3-Các sinh kế mới được định hướng vào làm gia tăng các giá trị tài nguyên như thay đổi tập
đoàn cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái và độ dốc của địa hình; quy mô và tổ chức diện
tích canh tác hợp lý, kỹ thuật, công nghệ phù hợp để làm gia tăng độ màu mỡ của đất, chống xói
mòn, rửa trôi thay cho thành lập các trang trại cao su hiện nay. Cần phát huy tri thức địa phương
của đồng bào trong canh tác nương rẫy trước đây để tạo ra kỹ thuật canh tác, thời gian đất nghỉ
phù hợp nhằm hồi phục độ phì nhiêu của đất theo diễn thế tự nhiên. Các mô hình canh tác phải là
đặc trưng của từng vùng đất, chưa chắc mô hình đạt kết quả ở vùng đất này đã là có hiệu quả ở
vùng đất khác.
Đối với sinh kế lâm nghiệp, không phải trồng cây rừng, có gỗ để khai thác là đảm bảo yêu
cầu mà sinh kế lâm nghiệp cần được chuyển đổi sang các giá trị nhiều mặt của rừng như các giá
trị về môi trường; đặc biệt là tạo lập các rừng cây gỗ lớn, dài ngày để có được tán rừng nhằm phát
triển lâm sản ngoài gỗ tạo thêm các giá trị tài nguyên rừng. Trong đó hướng đi quan trọng là tạo
nên các cây đặc sản, cây thuốc có giá trị làm nguyên liệu cho hướng du lịch nghỉ dưỡng, chữa
bệnh bên cạnh du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, mà nhiều nước trong khu vực đã triển khai.
Sinh kế thủy sản gắn với nuôi trồng trên lòng hồ và làm thành cơ sở cho chuỗi du lịch sinh
thái của địa phương để hiện thực hóa chủ trương phát triển KT-XH các vùng TĐC dựa trên lợi thế
của hồ thủy điện.
4-Cần tạo lập môi trường xã hội ổn định, đồng thuận ở các vùng TĐC cho cùng một mục tiêu
phát triển, không phân biệt người ở tại chỗ hay người mới định cư mà coi định hướng phát triển là
của chung cộng đồng theo đúng nghĩa của cộng đồng làng bản trong xã hội truyền thống. Có được
điều đó mới tạo nên được địa chỉ (chỉ dẫn địa lý) của các sản phẩm tạo ra và mới xây dựng được
thương hiệu cho các sản phẩm của địa phương trên thị trường.
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tìm hiểu nhận thức của người dân tái định cư đối với giá trị và sự biến đổi của các nguồn tài nguyên và đề xuất một số mô hình hệ kinh tế sinh thái thuộc phạm vi lưu vực hồ thủy điện Sơn La, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
196
HNUE JOURNAL OF SCIENCE DOI: 10.18173/2354-1059.2019-0023
Natural Sciences 2019, Volume 64, Issue 3, pp. 196-206
This paper is available online at
TÌM HIỂU NHẬN THỨC CỦA NGƢỜI DÂN TÁI ĐỊNH CƢ ĐỐI VỚI GIÁ TRỊ
VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ MÔ HÌNH
HỆ KINH TẾ SINH THÁI THUỘC PHẠM VI LƢU VỰC HỒ THỦY ĐIỆN SƠN LA
Nguyễn Ngọc Khánh1, Đỗ Văn Thanh2 và Nguyễn Thị Hồng Nhung3
1
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
2Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
3
Khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc
Tóm tắt. Công trình thủy điện Sơn La được xây dựng và đi vào hoạt động đã gây nhiều biến
động cho các nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản như đất, nước, rừng. Quá trình biến động
này cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của người dân thuộc phạm vi lưu vực hồ thủy
điện Sơn La, đặc biệt là người dân tái định cư di vén sống ở ven hồ. Nhiều giá trị kinh tế, văn
hóa, môi trường của các nguồn tài nguyên bị biến đổi đòi hỏi người dân phải có những thay
đổi về nhận thức của bản thân họ đối với giá trị của các nguồn tài nguyên hiện có. Trong
phạm vi nghiên cứu của bài báo, tác giả đã tập trung khảo sát các mô hình hệ kinh tế sinh thái
hiện có của 70 hộ dân thuộc 5 bản của xã Chiềng Lao, huyện Mường La (thuộc phạm vi lưu
vực hồ thủy điện Sơn La) để thấy rõ sự thay đổi trong cách suy nghĩ, cách ứng xử của người
dân với mức độ biến đổi của tự nhiên dẫn đến sự khác biệt ở hợp phần cấu thành nên các mô
hình. Từ thực tế điều tra 8 mô hình hiện có, cho thấy, các hợp phần chủ đạo, truyền thống như
ruộng, vườn, nương rẫy, chuồng tiếp tục được người dân duy trì song có sự khác biệt về quy
mô; đồng thời xuất hiện hai hợp phần mới là nuôi trồng thủy sản và du lịch - phù hợp với sự
xuất hiện, mở rộng diện tích mặt nước khi lòng hồ thủy điện được hình thành.
