Các HTX nông nghiệp đã được hỏi về những
tiêu chí dựa vào để HTX đưa ra quyết định lựa
chọn và ứng dụng CNC, đồng thời xếp hạng
những tiêu chí này theo mức độ ưu tiên của
HTX. Kết quả cho thấy, tiêu chí quan trọng
nhất đối với HTX khi lựa chọn CNC đó là CNC
giúp cải thiện rõ năng suất, chất lượng và mẫu
mã của nông sản. Đây là yêu cầu cốt lõi để gia
tăng giá trị của nông sản ứng dụng CNC so với
nông sản cùng loại nhằm đáp ứng yêu cầu ngày
càng cao của thị trường. Cùng với đó, tiêu chí về
giảm chi phí đầu vào cũng được các HTX ưu tiên
hàng đầu, như giảm chi phí về nước tưới, phân
bón, thuốc bảo vệ thực vật và công lao động. Hai
tiêu chí đầu tiên này nhằm bảo đảm HTX có thể
thu được lợi nhuận từ việc đầu tư CNC. Tuy
nhiên, việc lựa chọn CNC bị ràng buộc bởi các
điều kiện nguồn lực của HTX nên tiêu chí quan
trọng tiếp theo mà các HTX cân nhắc đó là CNC
cần phù hợp với điều kiện về vốn, đất đai và lao
động của HTX. Tiêu chí “có thể thử nghiệm trên
quy mô nhỏ” có mức ưu tiên thấp vì theo các
HTX họ có thể tham khảo, học từ các mô hình
đã ứng dụng CNC trên địa bàn. Cũng như vậy,
tiêu chí “không quá rủi ro khi ứng dụng” cũng
không phải là tiêu chí quan trọng vì theo lý giải
từ các HTX họ đã dự liệu các rủi ro có thể phát
sinh và chấp nhận khi đầu tư. Hơn nữa theo các
HTX, ngoài rủi ro thị trường, các rủi ro khác
(thời tiết, dịch bệnh) có thể quản lý tốt hơn nhờ
ứng dụng CNC (Hình 1).
Bảng 3. Quy mô trung bình của HTX nông nghiệp ứng dụng CNC
Chỉ tiêu ĐVT HTX trồng trọt (n = 29) HTX chăn nuôi (n = 6)
Số thành viên/HTX người 14,7 15
Thời gian ứng dụng năm 4,1 6
Vốn điều lệ/HTX triệu đồng 1.617,8 2.075,4
Vốn đầu tư CNC/HTX triệu đồng 1.251,2 8.617,5
Diện tích ứng dụng CNC/HTX ha 0,257 0,735
Nguyễn Thị Thu Phương, Trần Mạnh Hải, Quyền Đình Hà, Đỗ Thị Nhài, Nguyễn Thị Nhung
761
Ghi chú: 1 - tiêu chí quan trọng nhất, 9 - tiêu chí ít quan trọng nhất.
Hình 1. Xếp hạng tiêu chí lựa chọn công nghệ cao của các HTX
Về tư vấn áp dụng CNC và đầu tư trang
thiết bị, các HTX chủ yếu nghe tư vấn, hướng
dẫn lựa chọn công nghệ từ các doanh nghiệp
cung cấp lắp đặt thiết bị công nghệ cao. Khoảng
28-34% HTX còn được tư vấn, hướng dẫn bởi Sở
NN&PTNT và Sở KHCN. Chỉ một bộ phận nhỏ
HTX (8,6%) có tham vấn thêm ý kiến các chuyên
gia của viện nghiên cứu hoặc trường đại học. Cá
biệt, có một vài HTX thậm chí thuê chuyên gia
nước ngoài để tư vấn lựa chọn CNC. Do phụ
thuộc vào thông tin từ phía doanh nghiệp cung
cấp thiết bị khiến các HTX khó khăn trong kiểm
chứng chất lượng, sự phù hợp của công nghệ, giá
cả, bảo trì hệ thống
3.1.4. Các đơn vị giao dịch với HTX ứng
dụng CNC
Khác với các HTXNN truyền thống,
HTXNN ứng dụng CNC có liên kết, hợp tác đa
dạng với các loại hình tổ chức kinh tế trong và
ngoài địa bàn tỉnh. Đối với các giao dịch về cung
ứng, lắp đặt CNC và cung cấp vật tư đầu vào,
trên 50% HTX giao dịch, liên kết với các doanh
nghiệp, tập đoàn lớn có phạm vi hoạt động trên
địa bàn toàn tỉnh hay cả nước, khoảng 20% HTX
liên kết với các viện nghiên cứu, chuyển giao
khoa học công nghệ về cung ứng CNC. Ngoài ra,
trên 11% số HTX liên kết, hợp tác với nhau
trong việc trao đổi, chia sẻ, học tập mô hình,
kinh nghiệm chuyển giao CNC.
