Lượng nitơ thải ra qua nước tiểu ở lô
ăn chuối xanh là thấp nhất và cao nhất ở lô
ĐC và có sự khác nhau rõ rệt giữa lô ăn
chuối xanh so với lô ĐC và lô chuối chín
(10,34 g/ngày so với 13,36 và 12,02 g/ngày)
(P<0,05). Tổng số nitơ thải ra ở lô chuối
xanh là thấp nhất, tiếp đến lô chuối chín và
cao nhất ở lô ĐC (tương ướng là 16,35;
18,79 và 19,22 g/ngày). Tỷ lệ nitơ được sử
dụng/tổng nitơ ăn vào ở lô chuối xanh
(49,16%) cao hơn so với lô ĐC (45,12%) và
lô chuối chín (42,97%) (P<0,05).
Như vậy, việc thay thế 15% ngô bằng
chuối xanh và chuối chín trong khẩu phần
ăn của lợn sinh trưởng đã tăng lượng nitơ
thải ra theo đường phân nhưng đã làm
giảm lượng nitơ thải ra theo đường nước
tiểu và giảm tổng số nitơ thải ra. Lượng
nitơ thải ra theo đường nước tiểu ở khẩu
phần chuối xanh thấp hơn so với khẩu
phần chuối chín. Đồng thời, tỷ lệ nitơ
được sử dụng so với tổng nitơ ăn vào ở lô
chuối xanh cao hơn so với lô chuối chín.
Do đó, sử dụng chuối xanh thay thế thức
ăn năng lượng trong khẩu phần ăn của lợn
sinh trưởng đã làm tăng hiệu quả sử dụng
nitơ và có thể làm thay đổi sự chuyển
hướng bài tiết nitơ nước tiểu sang bài tiết
nitơ theo đường phân dưới dạng protein
vi sinh vật. Quá trình phân giải nitơ ở
phân diễn ra chậm hơn sẽ tránh được ô
nhiễm môi trường. Đây là một tín hiệu
mới giúp các nhà dinh dưỡng lựa chọn
nguyên liệu thức ăn trong việc phối hợp
khẩu phần ăn cho lợn.
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiêu hóa in vitro các chất dinh dưỡng trong chuối tiêu và tiêu hóa in vivo, hiệu quả sử dụng nitơ của khẩu phần ăn có quả chuối xanh và chín ở lợn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
KHKT Chăn nuôi Số 8 - 2013 9
DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI
TIÊU HÓA IN VITRO CÁC CHẤT DINH DƯỠNG
TRONG CHUỐI TIÊU VÀ TIÊU HÓA IN VIVO, HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG NITƠ CỦA KHẨU PHẦN ĂN CÓ QUẢ CHUỐI XANH
VÀ CHÍN Ở LỢN
Nguyễn Công Oánh1*, Trần Hiệp1, Lê Hữu Hiếu1,
J. Bindelle2, A. Thewis2 và Vũ Đình Tôn1
Ngày nhận bài: 25/04/2013. Ngày bài được chấp nhận đăng: 03/06/2013
TÓM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá giá trị dinh dưỡng, tiêu hóa in vitro và tiêu hóa in
vivo một số chất dinh dưỡng khi thay thế 15% ngô bằng chuối xanh và chuối chín dạng khô trong
khẩu phần ăn của lợn sinh trưởng. Kết quả nghiên cứu cho thấy: hàm lượng vật chất khô (DM,%) ở
quả chuối ở các giai đoạn chín khác nhau (xanh, ương, chín), hoa và thân cây chuối lần lượt là
13,77; 12,59; 14,10; 7,53 và 7,83%; giá trị năng lượng thô (GE/kg DM) của chuối tiêu đạt ở mức cao
(3.734 - 4.115 kcal); hàm lượng CP và NDF của quả chuối xanh cao hơn quả ương và chín (8,40%;
18,35% so với 6,77%; 10,54% và 6,75%; 10,17%). Tỷ lệ tiêu hóa in vitro DM, CP và GE ở quả chuối
xanh thấp hơn so với quả ương và chín (44,40%; 70,36%; 44,90% so với 81,43%; 75,65%; 55,52% và
85,44%; 78,60%; 54,04%). Tỷ lệ tiêu hóa in vivo DM, GE của khẩu phần chuối xanh cao hơn so với
khẩu phần chuối chín và đối chứng (85,70%; 86,00% so với 81,69%; 80,25% và 84,76%; 84,09%
tương ứng). Tuy nhiên, tỷ lệ tiêu hóa in vivo CP của khẩu phần chuối xanh cao hơn khẩu phần
chuối chín và thấp hơn khẩu phần đối chứng (81,65% so với 79,14% và 83,27%). Ngoài ra, khẩu
phần chuối xanh làm giảm lượng nitơ thải qua đường nước tiểu và tăng hiệu quả sử dụng nitơ so
với khẩu phần chuối chín và khẩu phần đối chứng.
Từ khóa: chuối tiêu, giá trị dinh dưỡng, tiêu hóa in vitro, tiêu hóa in vivo, lợn sinh trưởng.
ABSTRACT
In vitro digestibility of nutrients in bananas and in vivo digestibility, effectiveness of
nitrogen use in pig’s diets based on green and ripe bananas
Nguyen Cong Oanh, Tran Hiep, Le Huu Hieu,
J. Bindelle, A. Thewis and Vu Dinh Ton
The study was conducted to assess the nutritional value, in vitro digestibility and in vivo
digestibility in growing pigs offered diets containing 15% green and ripe bananas in meal form.