Từ khóa: Thủy điện Sơn La, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, mô hình, hệ kinh tế sinh thái.
1. Mở đầu
Thủy điện Sơn La (TĐSL) là một trong ba bậc thang quan trọng khai thác tiềm năng năng
lượng trên dòng chính sông Đà, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) Việt Nam. Tuy được về mặt năng lượng, nhưng việc hình
thành hồ TĐSL cũng đã gây nên những biến động không nhỏ về quỹ tài nguyên cơ bản (đất, nước,
rừng) vốn là tiền đề phục vụ sinh kế truyền thống của đồng bào rẻo thấp (chủ yếu là đồng bào
Thái) tại vùng thuộc phạm vi ảnh hưởng của công trình. Bởi vậy, việc khai thác các giá trị kinh tế
đi đôi với vấn đề ổn định xã hội và bảo vệ môi trường vẫn luôn là bài toán đòi hỏi cần giải quyết
thấu đáo, đảm bảo tính bền vững lâu dài cho công trình, cho cuộc sống của người dân. Mặt khác,
bản thân người dân - là đối tượng trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi những tác động do công trình thủy
điện cũng cần có nhận thức đúng đắn về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên
hiện có. Sự “thích ứng” được xem là cách thức phù hợp nhất để người dân “ứng phó” với những
sự thay đổi từ môi trường tự nhiên xung quanh họ.
Ngày nhận bài: 6/3/2019. Ngày sửa bài: 19/3/2019. Ngày nhận đăng: 26/3/2019.
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Hồng Nhung. Địa chỉ e-mail: nhungnguyen@utb.edu.vn
Tìm hiểu nhận thức của người dân tái định cư đối với giá trị và sự biến đổi của các nguồn tài nguyên
197
Không gian lưu vực hồ TĐSL trong phạm vi nghiên cứu của bài báo (gọi tắt là lưu vực hồ
TĐSL) được xác định là một phần diện tích cung cấp nước cho hồ TĐSL, bao gồm phạm vi của
dòng chảy chính và hệ thống 16 phụ lưu cấp cuối cùng đổ vào lưu vực hồ, được xác định trên cơ
sở không gian quy hoạch lâm phận phòng hộ đầu nguồn Việt Nam, có điều chỉnh lại ranh giới trên
bản đồ địa hình tỉ lệ 1:50.000. Theo đó, diện tích lưu vực hồ TĐSL bao gồm cụm nhà máy thủy
điện và một hồ chứa nước với diện tích 315.850 ha [1] thuộc phạm vi hành chính của 3 trong 6
tỉnh vùng Tây Bắc là Lai Châu, Điện Biên, Sơn La. Số dân bị ảnh hưởng trong vùng lưu vực này
trên địa bàn tỉnh Sơn La phải di dời, tái định cư (TĐC) là nhiều nhất với khoảng 17.996 hộ
(18.897 cả các hộ ở mức nước dềnh), 62.394 người dân, trong đó, đồng bào Thái chiếm khoảng 90 %
số hộ TĐC [2]. Lẽ dĩ nhiên, cuộc sống của người dân thuộc diện di dân TĐC trong thời gian qua
đã có những thay đổi không nhỏ từ phương thức sản xuất, điều kiện sản xuất, điều kiện khí hậu,
nguồn nước... tất cả cần phải thích ứng với điều kiện mới. Thực tiễn cũng chỉ ra rằng tính bền
vững tại một số điểm di dân TĐC TĐSL chưa cao; còn tồn tại nhiều hạn chế; tình trạng thiếu đất
sản xuất, thiếu nước, thiếu vốn, thiếu kĩ thuật... ở nhiều điểm di dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng
dọc theo lòng hồ TĐSL [3].
Hình 1. Sơ đồ vị trí lưu vực hồ thủy điện Sơn La
Tài nguyên biến động, điều kiện tại nhiều nơi ở mới chưa thực sự phù hợp. Câu hỏi đặt ra là
người dân TĐC cần phải thay đổi như thế nào về nhận thức, về cách thức sản xuất để có thể phù
hợp với điều kiện mới? Tất yếu, nhận thức cần phải được nâng cao và việc hướng tới các mô hình
hệ kinh tế sinh thái (KTST) nhằm tận dụng nguồn lợi tự nhiên, thế mạnh nhân lực, nguồn vốn hỗ
trợ... để có dần cải thiện sinh kế cho các hộ gia đình (HGĐ) là định hướng hiệu quả hiện nay.