Trong khi hầu hết các HTX truyền thống
hiện nay gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm
đầu ra cho thành viên, các HTX ứng dụng CNC
đã dần tiếp cận được với chuỗi cửa hàng thực
phẩm sạch, siêu thị trong và ngoài địa phương.
Kết quả khảo sát cho thấy, 60% HTX có liên kết,
hợp tác với chuỗi cửa hàng nông sản sạch tại địa
phương, 42,9% HTX có liên kết với hệ thống siêu
thị trong và ngoài tỉnh. Các HTX nông nghiệp
ứng dụng CNC với những ưu điểm vượt trội về
năng suất, chất lượng, hình thức, mẫu mã sản
phẩm đang từng bước tham gia và phát huy vai
trò trong thực hiện chuỗi sản xuất, chế biến,
tiêu thụ nông sản trên địa bàn. Nhiều HTX đã
làm tốt vai trò là cầu nối cho các hộ nông dân
liên kết với nhau, tham gia sản xuất tập trung,
thực hiện liên kết doanh nghiệp với nông dân,
nâng cao giá trị hàng hóa nông sản. Đến nay,
một số mô hình HTX hoạt động ổn định, hiệu
quả, thực hiện tốt việc liên kết sản xuất, hợp tác
kết nối tiêu thụ các sản phẩm ra thị trường, tạo
chỗ đứng nhất định, như: HTX Rau sạch Yên
Dũng, HTX Dịch vụ tổng hợp và sản xuất nông
nghiệp Lúa vàng (Yên Dũng); HTX Nông nghiệp
Đồng Tâm 3, HTX Trường Thành (Hiệp Hòa);
HTX Phát Huy (Yên Thế)...
Thực trạng ứng dụng công nghệ cao của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
762
3.1.5. Chi phí đầu tư công nghệ cao của các
hợp tác xã nông nghiệp
Chi phí đầu tư tính trên 1.000m2 của các
loại CNC hiện được HTXNN ứng dụng phổ biến
trong lĩnh vực trồng trọt. Nhà màng có chi phí
đầu tư cao hơn nhà lưới, số năm khấu hao nhà
màng là 9-10 năm và nhà lưới là 8-9 năm. Hệ
thống tưới tự động với chi phí lắp đặt trung bình
khoảng 33,6 triệu đồng/1.000m2, thời gian khấu
hao 4-5 năm.
Khoảng 34% HTX đầu tư vào kho lạnh, chủ
yếu là các HTX trồng trọt để bảo quản rau, quả
sau khi thu hoạch và sơ chế. Chi phí đầu tư cho
kho lạnh trung bình khoảng 2.200 triệu
đồng/1.000m2. Các HTXNN ứng dụng CNC
trong lĩnh vực chăn nuôi có chi phí đầu tư CNC
lớn hơn nhiều. Đầu tư chuồng trại khép kín,
đồng bộ khoảng 11,5 tỷ đồng cho quy mô chuồng
trại 5.000 con lợn; các HTX chăn nuôi gà khoảng
1,2 tỷ đồng, thời gian khấu hao trung bình từ 5-
10 năm tùy theo từng loại.