1 Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
2 Bộ môn Dinh dưỡng thức ăn, Trường Đại học Liège (Bỉ).
* Tác giả để liên hệ: ThS. Nguyễn Công Oánh, Nghiên cứu viên, Trung tâm nghiên cứu liên ngành Phát triển
nông thôn, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội. Điện thoại: 0975191982. E-mail:
ncoanh@hua.edu.vn
DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI
10 KHKT Chăn nuôi Số 8 - 2013
Results showed that dry matter content (DM,%) in banana fruit (at green, semi-ripe, ripe stages),
banana flower and stem were 13.77, 12.59, 14.10, 7.53 and 7.83% respectively; Gross energy of
bananas are from 3734 to 4115 kcal/kg DM; CP and NDF content of green banana were higher than
that of semi-ripe and ripe banana. In vitro digestibility of DM, CP and GE in green banana is lower
than that of the semi-ripe and ripe fruits (44.40%, 70.36%, 44.90% compared with 81.43%, 75.65%,
55.52% and 85.44%, 78.60%, 54.04% respectively). In vivo digestibility of DM, GE's green banana
diet was higher than ripe banana diet and control diet (85.70%, 86.00% compared with 81.69%,
80.25% and 84.76%, 84.09% respectively). However, in vivo digestibility of CP was higher in green
banana diet than in ripe banana diet and was lower than the control diet. In addition, green banana
diet reduces the amount of nitrogen excreted in the urine and increases nitrogen use efficiency than
ripe banana diet and the control diet.
Keywords: bananas, nutritional value, in vitro digestibility, in vitro digestibility, growing pigs.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chuối tiêu là loại cây lấy quả được
trồng nhiều với diện tích và quy mô lớn
chủ yếu ở các nước nhiệt đới. Theo số liệu
của tổ chức nông lương thế giới FAO
(2012), hàng năm toàn thế giới sản xuất
trên 88 triệu tấn chuối. Công bố của
Babatunde (1992) cho biết, khoảng 68%
tổng sản lượng chuối sản xuất được tiêu
thụ trên thị trường và phần còn lại, có thể
sử dụng tại chỗ cho con người và chủ yếu
làm thức ăn chăn nuôi (khoảng 20 - 25%).
Quả chuối tiêu được sử dụng làm thức
ăn không chỉ cho con người mà cho cả động
vật (Ly và Delgado, 2005). Kết quả nghiên
cứu sử dụng quả chuối trong chăn nuôi lợn
(Le Dividich và Canope,1975; Le Dividich
và ctv, 1975) khẳng định việc bổ sung chuối
trong khẩu phần ăn của lợn có tác dụng làm
tăng tỷ lệ tiêu hóa chất dinh dưỡng, giảm
thiểu lượng nitơ thải qua nước tiểu. Ngoài
ra, quả chuối chứa nhiều chất xơ hòa tan
không tiêu hóa được sẽ kích thích sự phát
triển của vi khuẩn có lợi (bifidobacteria,
lactobacilli,...) và ức chế sự phát triển của vi
khuẩn có hại (clostridia, klebsiella,
enterobacter,...) trong đường tiêu hóa của lợn.
Việt Nam là xứ sở của nhiều giống
chuối và trồng được ở khắp các địa
phương trong cả nước. Hiện tại, chuối tiêu
được trồng với diện tích và sản lượng thuộc
hàng lớn nhất trong các cây ăn quả ở nước
ta và nằm trong chiến lược xuất khẩu hàng
nông sản đến năm 2020 (theo quyết định
52/2007/QĐ-BNN). Việc khuyến khích mở
rộng các vùng sản xuất chuối thương mại
với quy mô lớn tại nhiều địa phương có thể
dẫn đến một lượng chuối không nhỏ bị loại
bỏ do không đạt tiêu chuẩn đưa ra thị
trường tiêu thụ và đây là một nguồn
hydrat-cacbon rất tốt trong chăn nuôi.
Cho đến nay, chuối tiêu được trồng ở
nước ta chủ yếu để lấy quả cho con người mà
chưa có nghiên cứu cụ thể về việc sử dụng
quả chuối tiêu làm thức ăn bổ sung trong
chăn nuôi lợn. Vì vậy, việc nghiên cứu giá trị
dinh dưỡng, tiêu hóa in vitro và in vivo một
số chất dinh dưỡng của chuối tiêu trong
khẩu phần ăn ở lợn sinh trưởng là cần thiết.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1. Vật liệu
- Chuối tiêu: hoa chuối, quả xanh
(chuối già, toàn bộ phần vỏ và cuống màu
xanh), quả ương (giai đoạn bắt đầu chín,
phần vỏ và cuống có màu xanh, hơi vàng),
quả chín (toàn bộ vỏ và cuống màu vàng)
DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI
KHKT Chăn nuôi Số 8 - 2013 11
và thân cây chuối (đoạn giữa của cây đã
thu hoạch quả).
- Lợn đực thiến F1 (PiDu x LY) có khối
lượng ban đầu là 42±3 kg.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp xác định giá trị dinh
dưỡng và tiêu hóa in vitro của chuối tiêu
Các mẫu chuối tiêu (thân, hoa, quả)
được thu thập tại tỉnh Hải Dương và Hòa
Bình theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN-
4325 (2007). Toàn bộ số mẫu thu thập được
sấy khô ở 1050C tại Phòng Thí nghiệm
Trung tâm - Khoa Chăn nuôi & Nuôi trồng
Thủy sản (Trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội) và đóng gói bảo quản trước khi
gửi đi phân tích. Thành phần hóa học và
giá trị dinh dưỡng của các mẫu được phân
tích theo phương pháp AOAC (1990), tại
phòng thí nghiệm của Bộ môn Dinh dưỡng
Động vật - Trường Đại học Liège -
Gembloux (Vương Quốc Bỉ). Các chỉ tiêu
phân tích bao gồm: hàm lượng vật chất khô
(DM - Dry Matter,%), hàm lượng protein
thô (CP-Crude Protein,%) (Kjeldahl-
N×6,25), hàm lượng xơ thô (NDF-Neutral
Detergent Fiber,%) và giá trị năng lượng
thô (GE-Gross Energy, kcal). Xác định tỷ lệ
tiêu hóa in vitro DM, CP và GE của chuối
tiêu bằng enzym pepsin/pancreatin theo
phương pháp của Dierick và ctv (1985) và
Löwgren và ctv (1989).