Theo nghiên cứu của tác giả tại một số HGĐ thuộc khu vực huyện Tủa Chùa, Sìn Hồ, Quỳnh Nhai
và Mường La thì các mô hình truyền thống điển hình như mô hình kinh tế vườn - chuồng, phát
triển nông - lâm kết hợp, mô hình rừng - vườn - ruộng... được duy trì ở các khu vực còn nhiều khó
khăn, sự phụ thuộc vào tự nhiên lớn. Các mô hình hệ KTST có sự kết hợp của các yếu tố mới như
nuôi trồng thủy sản, du lịch sinh thái, chăn nuôi theo hình thức tập trung... đang được đẩy mạnh
tại các khu vực có điều kiện tốt hơn, nguồn vốn, kĩ thuật được đảm bảo.
Nguyễn Ngọc Khánh, Đỗ Văn Thanh và Nguyễn Thị Hồng Nhung
198
Cũng từ thực tế trên, việc thực hiện các nghiên cứu tập trung vào một số mô hình hệ KTST
HGĐ tại các bản điển hình thuộc diện TĐC cả di cư tập trung và di cư tại chỗ (di vén hay xen
ghép) trong quá trình ổn định dân cư bị ảnh hưởng của công trình TĐSL có ý nghĩa quan trọng.
Bài báo này đã lấy kết quả khảo sát tại một trong các điểm chìa khóa thuộc phạm vi lưu vực hồ
thủy điện Sơn La để chứng minh sự thay đổi trong nhận thức của người dân đã dẫn đến sự đa dạng
trong hoạt động sinh kế của họ và hơn hết là phù hợp với sự biến đổi của các nguồn tài nguyên
hiện có. Bởi vậy, qua việc nghiên cứu tại các điểm được lựa chọn đã cho thấy mức độ quan trọng
cần tích cực thay đổi nhận thức của người dân về vai trò của họ khi ứng xử với các nguồn tài
nguyên thiên nhiên truyền thống bằng nhiều cách thức khác nhau; đồng thời chỉ rõ cho họ phương
thức thay đổi sinh kế phù hợp với điều kiện tự nhiên, với tiềm lực hiện có của họ nhằm mục tiêu
phát triển bền vững, đảm bảo tính lâu dài, hiệu quả.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để tồn tại và phát triển kinh tế - xã hội, với dân số không ngừng tăng lên theo cấp số nhân,
con người đã tác động mạnh mẽ đến quỹ tài nguyên, hệ quả là làm cho nguồn tài nguyên cạn kiệt
và môi trường suy thoái. Nhằm cân bằng giữa nhu cầu khai thác và khả năng phục hồi, tái tạo tài
nguyên thiên nhiên (TNTN), con người đã chuyển tư duy và hành động để định hướng từ khai
thác sang bảo dưỡng thiên nhiên và hiện nay là khai thác, sử dụng thông minh nguồn lực tự nhiên
bằng phương thức dùng sinh kế làm gia tăng giá trị tài nguyên và sử dụng một phần giá trị gia
tăng đó của tài nguyên để xây dựng sinh kế bền vững (SKBV) [4].
Con người ngoài nhu cầu như một động vật, còn có nhiều nhu cầu khác cho sự phát triển của
xã hội ngày càng phức tạp hơn và chất lượng ngày càng cao hơn trong một biên độ sinh thái lớn,
nhằm nâng cao khả năng tồn tại trong tất cả các điều kiện ngoại cảnh. Con người tạo nên nền
KTST kéo dài nhất trong lịch sử nhân loại mà ban đầu là khai thác các sản phẩm tự nhiên và từ đó
đã tạo ra những hệ sinh thái (HST) nhân tạo có sự tác động một cách sáng tạo của con người.
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, với nền kinh tế tự nhiên truyền thống ở quy mô HGĐ, HST nhân
tạo chưa phá hủy các HST tự nhiên, chưa làm tổn thương cân bằng sinh thái. Trong bối cảnh hiện
đại, với nguồn lực tài nguyên hạn chế, con người cần xây dựng sinh kế mới theo hướng làm gia
tăng giá trị các tài nguyên đã bị chuyển đổi, đồng thời sử dụng khôn khéo nguồn tài nguyên mới
được hình thành thì các mô hình KTST hiệu quả mang ý nghĩa thiết thực cả về giá trị khoa học và
thực tiễn sản xuất cho các HGĐ.