Số lượng HTX trong lĩnh vực trồng trọt có
mức đầu tư trên 5 tỷ đồng trên địa bàn tỉnh
không nhiều, chỉ chiếm khoảng 17%, thường là
các HTX sản xuất theo mô hình tập trung, đồng
bộ từ sản xuất đến bảo quản, chế biến. Các HTX
thuộc lĩnh vực chăn nuôi có vốn đầu tư trên 10
tỷ đồng chiếm đến 50%, tuy nhiên, mới chỉ có 3
HTX nhóm này. Mức đầu tư dưới 5 tỷ chỉ có 1
HTX chiếm 16,7%. Vốn đầu tư lớn trong khi rủi
ro về dịch bệnh cao nên số HTX chăn nuôi ứng
dụng CNC còn ít.
Bảng 4. Vốn đầu tư CNC của HTX nông nghiệp
Vốn đầu tư trung bình/HTX
HTX trồng trọt (n = 29) HTX chăn nuôi (n = 6)
Số lượng (HTX) Tỷ lệ (%) Số lượng (HTX) Tỷ lệ (%)
Dưới 1 tỷ đồng 6 20,69 0 0,00
1-5 tỷ đồng 18 62,07 1 16,67
5-10 tỷ đồng 3 10,34 2 33,33
Trên 10 tỷ đồng 2 6,90 3 50,00
Bảng 5. Đánh giá của HTX về lợi ích kinh tế của ứng dụng CNC vào sản xuất nông sản
Chỉ tiêu ĐVT Kết quả
% tăng năng suất cây trồng/vật nuôi % 39,8
% giảm chi phí phân bón, thức ăn CN % 25,33
% giảm chi phí thuốc BVTV, thuốc thú y % 50,38
% tiết kiệm nước % 43,91
% giảm chi phí thuê lao động % 36,31
Mức độ về an toàn thực phẩm
Tương đối an toàn % số ý kiến 5,87
An toàn % số ý kiến 38,24
Rất an toàn % số ý kiến 55,89
Mức độ cải thiện về chất lượng sản phẩm
Hầu như không thay đổi % số ý kiến 20,52
Tương đối cải thiện % số ý kiến 32,35
Chất lượng vượt trội % số ý kiến 47,13
Mức độ cải thiện hình thức, mẫu mã
Hầu như không thay đổi % số ý kiến 14,61
Tương đối cải thiện % số ý kiến 35,24
Hình thức vượt trội % số ý kiến 50,15
Tăng giá bán % số ý kiến 54,28
Nguyễn Thị Thu Phương, Trần Mạnh Hải, Quyền Đình Hà, Đỗ Thị Nhài, Nguyễn Thị Nhung
763
Bảng 6. Doanh thu, chi phí và lợi nhuận của các HTX ứng dụng CNC năm 2019
Loại HTX ĐVT Doanh thu/HTX Chi phí/HTX
Lợi nhuận/
HTX
Lợi nhuận/
Chi phí
Doanh thu/
Thành viên
Lợi nhuận/
Thành viên
HTX trồng trọt
Có ứng dụng CNC triệu đồng 4.181,024 3.081,42 1.099,609 35,69 288,346 75,835
Không ứng dụng CNC triệu đồng 2.787,349 2.433,13 354,223 14,56 139,367 17,711
HTX chăn nuôi
Có ứng dụng CNC triệu đồng 10.411,196 6.975,50 3.435,695 49,25 694,079 229,046
Không ứng dụng CNC triệu đồng 3.640,278 2.875,82 764,458 26,58 202,238 42,469
3.2. Kết quả ứng dụng công nghệ cao của
hợp tác xã nông nghiệp
3.2.1. Đánh giá về kết quả ứng dụng công
nghệ cao vào sản xuất, chế biến, tiêu thụ
Ứng dụng CNC đã giúp các HTX giảm
trung bình 25,3% chi phí về phân bón, thức ăn
chăn nuôi, 50,4% chi phí thuốc BVTV, thuốc thú
y, 36,3% chi phí thuê lao động và giảm 43,9%
lượng nước sử dụng so với trước đó nhưng lại
cho năng suất cây trồng, vật nuôi cao. Ứng dụng
CNC đã giúp các HTX tăng năng suất cây trồng,
vật nuôi trung bình 39,8%. Đa số ý kiến (80%)
từ các HTX cho rằng việc ứng dụng CNC đảm
bảo tốt hơn về an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng
thời cải thiện rõ rệt chất lượng sản phẩm, trên
47% số ý kiến cho rằng ứng dụng CNC đã giúp
chất lượng nông sản vượt trội hơn so với trước
đây. Hầu hết ý kiến (85,3%) cho rằng ứng dụng
CNC đã giúp cải thiện rõ về hình thức, mẫu mã
của nông sản, có 54,3% ý kiến cho biết sản
phẩm CNC làm tăng giá bán so với sản phẩm
cùng loại trước đây.