2.2.2. Phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa in
vivo khẩu phần chuối xanh và chuối chín
Vật liệu nghiên cứu:
Cũi nhốt lợn: 12 cũi tiêu hóa, nuôi cá thể
theo mẫu thiết kế của Bộ môn Dinh dưỡng
động vật - trường Đại học Liège -
Gembloux (Vương Quốc Bỉ).
Lợn thí nghiệm: 12 lợn đực thiến
F1(PiDu x LY), khối lượng ban đầu trung
bình 42±3 kg/con. Lợn được tiêm phòng
đầy đủ các loại vaccine và tẩy giun sán
trước khi thí nghiệm.
Phối hợp khẩu phần: các nguyên liệu
thức ăn được nghiền và phối trộn theo tiêu
chuẩn ngành (TCN 662-2005). Khối lượng
các nguyên liệu thức ăn được tính toán và
chuẩn bị đầy đủ một lần cho đến khi kết
thúc thí nghiệm. Tỷ lệ các loại nguyên liệu
thức ăn được phối trộn và thành phần hóa
học và giá trị dinh dưỡng của các khẩu
phần được trình bày ở Bảng 1.
Bảng 1. Đặc điểm của khẩu phần thí nghiệm (% DM)
Đối chứng
(ĐC)
Chuối xanh
(TN1)
Chuối chín
(TN2)
Ngô 65,00 50,00 50,00
Cám gạo 16,00 16,00 16,00
Khô dầu đậu tương 16,00 16,00 16,00
DCP (Dicanxi phosphate) 2,00 2,00 2,00
Premix 0,50 0,50 0,50
Muối NaCl 0,50 0,50 0,50
Quả chuối xanh - 15,00 -
Thành phần nguyên liệu (%)
Quả chuối chín - - 15,00
DM (%) 89,74 90,38 90,38
CP (%) 15,55 15,38 15,19
GE (kcal/kg) 4.187 4.165 4.110
Ash (%) 4,97 5,48 6,86
Ca (%) 0,71 0,78 1,35
Thành phần hóa học và giá
trị năng lượng
P (%) 0,20 0,24 0,21
DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI
12 KHKT Chăn nuôi Số 8 - 2013
Thí nghiệm được thực hiện tại Trại
chăn nuôi của Khoa Chăn nuôi và Nuôi
trồng Thủy sản (Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội). Thời gian tiến hành thí
nghiệm 7-12/2011.
Phương pháp tiến hành:
Thiết kế thí nghiệm: Thí nghiệm được bố
trí kiểu CRD (completely redomized design)
trên 12 lợn được chia làm 3 lô, mỗi lô 4 con.
Lợn thí nghiệm được nuôi trong cũi trao đổi
chất có khay hứng phân và nước tiểu riêng
biệt. Thí nghiệm thực hiện theo 2 giai đoạn,
giai đoạn 2 được thực hiện sau khi kết thúc
giai đoạn 1 và lợn trong các lô được hoán vị
cho nhau. Mỗi giai đoạn thí nghiệm kéo dài
15 ngày, trong đó 10 ngày nuôi thích nghi
và 5 ngày thu mẫu.
Giai đoạn nuôi thích nghi: khối lượng lợn
trung bình giữa các lô là tương đương và
lợn được nuôi dưới nền bê tông. Khi mới
phân lô, lợn được ăn loại thức ăn cũ trong 4
ngày, sau đó lợn được làm quen với thức
ăn thí nghiệm và chuyển hoàn toàn sang
khẩu phần thí nghiệm sau 7 ngày trước khi
đưa lên cũi nuôi cá thể. Lợn đưa lên cũi
tiêu hóa và nuôi thích nghi thêm 3 ngày
trước khi lấy mẫu.
Phương pháp cho ăn: trong giai đoạn thu
mẫu, lợn được ăn hạn chế ở mức khoảng
90g DM/kg khối lượng cơ thể để lợn ăn,
tiêu hóa hết thức ăn và không có thức ăn
dư thừa. Nước uống được cung cấp tự do
qua vòi uống tự động. Lượng thức ăn trong
mỗi ngày được chia thành 2 bữa bằng nhau
và cho lợn ăn tại 2 thời điểm cố định: 8 và
16 giờ. Trước khi cho ăn, thức ăn được trộn
với nước sạch theo tỷ lệ 1:1.
Phương pháp thu mẫu: Việc thu phân,
nước tiểu và thức ăn thừa của từng con
được tiến hành vào mỗi buổi sáng trước
khi cho lợn ăn. Khối lượng thức ăn cho ăn,
thức ăn thừa, khối lượng phân và nước tiểu
của từng con được xác định bằng cân đồng
hồ 2kg (sai số 5-10g). Để cố định nitơ trong
nước tiểu, chậu hứng nước tiểu được cho
vào 30ml H2SO4 2M. Toàn bộ thức ăn thừa,
10% lượng phân được cho vào hộp nhựa,
khoảng 40ml nước tiểu cho vào ống falcon.
Các hộp mẫu và ống mẫu nhanh chóng
được đưa vào tủ lạnh để bảo quản ở -200C
(mẫu phân và thức ăn thừa) và 40C (mẫu
nước tiểu) cho đến khi phân tích. Cuối mỗi
giai đoạn thu mẫu, toàn bộ phân và thức
ăn thừa của từng con được trộn trước khi
phân tích cùng với nước tiểu.
Phương pháp phân tích mẫu: Thành phần
hóa học của các mẫu được phân tích tại
phòng Thí nghiệm Trung tâm, Khoa Chăn
nuôi & Nuôi trồng Thủy sản (Trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội); riêng giá trị GE
được xác định tại Bộ môn dinh dưỡng và
thức ăn chăn nuôi (Viện Chăn nuôi). Đối
với các mẫu phân, hàm lượng DM (%)
được xác định theo Tiêu chuẩn Việt Nam
(TCVN-4326, 2001); hàm lượng CP (%) theo
Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN-4328, 2001),
Ash (%) theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN-
4327, 1993) và giá trị GE (Kcal) (bom
calorimeter IKA-C 2000). Thức ăn thừa
được phân tích hàm lượng DM (%) và giá
trị GE (kcal). Mẫu nước tiểu phân tích hàm
lượng CP (%). Tỷ lệ tiêu hoá in vivo vật chất
khô (DM), chất hữu cơ (OM), protein (CP)
và năng lượng (GE) trong khẩu phần ăn
được tính theo phương pháp thường quy.