Một mô hình hệ KTST (Ecological Economic System Model) được xem là một hệ KTST cụ
thể được thiết kế và xây dựng trong một vùng sinh thái xác định - nơi diễn ra hoạt động sinh hoạt,
sản xuất, khai thác, sử dụng tài nguyên của con người [5] với ba phân hệ: (i) phân hệ tự nhiên
(năng lượng mặt trời, địa chất – địa hình, khí hậu – thủy văn, thổ nhưỡng – sinh vật), (ii) phân
hệ xã hội (dân cư, dân tộc, khoa học kĩ thuật), (iii) phân hệ sản xuất (nguồn lực, hoạt động sản xuất).
Đáp ứng yêu cầu nghiên cứu hệ KTST, các tiếp cận nghiên cứu trọng tâm là: (1) Tiếp cận
HST hay tiếp cận dựa trên HST nhằm sử dụng khôn khéo và hiệu quả các điều kiện sinh thái trong
hoạt động sinh kế và phát triển kinh tế hộ; (2) Tiếp cận tổng hợp địa lý môi trường nhằm thể hiện
đặc trưng chất lượng không gian sinh kế, với trọng tâm nghiên cứu cơ chế cấu trúc – chức năng
tổng hợp của hệ KTST; (3) Tiếp cận hệ thống nhằm thể hiện các mối liên kết bên trong và bên
ngoài của các hệ KTST.
Các phương pháp chính được sử dụng là: (1) Thu thập, phân tích các nguồn tài liệu thứ cấp
về vấn đề và địa bàn phục vụ định hướng nghiên cứu; (2) Điều tra thực địa để tìm hiểu thực trạng
và phân tích hiệu quả của các mô hình KTST HGĐ ở các khu TĐC được lựa chọn; (3) Viễn thám
và GIS phục vụ nghiên cứu biến động tài nguyên ở các vùng lãnh thổ lưu vực [6].
Tìm hiểu nhận thức của người dân tái định cư đối với giá trị và sự biến đổi của các nguồn tài nguyên
199
2.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.2.1. Nhận thức của cộng đồng dân tộc về giá trị nhiều mặt của tài nguyên đối với đời sống
của họ trong phạm vi lƣu vực hồ thủy điện Sơn La
Tài nguyên thiên nhiên trong truyền thống cũng như trong hiện đại đều có giá trị về nhiều
mặt, bao gồm giá trị kinh tế, giá trị văn hóa và giá trị sinh thái môi trường. Theo đó, trong xã hội
truyền thống, TNTN được xem là nơi đảm bảo sự sinh tồn, là chỗ dựa tinh thần của con người.
Mặt khác với giá trị sinh thái môi trường, TNTN là một trong năm nguồn lực tài nguyên cơ bản
đảm bảo cuộc sống cho cộng đồng dân cư cư trú trong phạm vi lưu vực hồ TĐSL.
Về giá trị về kinh tế, trong xã hội truyền thống của cư dân rẻo thấp (đồng bào dân tộc vùng
lòng hồ), tài nguyên chỉ được xem là tư liệu sản xuất; sang xã hội hiện đại, tài nguyên (cả đất,
rừng và nước) vừa là tư liệu sản xuất, vừa là tài sản, vì thế, giá trị tài sản về tài nguyên ngày nay
có giá trị lớn đối với mặt bằng thu nhập, giá trị kinh tế của các HGĐ và cộng đồng. Điều này cho
thấy, sẽ là tương đối thuận lợi khi giải quyết các vấn đề liên quan đến tài nguyên cho các cộng
đồng có nhận thức về tài nguyên theo tư duy truyền thống và tương đối khó khăn cho các cộng
đồng có tư duy nhận thức về giá trị kinh tế tài nguyên hiện đại. Vấn đề này liên quan đến quyền sở
hữu tài nguyên mà trong quan niệm của xã hội truyền thống vùng dân tộc miền núi, tài nguyên là
sở hữu công cộng, trong đó, quyền sở hữu tài nguyên thuộc về người khai phá, được luật tục cộng
đồng xác định và công nhận, được bảo lưu, truyền từ đời này sang đời khác mà không bị ràng
buộc bởi bất kỳ một loại chứng nhận nào, nhưng trong quy định của xã hội hiện đại, quyền sử
dụng tài nguyên được xác nhận bởi các loại giấy chứng nhận khác nhau. Những bất cập này gây
nên những khó khăn trong việc chia sẻ tài nguyên, đôi khi gây nên những mâu thuẫn, thậm chí có
thể gây xung đột tài nguyên ở các vùng TĐC.