3.2.2. Doanh thu và lợi nhuận của HTX
nông nghiệp ứng dụng CNC
Nhờ những lợi ích rõ ràng đạt được trong
cải thiện năng suất, chất lượng, mẫu mã nông
sản và yêu cầu chất lượng của hệ thống siêu thị,
chuỗi cửa hàng nông sản sạch nên quy mô về
doanh thu của HTXNN ứng dụng CNC đạt kết
quả khá cao. Các HTXNN ứng dụng CNC trong
lĩnh vực trồng trọt đạt doanh thu trung bình 4,2
tỷ đồng/HTX, cao gấp 1,5 lần so với các HTXNN
không ứng dụng CNC. Lợi nhuận trung bình
của mỗi HTX đạt khoảng 1 tỷ đồng năm. Tỷ
suất lợi nhuận/chi phí của HTX đạt 35,7%, tăng
mạnh so với mức 14,6% của các HTX không ứng
dụng CNC.
Doanh thu bình quân của HTX/thành viên
của các HTXNN ứng dụng CNC trong lĩnh vực
trồng trọt khoảng 288 triệu đồng, bình quân lợi
nhuận/thành viên đạt 75,8 triệu đồng, cao gấp
3-4 lần so với các HTX không ứng dụng CNC.
Các HTXNN ứng dụng CNC trong lĩnh vực chăn
nuôi có doanh thu cao gấp 2,5-3 lần so với các
HTXNN truyền thống, bình quân khoảng 10,4
tỷ đồng và lợi nhuận đạt 3,4 tỷ đồng một năm.
3.3. Những rào cản trong ứng dụng công
nghệ cao của hợp tác xã nông nghiệp trên
địa bàn tỉnh
3.3.1. Rào cản về đất đai
Theo Quyết định số 493/QĐ-UBND về phê
duyệt quy hoạch vùng nông nghiệp công nghệ
cao của tỉnh, các HTX được hưởng ưu đãi cao
nhất theo quy định của luật về đất đai trong sản
xuất nông nghiệp ứng dụng CNC. Tuy vậy, các
HTX chưa được hưởng ưu đãi cụ thể về đất đai.
Vì đa số diện tích đất sản xuất trong HTX là đất
do thành viên quản lý và tự tổ chức sản xuất.
Để có đất sản xuất tập trung ứng dụng CNC,
các HTXNN phần lớn đều đi thuê của các hộ
dân, với giá thuê hơn một triệu đồng/sào/năm,
tương đương 2 tạ thóc/sào/năm. Việc vận động
hộ dân cho thuê đất rất khó khăn và tiềm ẩn
nhiều rủi ro khi phát sinh mâu thuẫn, tranh
chấp do chưa có quy định cụ thể về việc thuê,
cho thuê ruộng đất. Nhiều HTX chưa yên tâm
đầu tư ổn định và lâu dài, còn người dân thì có
tâm lý sợ mất đất. Do thời gian thuê đất ngắn,
Thực trạng ứng dụng công nghệ cao của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
764
phổ biến là 5 năm khiến các HTX gặp khó khăn
trong quyết định đầu tư vì đầu tư vào CNC đòi
hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi vốn phải trên 5
năm, thời gian khấu hao công nghệ trung bình
là 8-10 năm.