2.2.3. Xử lý số liệu
Số liệu phân tích được xử lý thống kê
mô tả và số liệu thí nghiệm được xử lý sơ
DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI
KHKT Chăn nuôi Số 8 - 2013 13
bộ Excel 2007, sau đó được phân tích bằng
phần mền SAS 9.0.
Sự sai khác giữa về tỷ lệ tiêu hóa các
chất dinh dưỡng và hiệu quả sử dụng nitơ
của các khẩu phần ăn được xác định theo
mô hình thống kê sau:
yij = µ + αi + εij
Trong đó:
yij: giá trị quan sát thứ j của chỉ tiêu
nghiên cứu ở khẩu phần ăn i
µ: trung bình của chỉ tiêu nghiên cứu
αi: ảnh hưởng của khẩu phần ăn
εij: sai số ngẫu nhiên
Các tham số thống kê ước tính bao gồm:
dung lượng mẫu (n), trung bình cộng ( X ),
sai số tiêu chuẩn (SE). So sánh giá trị trung
bình theo cặp bằng phép so sánh Tukey.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Giá trị dinh dưỡng và tỷ lệ tiêu hóa in
vitro các chất dinh dưỡng của chuối tiêu
3.1.1. Thành phần hoá học và giá trị dinh
dưỡng
Thành phần hóa học và giá trị dinh
dưỡng của chuối tiêu được trình bày tại
bảng 2.
Bảng 2. Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của chuối tiêu
Loại thức ăn DM (%) CP (% DM) NDF (% DM) GE (Kcal/kg DM)
Xanh 13,77 8,40 18,35 4.050
Ương 12,59 6,77 10,54 4.115 Quả chuối tiêu
Chín 14,10 6,75 10,17 4.019
Xanh 8,58 10,27 29,91 3.738
Ương 9,82 8,54 27,37 3.987 Vỏ chuối tiêu
Chín 9,57 8,44 29,84 3.845
Xanh 19,70 8,21 10,58 4.063
Ương 17,54 6,06 4,49 4.086 Ruột chuối tiêu
Chín 21,70 5,41 3,46 4.031
Hoa chuối tiêu 7,53 18,17 44,27 4.115
Thân cây chuối tiêu 7,83 2,76 36,20 3.734
Kết quả Bảng 2 cho thấy: Hàm lượng
DM ở quả chuối cao hơn so với hoa và thân
cây chuối. Hàm lượng protein thô (CP) của
quả chuối giảm dần từ theo các giai đoạn
chín của chuối từ 8,40% ở quả chín xuống
6,77% quả ương và 6,75% ở quả chín,
tương tự đối với vỏ chuối và ruột chuối;
thân cây chuối đạt tỷ lệ thấp nhất (2,67%).
Tỷ lệ NDF cao nhất ở hoa chuối (44,27%) và
thấp nhất ở ruột chuối chín (3,46%). Tỷ lệ
NDF ở quả chuối xanh cao hơn nhiều so
với quả chuối ương và chín (18,35% so với
10,54% và 10,17%). Giá trị năng lượng thô
(GE/kg DM) của các bộ phận khác nhau
của cây chuối dao động từ 3.734 đến
4.115kcal.
Theo Babatunde (1992), các bộ phận
của cây chuối tiêu được sử dụng làm thức
ăn chăn nuôi lợn, riêng quả chuối được sử
dụng làm thức ăn chăn nuôi dưới nhiều
dạng (chuối xanh, chín dạng tươi hay khô,
chuối xanh được nấu chín, ủ chua...).
DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI
14 KHKT Chăn nuôi Số 8 - 2013
Theo nghiên cứu của Tinnagon và ctv
(1999), vỏ chuối tiêu xanh, ương và chín có
hàm lượng protein thô (CP) lần lượt là 5,19;
6,61 và 4,77%; tỷ lệ xơ thô (CF) lần lượt là
11,58; 11,10 và 11,95%; giá trị năng lượng thô
GE lần lượt là 4.383; 4.692 và 4.592 kcal/kg
DM. Như vậy, hàm lượng CP của vỏ chuối
xanh, ương và chín trong nghiên cứu này cao
hơn nhưng giá trị GE lại thấp hơn so kết quả
nghiên cứu của các tác giả trên.
Ly và Delgado (2005) cho biết, hàm
lượng protein thô (CP), xơ thô (CF) của quả
chuối tiêu xanh “banana” và chuối lá xanh
“plantain” lần lượt là 4,9; 3,5% và 6,6; 5,4%.
Kết quả phân tích của Viện Chăn nuôi quốc
gia (2001) cho biết, hàm lượng protein thô,
xơ thô trong quả chuối chín lần lượt là 1,70
và 2,20%. Như vậy, kết quả về hàm lượng
protein thô, xơ thô của quả chuối xanh và
chín trong nghiên cứu này cao hơn so với
các tác giả nêu trên. Điều này có thể là do
giai đoạn thu mẫu, vùng nghiên cứu và
giống chuối khác nhau.
Hàm lượng protein thô (2,67%) và xơ
thô (36,20%) của thân cây chuối trong
nghiên cứu này cao hơn so với kết quả
nghiên cứu của Bùi Quang Tuấn và
Nguyễn Văn Hải (2004) và Viện Chăn nuôi
quốc gia (2001) (0,65%; 0,60% CP và 1,62%;
0,2% CF), nhưng lại thấp hơn kết quả
nghiên cứu của Heuzé và ctv (2011) (3-4,5%
CP và 50-70% CF). Điều này có thể là do có
sự khác nhau về vùng nghiên cứu và giai
đoạn lấy mẫu.