Về giá trị môi trường, TNTN còn đóng góp vào việc làm gia tăng khả năng hấp thụ, lưu giữ
chôn vùi Cácbon để hình thành nên nguồn năng lượng sinh khối; khả năng giữ đất chống xói mòn,
rửa trôi, làm giàu tài nguyên; điều hòa khí hậu, dòng chảy; gia tăng giá trị tăng thêm về HST, về
tài nguyên đa dạng sinh học, Nếu các giá trị này được phát huy đầy đủ có thể tạo lập các SKBV
cho các mô hình hệ KTST dựa vào các HST tự nhiên – nhân tạo trên cơ sở các quy định của pháp luật.
Về giá trị văn hóa, theo quan điểm hiện đại về tài nguyên, tài nguyên không gian được gắn
với không gian văn hóa, tạo nên các giá trị văn hóa, làm thành cội nguồn tâm linh, tâm lý của
đồng bào vùng lòng hồ với quan niệm sống chết nhờ không gian sinh tồn đó. Đó là nơi sinh ra và
là nơi trở về cội nguồn và mỗi dân tộc gắn với không gian cư trú riêng, ví như: “Xá ăn theo lửa,
Thái ăn theo nước, H’Mông ăn theo sương mù”. Trong đó, sinh kế người Xá sống ở rẻo giữa chủ
yếu thực hiện bằng đốt nương làm rẫy; sinh kế người Thái sống ở rẻo thấp gắn với ruộng nước
theo mương - phai - lái - lin), với không gian tâm linh họp thành ba tầng theo trục dọc gồm:
(1) “mường phạ - mường trời - mường then hay mường bôn”, nơi dành cho thượng đế và các thần
linh; (2) mường lùm (mường người thấp), là thế giới của con người và vạn vật và (3) mường boọc
đai (mường của những người lùn sống trong lòng đất) là thế giới của các linh hồn. Theo đó, đã có
những ý kiến cho rằng việc làm ngập chìm một số mường trong lòng hồ Sơn La là làm mất đi giá
trị của không gian văn hóa Thái; sinh kế người H’Mông ở rẻo cao gắn với độ cao của núi rừng –
với sương mù. Song, những đặc trưng về văn hóa, xã hội thường ít được lưu tâm trong các nghiên
cứu TĐC, mặc dù đây là một trong những điều kiện tạo nên sự bền vững của các mô hình hệ
KTST đối với các dân tộc ít người nói chung và ở vùng hồ TĐSL nói riêng. Cũng chính bởi vai
trò vừa sử dụng, vừa quản lí các nguồn TNTN và trực tiếp chịu tác động của các vấn đề nảy sinh
trong phạm vi lưu vực lòng hồ nên hơn hết cần đánh giá được mức độ nhận thức của người dân và
hỗ trợ, góp phần nâng cao nhận thức đó thông qua các hoạt động tuyên truyền, tập huấn [7].
Ngoài ra, các nguồn TNTN còn có các giá trị không sử dụng, phi thương mại và nhiều giá trị
tồn tại khác như giá trị vị thế, giá trị để lại tạo nên các giá trị vô hình đã được cộng đồng thế
Nguyễn Ngọc Khánh, Đỗ Văn Thanh và Nguyễn Thị Hồng Nhung
200
giới thống nhất đánh giá rằng, các giá trị vô hình còn lớn hơn cũng như bền vững hơn giá trị hữu
hình, các giá trị này mới được nhận biết trong xã hội hiện đại với nền văn minh hậu công nghiệp
và trong bối cảnh môi trường tự nhiên toàn cầu suy thoái, quỹ tài nguyên bị suy giảm quá mức.
Như vậy, từ thực tế số lượng và lợi ích do các nguồn tài nguyên có xu hướng thay đổi cũng phần
nào khiến người dân có sự thay đổi rõ nét về nhận thức, suy tính thấu đáo về việc khai thác, sử
dụng các nguồn tài nguyên sẵn có. Đây được xem là cơ sở để định hướng lâu dài các HST nhân
tạo - các mô hình hệ KTST cho đồng bào TĐC từ công trình TĐSL.
2.2.2. Biến động về quỹ tài nguyên cơ bản trên lƣu vực hồ thủy điện Sơn La
Về các giá trị tài nguyên, biến động rõ nét nhất trong quỹ tài nguyên có ảnh hưởng trực tiếp
đến sinh kế dân cư rẻo thấp, đặc biệt là các cộng đồng dân cư người Thái là biến động về quỹ đất
canh tác khi phần lớn quỹ đất này bị ngập chìm trong lòng hồ TĐSL. Nghiên cứu hiện trạng sử
dụng đất canh tác giai đoạn 2005 và 2015 [8] cho thấy, đất sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng
nhiều nhất với tổng diện tích bị ngập chìm là khoảng 1.994,5 ha, trong đó, riêng diện tích đất lúa
là 5.413,7 ha và đất trồng cây công nghiệp lâu năm là 6.793,6 ha - là những diện tích đất sản xuất
chính trong sinh kế đồng bào vùng thấp, dọc các thung lũng lưu vực hồ TĐSL. Vì thế, cần có sự
chuyển hướng sinh kế sang khai thác đất dốc để chuyển hóa thành đất nương rãy và đất trồng cây
công nghiệp, cây ăn quả thay cho sinh kế lúa nước truyền thống.