3.3.2. Rào cản về vốn và tín dụng
Theo Nghị quyết số 46/2016/NQ-HĐND về
chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn
tỉnh giai đoạn 2017-2020, các HTX ứng dụng
CNC vào trồng trọt được hỗ trợ 300 triệu
đồng/HTX với quy mô ứng dụng tối thiểu
2.000m2, và mức tối đa là 500 triệu đồng/HTX
với quy mô từ 5.000m2 trở lên. HTX chỉ được
nhận hỗ trợ sau khi sau khi mô hình đi vào sản
xuất, có sản phẩm được thu hoạch. Phần lớn
HTX không đủ điều kiện để tiếp cận được chính
sách hiện nay như yêu cầu phải tập trung được
đất đai và ban quản trị HTX phải chứng minh
được năng lực quản lý và nguồn lực về vốn cũng
như các phương án sản xuất kinh doanh hiệu
quả. Khoản vốn hỗ trợ này nhỏ, chỉ phù hợp với
quy mô đầu tư 2.000-3.000m2, không phù hợp
với các HTX có quy mô đầu tư lớn. Các chính
sách trên chưa quy định đối với các HTX ứng
dụng CNC vào chăn nuôi.
Tiếp cận tín dụng của các HTX gặp nhiều
khó khăn do HTXNN ứng dụng CNC đa phần
thành lập sau năm 2012 nên không có trụ sở
riêng, phần lớn là đi thuê đất để sản xuất. Khi
vay vốn, các tổ chức tín dụng yêu cầu phải có “sổ
đỏ” làm tài sản thế chấp nhưng toàn bộ diện
tích sản xuất của hợp tác xã là đi thuê, trụ sở
làm việc được đặt trong khu sản xuất nên không
có tài sản thế chấp để vay vốn. Nhà màng, nhà
lưới không được chấp nhận là tài sản thế chấp
do dễ bị hủy hoại bởi gió, bão, lũ lụt...
3.3.3. Rào cản về khoa học, kỹ thuật và
công nghệ
Các giải pháp hỗ trợ của tỉnh theo Nghị
quyết số 46/NQ-HĐND, gồm tổ chức các lớp tập
huấn về ứng dụng CNC, sở hữu trí tuệ và xây
dựng thương hiệu, triển khai quy trình sản xuất
theo các tiêu chuẩn (VietGap, GlobalGap...).
Quá trình triển khai các chính sách hỗ trợ ứng
dụng CNC cho HTX hiện còn nhiều hạn chế nên
HTX không đủ điểu kiện để tiếp cận chính sách.
Mặt khác, chưa có cơ chế thu hút của nhà khoa
học, chuyên gia của các viện nghiên cứu, trường
đại học tham gia vào tư vấn lựa chọn, chuyển
giao công nghệ... giúp các HTX lựa chọn và áp
dụng CNC phù hợp. Trên địa bàn tỉnh thiếu các
doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn cao về tư vấn,
cung cấp vật tư, thiết bị CNC. Các HTX quy mô
đầu tư lớn phải tìm đến các công ty ở khu vực
phía Nam, thậm chí thuê chuyên gia nước ngoài
tư vấn. Điều này làm gia tăng chi phí cho các
HTX trong khi nguồn lực tài chính hạn hẹp.