Giá trị năng lượng thô (GE/kg DM) của
thân cây chuối trong nghiên cứu đều ở
mức cao (3.734 kcal) nhưng kết quả này
thấp hơn kết quả nghiên cứu của García
(1996) (3.934 kcal).
Như vậy, hầu hết các bộ phận của cây
chuối tiêu sử dụng làm thức ăn chăn nuôi
lợn đã được các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu từ lâu. Đặc biệt, quả chuối tiêu
có hàm lượng chất dinh dưỡng cao, giá trị
năng lượng ở mức cao ngang bằng với các
nhóm thức ăn cung cấp năng lượng.
3.1.2. Tỷ lệ tiêu hoá in vitro chất dinh
dưỡng của chuối tiêu
Tỷ lệ tiêu hóa in vitro vật chất khô
(DM), protein (CP) và năng lượng (GE) của
thân, hoa và quả chuối đều đạt mức cao
(Bảng 3). Tỷ lệ tiêu hóa in vitro DM, CP và
GE ở quả chuối xanh thấp hơn nhiều so với
chuối ương và chín (44,04% so với 81,43 và
85,44%).
Bảng 3. Tỷ lệ tiêu hoá in vitro các chất dinh dưỡng của chuối tiêu
Loại thức ăn DM (%) CP (%) GE (%)
xanh 44,04 70,36 44,90
ương 81,43 75,65 55,52 Quả chuối tiêu
chín 85,44 78,60 54,04
xanh 45,45 76,20 38,51
ương 57,66 74,28 53,18 Vỏ chuối tiêu
chín 60,33 73,27 50,70
xanh 47,18 70,49 51,32
ương 86,24 73,35 56,85 Ruột chuối tiêu
chín 92,76 79,22 58,34
Hoa chuối tiêu 41,07 59,79 39,44
Thân cây chuối tiêu 40,26 53,02 38,17
DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI
KHKT Chăn nuôi Số 8 - 2013 15
Theo kết quả nghiên cứu của Ffoulkes
và Preston (1978), tỷ lệ tiêu hóa của thân
cây chuối cao hơn so với lá chuối (75% so
với 65%). Hàm lượng tannin ở lá chuối cao
dẫn đến tỷ lệ tiêu hóa chậm hơn so với
thân cây chuối (Marie-Magdeleine và ctv,
2010). Ly và ctv (2002) cho biết, tỷ lệ tiêu
hóa in vitro DM của rau dền, lá đậu đũa, lá
sắn, lá chuối tiêu, lá lúa non, lá mía và lá
đậu nhung sử dụng làm thức ăn cho lợn
thịt được trồng tại Chamcar Daung
(Campuchia) lần lượt là 41,1; 40,5; 64,1;
22,4; 9,9; 7,6 và 38,7% và tiêu hóa in vitro
CP tương ứng là 51,5; 50,0; 68,0; 32,0; 49,1;
3,7 và 50,6%. Công bố của Ly và Preston
(2001) cho biết, tiêu hóa in vitro CP của lá
đậu đũa, lá chuối, lá sắn, thân lá lạc và lá
lúa non sử dụng làm thức ăn cho lợn thịt
được trồng tại phía Nam - Việt Nam tương
ứng là 25,3; 33,9; 57,8; 45,8; 0,2%. Công bố
của García (1996) cho biết, tiêu hóa in vitro
DM và CP của lá và thân cây chuối tiêu lần
lượt là 29,5 và 29,19%. Như vậy, tỷ lệ tiêu
hóa in vitro vật chất khô và protein của một
số bộ phận cây chuối tiêu sử dụng làm
thức ăn cho lợn trong nghiên cứu này nằm
ở mức cao hơn so với kết quả nghiên cứu
được các tác giả công bố ở trên.
3.2. Tỷ lệ tiêu hóa in vivo DM, OM, CP và
GE của khẩu phần chuối xanh và chín ở
lợn sinh trưởng
Kết quả về tỷ lệ tiêu hóa in vivo một số
chất dinh dưỡng trong khẩu phần chuối
xanh và chuối chín của lợn sinh trưởng
được trình bày ở Bảng 4. Lượng thức ăn
cho ăn của các lô thí nghiệm đều được
cho ăn hạn chế để giảm tối đa lượng thức
ăn dư thừa. Ngoài ra, điều chỉnh lượng
thức ăn cho ăn dựa vào khả năng thu
nhận thức ăn hàng ngày của lợn ở các lô
thí nghiệm. Kết quả cho thấy, lượng thức
ăn thu nhận cao nhất ở lô đối chứng (ĐC),
tiếp đến lô chuối chín (TN2) và thấp nhất ở
lô chuối xanh (TN1) (1.404,00; 1.329,25 và
1.306,20 g/ngày tương ứng) nhưng không
sai khác thống kê (P>0,05).
Bảng 4 . Tỷ lệ tiêu hóa in vivo một số chất dinh dưỡng trong khẩu phần (tính theo DM)
Chỉ tiêu ĐVT
Đối chứng (ĐC)
(n = 8)
Chuối xanh (TN1)
(n = 8)
Chuối chín (TN2)
(n = 8)
KL TA cho ăn g/ngày 1.422,21 ± 38,04 1.353,54 ± 44,92 1.365,07 ± 55,16
KL TA thu nhận g/ngày 1.404,00 ± 36,12 1.306,20 ± 44,93 1.329,25 ± 51,66
DM % 84,76 ± 1,14 85,70 ± 1,29 81,69 ± 1,11
OM (%) 85,09 ± 1,15 85,89 ± 1,27 81,90 ± 1,13
CP % 83,27 ± 0,94 81,65 ± 1,54 79,14 ± 1,01
Tỷ lệ tiêu hóa
GE % 84,09 ± 1,46 86,00 ± 2,35 80,25 ± 1,86
Tỷ lệ tiêu hóa in vivo DM, OM, CP và
GE của lô TN1 (chuối xanh) tương đương
với lô ĐC và cao hơn so với lô TN2 (chuối
chín), nhưng không sai khác thống kê
(P>0,05). Tỷ lệ tiêu hóa in vivo DM của lô
chuối xanh cao hơn so với lô chuối chín và
ĐC lần lượt là 4% và 0,94%. Tỷ lệ tiêu hóa in
vivo OM ở lô chuối xanh là cao nhất và cao
hơn lô chuối chín và lô ĐC lần lượt là 3,99%
và 0,8%. Tỷ lệ tiêu hóa CP giảm dần từ lô
ĐC, TN1 và TN2. Tỷ lệ tiêu hóa GE ở lô
chuối xanh cao nhất và cao hơn lô ĐC và lô
chuối chín lần lượt là 1,91 và 5,75%.
DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI
16 KHKT Chăn nuôi Số 8 - 2013
Công bố của Ly và Delgado (2005) cho
biết, khi thay 20% ngô bằng chuối xanh
(tính theo DM) thì tỷ lệ tiêu hóa DM, OM,
CP ở khẩu phần chuối xanh thấp hơn so
với ĐC (73,60; 74,20; 63,80 và 78,20; 79,20;
79,90%). Kết quả nghiên cứu của Hector
Clavijo và Maner (1972) cho thấy, chuối có
thể coi là nguồn bổ sung năng lượng,
vitamin và khoáng; có thể thay thế 50% hạt
ngũ cốc bằng chuối tiêu xanh dạng bột
trong khẩu phần ăn của lợn nái ở giai đoạn
mang thai và tiết sữa mà không ảnh hưởng
đến sức sản xuất của lợn nái. Thông báo
của Clavijo và Maner (1973) (dẫn theo
Clavijo và Maner, 1975) cho biết, tỷ lệ tiêu
hóa tổng số chất dinh dưỡng của quả chuối
tiêu xanh dạng khô cao hơn so với chuối
tiêu chín dạng khô (80,94 so với 57,39%).
Tuy nhiên, Ly và Delgado (2005) cho
biết, hàm lượng tannin cao trong quả chuối
đã làm giảm tỷ lệ tiêu hóa protein khẩu
phần. Von Leosecke (1950, dẫn theo Clavijo
và Maner, 1975) cho biết, hàm lượng tannin
tổng số trong chuối không thay đổi nhiều
trong quá trình chín mà nó chỉ thay đổi cấu
trúc của tannin hoạt động “free or active
tannin”, từ đó làm ảnh hưởng đến tính
ngon miệng trong khẩu phần ăn của lợn.
Babatunde (1992) cho biết, quả chuối xanh
dạng tươi có nhiều tannin hoạt động nên
làm giảm lượng enzyme proteolytic trong
đường tiêu hóa dẫn đến làm giảm khả
năng tiêu hóa chất dinh dưỡng.
Như vậy, kết quả về tỷ lệ tiêu hóa in
vivo protein trong khẩu phần chuối xanh và
chuối chín dạng bột của lợn sinh trưởng
trong nghiên cứu này phù hợp với những
công bố của Clavijo và Maner (1973). Tỷ lệ
tiêu hóa CP trong khẩu phần chuối xanh
cao hơn khẩu phần chuối chín có thể một
phần là do hàm lượng CP trong chuối xanh
cao hơn chuối chín. Mặt khác, chuối xanh
có hàm lượng chất xơ hòa tan (đường đa
oligosaccharide) cao hơn chuối chín nên đã
kích thích sự phát triển của vi khuẩn có lợi
và ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại
trong đường tiêu hóa của lợn, từ đó làm
tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của gia súc.
Clavijo và Maner (1973, dẫn theo Clavijo
và Maner (1975) cho biết khi sử dụng chuối
xanh và chuối chín dạng tươi trong khẩu
phần ăn ở lợn sinh trưởng đều cho kết quả
tương tự nhau về tỷ lệ tiêu hóa chất dinh
dưỡng và trao đổi năng lượng. Tuy nhiên,
khi sử dụng quả chuối xanh và chín dạng
khô trong khẩu phần ăn của lợn sinh trưởng
thì khẩu phần chuối xanh lại tốt hơn so với
khẩu phần chuối chín. Clavijo và Maner
(1972) cho biết, chuối chín sẽ không khô ở
nhiệt độ 600C vì đường khô nằm ở ngưỡng
nhiệt độ cao hơn và sử dụng chuối chín dạng
khô làm thức ăn cho lợn thì tỷ lệ tiêu hóa
năng lượng giảm rõ rệt (do phải sấy khô ở
nhiệt độ cao đã ảnh hưởng đến cấu trúc bình
thường của các chất, đặc biệt có thể gây nên
phản ứng Maillard đã làm giảm tỷ lệ tiêu hóa
protein và đường). Clavijo và Maner (1973,
dẫn theo Clavijo và Maner (1975) cho biết,
năng lượng tiêu hóa (kcal/kg DM) của chuối
tiêu xanh dạng khô cao hơn so với chuối chín
dạng khô (3.207 so với 1.703 kcal/kg DM).
Kết quả về tỷ lệ tiêu hóa in vivo GE của khẩu
phần chuối xanh và chuối chín trong nghiên
cứu này là hoàn toàn phù hợp với một số
công bố nêu trên.
Như vậy, khi bổ sung thay thế 15% ngô
bằng quả chuối tiêu xanh và chín dạng khô
trong khẩu phần ăn ở lợn sinh trưởng thì tỷ
lệ tiêu hóa in vivo DM, OM, GE của khẩu
phần chuối xanh tốt hơn khẩu phần chuối
DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI
KHKT Chăn nuôi Số 8 - 2013 17
chín và khẩu phần đối chứng. Riêng tỷ lệ
tiêu hóa CP của lô chuối xanh có phần thấp
hơn lô đối chứng nhưng lại cao hơn so với
lô chuối chín.