Bảng 1. Biến động đất sản xuất nông nghiệp lưu vực thủy điện Sơn La (Đơn vị: ha)
Loại hình sử dụng đất 2005 2015 Biến động
1. Đất trồng lúa 16.221,5 10.807,8 -5.413,7
Đất chuyên trồng lúa nước 4.116,2 2.055,8 -2.060,4
Đất trồng lúa nước còn lại 4.917,1 2.803,7 -2.113,4
Đất trồng lúa nương 7.188,3 5.948,3 -1.240
2. Đất trồng cây hằng năm 4.879,1 6.934,5 2.055,4
Đất bằng trồng cây hàng năm khác 97,2 35,3 -61,9
Đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác 4.781,9 6.899,2 2.117,3
3. Đất trồng cây lâu năm 40.670,7 42.047,2 1.376,5
Đất trồng cây công nghiệp lâu năm 38.536,1 31.742,5 -6.793,6
Đất trồng cây ăn quả lâu năm 29,0 7.225,8 7.196,8
Đất trồng cây lâu năm khác 2.105,6 3.078,9 973,3
4, Đồng cỏ chăn nuôi 200,7 238,1 37,4
Tổng 61.972,1 60.027,6 -1.944,5
(Nguồn: Tích hợp từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2005 & 2015)
Bên cạnh tổn thất do chuyển đổi quỹ tài nguyên đất, quỹ tài nguyên rừng cũng bị xáo trộn
mạnh mẽ. Trong đó, quỹ đất rừng sản xuất liên quan đến sinh kế lâm nghiệp của dân cư vùng lòng
hồ bị chìm ngập với khoảng 5.037,8 ha và một phần được chuyển thành đất rừng phòng hộ hai
bên lòng hồ khoảng 1.756,9 ha.
Tìm hiểu nhận thức của người dân tái định cư đối với giá trị và sự biến đổi của các nguồn tài nguyên
201
Bảng 2. Biến động đất lâm nghiệp lưu vực thủy điện Sơn La (Đơn vị: ha)
Loại hình sử dụng đất 2005 2015 Biến động
1. Rừng sản xuất 19.675,7 14.637,9 -5.037,8
Đất có rừng tự nhiên sản xuất 10.605,5 10.605,2 -0,3
Đất có rừng trồng sản xuất 1.492,6 751,6 -741
Đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất 6.914,8 2.663,9 -4.250,9
Đất trồng rừng sản xuất 662,9 617,3 -45,6
2. Rừng phòng hộ 140.696,7 142.453.6 1.756,9
Đất có rừng tự nhiên phòng hộ 116.022,3 112.733,9 -3.288,4
Đất có rừng trồng phòng hộ 753,1 1.494,3 741,2
Đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ 23.544,6 27.801,1 4.256,5
Đất trồng rừng phòng hộ 376,7 424,3 47,6
Tổng 160.372,4 157.091,5 -3.280,9
(Nguồn: Tính từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2005 & 2015)
Mặt nước hồ TĐSL ở mực nước dâng bình thường có diện tích 22.400 ha với dung tích toàn
bộ hồ chứa là khoảng 9,26 tỉ m3 nước. Trong đó, tổng diện tích các loại đất chuyển sang diện tích
mặt nước là 17.523,4 ha (chiếm 78,2% diện tích mặt hồ), gồm:
- Đất lúa: 2.731,0 ha
- Đất trồng cây hàng năm: 7.096,2 ha
- Đất lâm nghiệp: 3.356,4 ha
- Đất ở: 0,2 ha
- Đất sông ngòi, kênh rạch: 2,997,0 ha
- Đất chưa sử dụng: 1.342,6 ha
Bên cạnh hồ chứa Sơn La, trên địa bàn tỉnh Sơn La có trên 2.660 công trình thủy lợi vừa và
nhỏ phục vụ tưới cho khoảng 11.500 ha diện tích cấy lúa chiêm xuân, điều tiết nước tưới ẩm cho
trên 9.000 ha cây công nghiệp. Mặc dù vậy, trên lưu vực cấp 1, nguồn nước chính cho phát triển
sinh kế vẫn chỉ trông chờ trực tiếp từ nguồn nước mưa và nguồn ẩm bổ sung từ hồ TĐSL. Vì thế,
hướng sử dụng thế mạnh của vùng lòng hồ để chuyển đổi sang sinh kế mới là tận dụng 13.500 ha
diện tích mặt nước hồ để phát triển nuôi trồng và khai thác thủy sản [9], cùng với phát triển du
lịch lòng hồ và giao thông vận tải thủy [10].