3.3.4. Rào cản về thị trường tiêu thụ
Hiện tại, hầu hết các HTXNN ứng dụng
CNC trên địa bàn có quy mô sản xuất còn nhỏ,
sản lượng không lớn, chưa đáp ứng được nhu
cầu của đơn vị thu mua nên HTX gặp rất nhiều
khó khăn trong liên kết với doanh nghiệp tiêu
thụ. Thực tế có đến 25,7% HTX đang phải tiêu
thụ nông sản ứng dụng CNC tại các chợ đầu mối
với giá bán tăng không đáng kể so với nông sản
thường. Mặt khác, tuy nhu cầu về sản phẩm
nông nghiệp chất lượng cao rất lớn nhưng thị
trường khá phân tán, đòi hỏi các HTX phải nắm
bắt nhu cầu và biết tạo sự liên kết. Điều này
thực sự là những khó khăn lớn đối với các
HTXNN khi phần lớn đều thiếu thông tin về
đơn vị tiêu thụ cũng như thông tin dự báo về
nhu cầu và nguồn cung trên thị trường. Những
bất cập này đang là rào cản khi đầu tư vào nông
nghiệp CNC của các HTX.
3.3.5. Rào cản về năng lực quản trị của các
hợp tác xã nông nghiệp
Ứng dụng CNC trong nông nghiệp đòi hỏi
cán bộ quản lý phải có trình độ quản lý và
chuyên môn cao về lĩnh vực sản xuất kinh
doanh của HTX. Mặc dù vậy, số cán bộ quản lý
các HTX có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên
còn khá thấp, trung bình 22,8% đối với thành
viên hội đồng quản trị, 20% với ban kiểm soát
và 31,4% với bộ phận kế toán, thủ quỹ. Trên địa
bàn tỉnh chưa có khóa tập huấn, đào tạo về
CNC cho từng lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi
theo nhu cầu của các HTX nông nghiệp. Ngoài
Nguyễn Thị Thu Phương, Trần Mạnh Hải, Quyền Đình Hà, Đỗ Thị Nhài, Nguyễn Thị Nhung
765
ra, trên 60% HTX vẫn thiếu lực lượng lao động
kỹ thuật có trình độ phù hợp.
4. KHUYẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY
MẠNH ỨNG DỤNG CNC TRONG CÁC HỢP
TÁC XÃ
Thứ nhất, cần có chính sách hỗ trợ, tạo
hành lang pháp lý cho các hoạt động thuê đất,
góp đất với quy mô và thời gian đủ lớn giữa
HTX và hộ nông dân để đảm bảo lợi ích hài hòa
bền vững cho cả hai bên. Chính quyền địa
phương cần đứng ra làm trung gian kết nối
người dân và HTX nhằm hỗ trợ cho các giao dịch
thuê mượn đất được đơn giản, thuận lợi.
Thứ hai, các huyện cần rà soát quỹ đất để
hỗ trợ bố trí trụ sở làm việc cho các HTX. Cần
sớm ban hành các quy định về công nhận giá trị
tài sản (nhà lưới, nhà màng, chuồng trại, hệ
thống tưới tiêu...) trên đất nông nghiệp để HTX
có cơ sở vay vốn. Xem xét mở rộng và nới các
tiêu chuẩn cho vay để các HTX tiếp cận được
nguồn vốn vay ưu đãi từ ngân hàng.
Thứ ba, dự báo về nhu cầu thị trường đối
với sản phẩm nông nghiệp, nhất là sản
phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao làm
cơ sở định hướng phát triển nông nghiệp công
nghệ cao trên địa bàn. Tăng cường sự phối hợp
chặt chẽ giữa các sở, ngành, Liên minh
HTX,trong việc hỗ trợ HTX tham gia hội chợ,
tham gia chương trình xúc tiến thương mại để
tìm kiếm cơ hội liên kết tiêu thụ sản phẩm ứng
dụng CNC Tăng cường kiểm tra phát hiện, xử
lý các hàng hóa nông sản bị làm giả, làm nhái
các nông sản ứng dụng công nghệ cao.
Thứ tư, nâng cao năng lực cán bộ quản lý
HTX. Ngoài các lớp tập huấn về quản trị HTX,
với các nội dung chính là kiến thức kỹ năng
quản lý, phổ biến chủ trương, chính sách hỗ trợ
của Nhà nước trong phát triển kinh tế tập thể,
cần bổ sung các lớp tấp huận về kiến thức nông
nghiệp CNC, nông nghiệp hữu cơ, cũng như các
kỹ năng phân tích kinh doanh và thị trường.