3.3. Hiệu quả sử dụng nitơ của khẩu phần
thí nghiệm
Khả năng tiêu hóa và sử dụng nitơ của
khẩu phần được trình bày ở Bảng 5. Kết
quả cho thấy lượng nitơ ăn vào của lô ĐC
là cao nhất (35,02 g/ngày), tiếp đến ở lô TN2
(32,95 g/ngày) và thấp nhất ở lô TN1 (32,26
g/ngày), nhưng không sai khác thống kê
(P>0,05). Lượng nitơ thải ra qua đường
phân cao nhất ở lô TN2 (6,77 g/ngày), tiếp
đến ở lô TN1 (6,01 g/ngày) và thấp nhất ở lô
ĐC (5,86 g/ngày) (P>0,05).
Bảng 5. Hiệu quả sử dụng nitơ (N) của khẩu phần thí nghiệm
Chỉ tiêu
ĐVT
Đối chứng (ĐC)
(n = 8)
Chuối xanh (TN1)
(n = 8)
Chuối chín (TN2)
(n = 8)
Lượng N ăn vào g/ngày 35,02±9,76 32,16±9,62 32,95±12,18
Tổng số N thải ra g/ngày 19,22a±1,94 16,35b±3,56 18,79a±2,31
N phân g/ngày 5,86±2,82 6,01±4,22 6,77±1,84
N nước tiểu g/ngày 13,36a±2,97 10,34b±4,00 12,02ab±4,61
Tỷ lệ N thải ra % 100,00 85,07 97,76
Lượng N sử dụng g/ngày 15,80a±4,24 15,81a±5,64 14,16b±6,14
Hiệu quả sử dụng N % 45,12ab 49,16a 42,97b
Ghi chú: Những chữ cái không giống nhau trong cùng hàng thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Lượng nitơ thải ra qua nước tiểu ở lô
ăn chuối xanh là thấp nhất và cao nhất ở lô
ĐC và có sự khác nhau rõ rệt giữa lô ăn
chuối xanh so với lô ĐC và lô chuối chín
(10,34 g/ngày so với 13,36 và 12,02 g/ngày)
(P<0,05). Tổng số nitơ thải ra ở lô chuối
xanh là thấp nhất, tiếp đến lô chuối chín và
cao nhất ở lô ĐC (tương ướng là 16,35;
18,79 và 19,22 g/ngày). Tỷ lệ nitơ được sử
dụng/tổng nitơ ăn vào ở lô chuối xanh
(49,16%) cao hơn so với lô ĐC (45,12%) và
lô chuối chín (42,97%) (P<0,05).
Như vậy, việc thay thế 15% ngô bằng
chuối xanh và chuối chín trong khẩu phần
ăn của lợn sinh trưởng đã tăng lượng nitơ
thải ra theo đường phân nhưng đã làm
giảm lượng nitơ thải ra theo đường nước
tiểu và giảm tổng số nitơ thải ra. Lượng
nitơ thải ra theo đường nước tiểu ở khẩu
phần chuối xanh thấp hơn so với khẩu
phần chuối chín. Đồng thời, tỷ lệ nitơ
được sử dụng so với tổng nitơ ăn vào ở lô
chuối xanh cao hơn so với lô chuối chín.
Do đó, sử dụng chuối xanh thay thế thức
ăn năng lượng trong khẩu phần ăn của lợn
sinh trưởng đã làm tăng hiệu quả sử dụng
nitơ và có thể làm thay đổi sự chuyển
hướng bài tiết nitơ nước tiểu sang bài tiết
nitơ theo đường phân dưới dạng protein
vi sinh vật. Quá trình phân giải nitơ ở
phân diễn ra chậm hơn sẽ tránh được ô
nhiễm môi trường. Đây là một tín hiệu
mới giúp các nhà dinh dưỡng lựa chọn
nguyên liệu thức ăn trong việc phối hợp
khẩu phần ăn cho lợn.
DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI
18 KHKT Chăn nuôi Số 8 - 2013
4. KẾT LUẬN
Trong cây chuối tiêu, hoa chuối có tỷ lệ
CP và NDF cao nhất. Trong các giai đoạn
chín của quả chuối tiêu, hàm lượng CP,
NDF giảm dần từ khi chuối xanh đến ương
và chín. Đặc biệt, giá trị năng lượng của
chúng tương đương với nhóm thức ăn giàu
năng lượng.
Tỷ lệ tiêu hóa in vitro DM, CP và GE
của quả chuối cao hơn thân và hoa chuối.
Tỷ lệ tiêu hóa in vitro một số chất dinh
dưỡng có xu hướng tăng dần từ quả chuối
tiêu xanh ương chín.
Tỷ lệ tiêu hóa in vivo DM, OM, CP và
GE trong khẩu phần chuối xanh cao hơn so
với khẩu phần chuối chín. Đồng thời, khẩu
phần chuối xanh đã làm giảm lượng nitơ
thải ra qua đường nước tiểu và làm tăng
hiệu quả sử dụng nitơ trong khẩu phần ăn
của lợn sinh trưởng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. AOAC (1990). Officical Methods of Analyis (15th
Ed.). Association of Offical Analytical Chemists,
Arlington, VA.
2. Babatunde G.M. (1992), "Availability of banana
and plantain products for animal feeding. In: Roots,
tubers, plantains and bananas in animal feeding",
FAO Animal Production and Health, Paper
No.95, Rome, pp. 251-276.
3. Clavijo H. and Maner J.H. (1972), "The use of
waste bananas for swine feed", Centre International
de Agriculture Tropical, CIAT Colombia.
4. Clavijo H. and Maner J.H. (1975), "The use of
waste bananas for swine feed. In: Animal Feeds of
Tropical and Sub-trpical Origin", Tropical
Products Institute London, pp. 99-106.
5. Dierick N., Vervaeke I., Decuypere J. and
Henderickx H. (1985), "Protein digestion in pigs
measured in vivo and in vitro. In: Digestive
physiology in the pig (Editors: A Just, H Jorgensen
and J A Fernandez)", 580 Beretnig Statens
Husdyrbrugsforsog, Copenhagen, pp. 329-332.