Xem xét trên các giá trị kinh tế, trước năm 1993, đất đai chưa có giá trị, các giao dịch đất đai
đều được thực hiện theo các quyết định của nhà nước và thị trường đất đai chưa được công nhận.
Sau 1993, hệ thống đất đai theo định hướng thị trường đã được thực thi và có các quy định cụ thể
hơn về khung bồi thường, hỗ trợ và TĐC. Tuy vậy, việc xác lập khung bồi thường, hỗ trợ và TĐC,
cũng như việc lập kế hoạch sinh kế và đảm bảo cuộc sống chủ yếu là do các chuyên gia lên kế
hoạch và triển khai thực hiện, thay vì người dân tham gia quyết định tương lai của chính mình.
Điều này đưa đến các ý kiến chủ quan, duy ý chí của các nhà đầu tư mà hậu quả là đã không đảm
bảo đầy đủ các giá trị kinh tế mà tài nguyên đem lại cho người dân. Ví dụ, giá trị tăng thêm về đất
đai là tạo thu nhập hoa lợi và tạo nên sinh kế trên đất được xem là vĩnh cửu theo năm tháng,
những giá trị đền bù chỉ được tính trung bình các giá trị hoa lợi trên đất tối đa không quá 03 năm.
Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực và an sinh xã hội lâu dài, sau khi chỉ được
đền bù bằng tiền, bố trí đất đai và trợ cấp lương thực 1,5 năm (một năm theo quy định của nhà
Nguyễn Ngọc Khánh, Đỗ Văn Thanh và Nguyễn Thị Hồng Nhung
202
nước và thêm 0,5 năm theo quy định của địa phương), trong khi các sinh kế lâm nghiệp và thủy
sản còn đang trong quá trình chuyển đổi, tạo lập cơ sở ban đầu. Những giá trị khác về văn hóa, xã
hội, về môi trường hầu như không được tính vào giá trị đền bù, nên đã thúc đẩy quá trình khai phá
đất - rừng trên các độ dốc cao hơn nhằm tạo sinh kế mới thay thế các tập quán canh tác, tập tục
sống truyền thống.
Hình 2. Bản đồ biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2015 lưu vực hồ thủy điện Sơn La
Từ sự biến động của tài nguyên đất, nước, rừng trong phạm vi lưu vực đã tác động trực tiếp
đến phương thức khai thác của người dân đối với các nguồn tài nguyên này. Về cơ bản, sự suy
giảm về diện tích đất canh tác có độ dốc thấp khiến người dân phải đẩy cao ranh giới canh tác các
loại cây trồng chính, diện tích đất bán ngập được đưa vào sử dụng nhiều hơn, khoảng cách giữa
các khu vực đất canh tác bị phân tán rõ rệt, kết cấu làng bản cũng có sự biến đổi Mặt khác, sự
mở rộng diện tích đất mặt nước là cơ hội giúp người dân đẩy mạnh hoạt động nuôi trồng thủy sản,
phát triển HST thủy sinh, các hoạt động du lịch lòng hồ (xu hướng sinh kế mới của người dân
TĐC); tuy nhiên, ở một số HGĐ với các hoạt động sinh kế truyền thống (trồng lúa nước, trồng rau,
đậu ven suối) cũng có ảnh hưởng không nhỏ hiệu quả kinh tế mà các vùng đất bồi phù sa ven hồ
đem lại cho họ như trước đây. Như vậy, sự biến động của các nguồn tài nguyên cũng là một trong
những nguyên nhân chính tác động tới sự chuyển đổi hoạt động sinh kế, mở rộng hay thu hẹp quy
mô các mô hình KTST của người dân TĐC.