Tập huấn chuyển giao công nghệ sản xuất nông
nghiệp CNC giúp các HTX tiếp cận và đầu tư
làm nông nghiệp CNC rộng rãi.
Thứ năm, đẩy mạnh các hoạt động nghiên
cứu ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học
kỹ thuật, cơ giới hóa, tự động hóa các khâu
trong quá trình sản xuất; tập trung ứng dụng
các tiến bộ về giống, các quy trình sản xuất tiên
tiến, công nghệ sạch, hữu cơ, các chế phẩm sinh
học, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; ứng
dụng công nghệ thông tin trong chuyển giao kỹ
thuật, quản lý sản xuất nông nghiệp CNC.
5. KẾT LUẬN
Những năm gần đây, số lượng các HTXNN
ứng dụng CNC trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
tăng khá nhanh, chiếm khoảng 10% tổng số
lượng HTXNN trên địa bàn, chủ yếu là các HTX
hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt. Ứng dụng
công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp đã
giúp các HTX giảm các chi phí đầu vào như
phân bón, thức ăn chăn nuôi, chi phí thuốc
BVTV, thuốc thú y, chi phí thuê lao động và
lượng nước sử dụng cho trồng trọt, chăn nuôi so
với HTX truyền thống. Trong khi đó, năng suất,
chất lượng và hình thức, mẫu mã sản phẩm
nông sản cũng được cải thiện đáng kể. Nhờ vậy,
doanh thu và lợi nhuận của các HTX ứng dụng
CNC đạt sự tăng trưởng vượt trội so với các
HTXNN truyền thống. Tuy nhiên, quy mô của
các HTXNN ứng dụng CNC còn khá nhỏ cả về
diện tích và vốn đầu tư, có đến 82% số HTXNN
ứng dụng CNC trong khâu sản xuất, chủ yếu là
ứng dụng kỹ thuật canh tác, nuôi trồng; 37% số
HTX ứng dụng CNC vào các khâu bảo quản và
chế biến, chủ yếu sử dụng kho lạnh trong bảo
quản. Nguyên nhân là do các HTXNN trên địa
bàn hiện nay đang bị cản trở bởi rào cản về đất
đai, vốn tín dụng; khoa học công nghệ, thị
trường tiêu thụ và đặc biệt là năng lực quản trị
của HTXNN còn rất hạn chế. Vì vậy, cần thực
hiện những giải pháp đồng bộ và khả thi để
khuyến khích và thúc đẩy tăng cường ứng dụng
CNC vào sản xuất, chế biến và tiêu thụ của các
HTXNN trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ NN&PTNT (2019). Báo cáo tổng kết 13 năm thực
hiện nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 về
tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
kinh tế tập thể. Tài liệu Hội nghị toàn quốc.
Thực trạng ứng dụng công nghệ cao của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
766
Hoàng Vũ Quang (2015). Nghiên cứu đề xuất chính
sách, giải pháp phát triển Hợp tác xã trong nông,
lâm, ngư nghiệp. Đề tài cấp bộ, Bộ NN&PTNT.
Nguyễn Bạch Nguyệt & Hoàng Thị Thu Hà (2018).
Đặc trưng của sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
và những vấn đề đặt ra trong đầu tư phát triển nông
nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam. Kỷ yếu hội
thảo “Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng ứng nền
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong thời kỳ
4.0”. Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang (2019). Báo cáo đánh
giá tình hình thực hiện nông nghiệp ứng dụng CNC
trong các HTXNN.
Trần Duy Quý (2018). Phát triển nền nông nghiệp công
nghệ cao, xu hướng tất yếu của nền nông nghiệp
Việt Nam thế kỷ XXI. Tạp chí Khoa học - Phát
triển nông thôn Việt Nam. 39: 13-17.
UBND tỉnh Bắc Giang (2019). Báo cáo về đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp
trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2016-2020.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
thuc_trang_ung_dung_cong_nghe_cao_cua_cac_hop_tac_xa_nong_ng.pdf