6. FAO (2012). Agricultural data - FAOSTAT,
7. Ffoulkes D. and Preston T.R. (1978), "The banana
plant as cattle feed: digestibility and voluntary intake
of different proportions of leaf and pseudostem",
Trop. Anim. Prod., 3 (2), pp. 114-117.
8. García A. (1996), "Chemical composition of plantain
foliage meal (musa paradisiaca)", Revista
Computadorizada de Producción Porcina,, 3 (2). URL:
n/rev21/ARISTIDE.htm.
9. Heuzé V., Tran G. and Archimède H. (2011),
Banana leaves and pseudostems, A project by
INRA, CIRAD, AFZ and FAO.
10. Le Dividich J. and Canope L. (1975), Chemical
composition, energy value and utilization of banana
in swine feeding in tropical areas. In: Utilization of
Local Ingredients in Animal Feedstuffs,
Kingston, pp. 8.
11. Le Dividich J., Geoffroy F., Canope l. and
Chenost M. (1975), "Using waste bananas as
animal feed", World Animal Review, 3, pp 5-24.
12. Löwgren W., Graham H. and Åman P. (1989),
"An in vitro method for studying digestion in the
pig", British Journal of Nutrition, 61, pp. 673-687.
13. Ly J. and Delgado E. (2005), "Digestion of bananas
and plantains in pig. In vivo and in vitro ileal
digestibility of diets based on green fruits", Revista
Computadorizada de Producción Porcina, 12 (3),
pp. 204-209.
14. Ly J. and Preston T.R . (2001), "In vitro estimates of
nitrogen digestibility for pigs and water-soluble nitrogen
are correlated in tropical forage feeds", Livestock
Research for Rural Development, 13 (1). URL:
18/8/2012.
15. Ly J., Samkol P. and Preston T.R. (2002),
"Nutritional evaluation of aquatic plants for pigs:
pepsin/pancreatin digestibility of six plant species",
Livestock Research for rural Development, 14 (1).
URL:
Cited: 18/8/2012.
16. Marie-Magdeleine C., Boval M., Philibert L.,
Borde A. and Archimède H. (2010), "Effect of
DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHĂN NUÔI
KHKT Chăn nuôi Số 8 - 2013 19
banana foliage (Musa x paradisiaca) on nutrition,
parasite infection and growth of lambs", Livestock
Science, 131 (2-3), 234-239.
17. Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 662-2005, NXB Khoa
học kỹ thuật Hà Nội.
18. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN-4326 (2001), NXB
Khoa học kỹ thuật Hà Nội.
19. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN-4328 (2001), NXB
Khoa học kỹ thuật Hà Nội.
20. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN-4325 (2007), NXB
Khoa học kỹ thuật Hà Nội.
21. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN-4327 (1993), NXB
Khoa học kỹ thuật Hà Nội.
22. Tinnagon T., Nitima C., Therdchai V. and Udo
ter M. (1999), "The Nutritive Value of Banana Peel
in Growing Pigs", Deutscher Tropentag 1999 in
Berlin. Session: Sustainable Technology
Development in Animal Agricultre), pp. 1-4.
23. Bùi Quang Tuấn và Nguyễn Văn Hải (2004),
"Nghiên cứu sử dụng thân cây chuối lá làm thức ăn
cho bê sữa lai sinh trưởng trong vụ Đông", Tạp chí
KHKT Nông nghiệp, 2 (1), tr. 52-55.
24. Viện Chăn nuôi quốc gia (2001), Thành phần và
giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc gia cầm Việt
Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp. tr. 128-179.
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG VÀ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG
MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN XANH DÙNG NUÔI LỢN
TRONG NÔNG HỘ Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM
Trần Hiệp1*, Đỗ Thị Huế2, Nguyễn Văn Duy2, Nguyễn Công Oánh2, Lê
Hữu Hiếu1, Hà Xuân Bộ1, J. Bindelle3, A. Thewis3và Vũ Đình Tôn1,2
Ngày nhận bài: 21/05/2013. Ngày bài được chấp nhận đăng: 03/06/2013
TÓM TẮT
Nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng và giá trị dinh dưỡng của một số loại cây làm thức ăn
(TA) xanh trong chăn nuôi lợn nông hộ ở miền Bắc Việt Nam được điều tra tại 3 tỉnh Hải Dương,
Phú Thọ và Hòa Bình từ tháng 5/2010 đến tháng 5/2011. Thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng và
tỷ lệ tiêu hóa in vitro của các mẫu được phân tích tại phòng thí nghiệm của Bộ môn Dinh dưỡng
Động vật (Trường ĐH Liège - Gembloux, Vương Quốc Bỉ). Kết quả cho thấy có nhiều loại TA xanh
sử dụng cho chăn nuôi lợn nông hộ, loại được sử dụng nhiều nhất ở cả 3 vùng là khoai lang
(98,89%), khoai nước (58,89%) và chuối (64,45%). Ngoài mục đích tận dụng nguồn xơ, một số loại
TA xanh còn có tác dụng chữa hội chứng tiêu chảy, hội chứng lợn con ỉa phân trắng, chống táo bón
hoặc tăng tiết sữa. Hàm lượng dinh dưỡng của các loại TA xanh biến động rất lớn: từ 4,76% đến
29,71%, từ 2,76% đến 25,30%, từ 10,17% đến 44,27%, từ 3,69% đến 20,00% và từ 3232,92 Kcal đến
1 Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
2 Trung tâm nghiên cứu liên ngành phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
3 Bộ môn Dinh dưỡng Thức ăn, Trường Đại học Liège (Bỉ).
* Tác giả để liên hệ: TS. Trần Hiệp, Giảng viên, Phó Trưởng Bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa, Khoa Chăn nuôi & Nuôi
trồng Thủy sản, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội. Điện thoại: 0915 094 819. Email:
hiep26@yahoo.com
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tieu_hoa_in_vitro_cac_chat_dinh_duong_trong_chuoi_tieu_va_ti.pdf