Tìm hiểu nhận thức của người dân tái định cư đối với giá trị và sự biến đổi của các nguồn tài nguyên
203
2.2.3. Kết quả điều tra các mô hình kinh tế vùng tái định cƣ từ lòng hồ Sơn La
Để thấy rõ được sự thay đổi về hoạt động sinh kế của người dân trước những biến động của
các nguồn tài nguyên, tác giả đã tiến hành điều tra kinh tế của 70 HGĐ tại một số khu TĐC nằm
trong phạm vi lòng hồ TĐSL [11]. Kết quả, đa số các HGĐ giữ nguyên các mô hình truyền thống
với các hợp phần chủ đạo trong mô hình như Ruộng (Rg), Vườn (V), Nương rẫy (NR), Chuồng
(C); chỉ thay đổi về quy mô, cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Còn lại một số HGĐ thuộc diện di vén
hoặc TĐC từ lòng hồ TĐSL đã có sự chuyển đổi mô hình sinh kế truyền thống sang mô hình sinh
kế với sự xuất hiện của các yếu tố mới như Nuôi trồng thủy sản (NTTS) và Du lịch (DL) (nghiên
cứu điểm ở xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La).
Khu vực nghiên cứu được chọn là xã Chiềng Lao - một xã vùng III thuộc diện đặc biệt khó
khăn, nằm ở phía Tây Bắc của huyện Mường La. Toàn xã có 15 bản với 3 dân tộc chính (Thái, La
Ha, H’Mông), sống chủ yếu ở các sườn núi thấp dọc sông Nậm Mu và các suối (trong đó, 9/15 xã
phải di dời ra khỏi vùng ngập của hồ TĐSL). 3 điểm khảo sát TĐC tập trung Tà Sài, Nhạp, Nà
Nong và 2 bản TĐC xen ghép là Huổi Hậu, Pá Sóng. Các điểm TĐC Tà Sài, bản Nhạp và Nà
Nong đều là các điểm di dân TĐC thuộc hình thức TĐC tập trung; với tổng số 359 hộ, 1.619 nhân
khẩu, 100% đồng bào dân tộc Thái. Về cơ bản, các hộ dân đều thuộc diện di vén nên ít có sự thay
đổi về điều kiện tự nhiên, phương thức sản xuất, thay vào đó hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở hạ
tầng quy hoạch cho các khu dân cư TĐC ngày càng được hoàn thiện, sinh kế của người dân tương
đối ổn định. Hai bản Huổi Hậu và Pá Sóng là 2/4 bản của đồng bào dân tộc H’Mông thuộc xã
Chiềng Lao là các bản nằm xa khu vực trung tâm xã, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn,
việc di chuyển giữa các bản còn hạn chế, dân cư sống thưa thớt. Phương thức canh tác, sản xuất
cũng mang những nét đặc trưng riêng biệt so với đồng bào dân tộc Thái tại các điểm TĐC.
Bảng 3. Thông tin chung về các điểm tiến hành nghiên cứu năm 2016
Stt
Tên
bản
Diện
tích
(ha)
Số
hộ
Ngành
kinh tế
trọng
điểm
Mô
hình
kinh tế
hiện
nay
Thu nhập
bình quân
(nghìn
đồng/tháng)
Tỉ lệ hộ
nghèo
(%)
Mô hình
KTST đề xuất
1
Pá
Sóng
54 NN, LN NN 300 98
Mô hình kinh tế
vườn, mô hình
phát triển N-
LN
2
Huổi
Hậu
258 NN NN 300 95
Mô hình phát
triển N – LN
3 Nhạp 516,7 66
NN, LN,
DL
NN 450 60
Mô hình kinh tế
vườn, mô hình
V-R-NTTS-
DVDL
4
Nà
Nong
610,22 101 NN NN 400 80
Mô hình phát
triển kinh tế
vườn
5 Tà Sài 331,27 40
NN, LN,
NTTS
NN 300 64
Mô hình phát
triển kinh tế
NN, NTTS
(Nguồn: Kết quả điều tra thực địa của Nguyễn Thị Hồng Nhung) [11]
Ghi chú: NN: nông nghiệp, LN: lâm nghiệp, DL: du lịch, N-LN: nông - lâm nghiệp, V-R-NTTS-
DVDL: vườn - rừng - nuôi trồng thủy sản - dịch vụ du lịch
Nguyễn Ngọc Khánh, Đỗ Văn Thanh và Nguyễn Thị Hồng Nhung
204
Từ kết quả tiến hành điều tra khảo sát, phỏng vấn trực tiếp các hộ dân và số liệu thống kê
hiện có; tác giả đề xuất một số mô hình KTST phù hợp với tình hình thực tế, nguồn lực tự nhiên,
dân cư tại địa phương. Trong đó, cần phải nhấn mạnh rằng các mô hình bao gồm các hợp phần
kép như ruộng - vườn, nương - vườn và nuôi trồng thủy sản đang cho thấy nguồn thu ổn định, góp
phần cải thiện sinh kế cho người dân TĐC. Hình thức du lịch còn mới song là hướng đi phù hợp
trong tương lai và là thế mạnh cần khai thác.
Phân tích số liệu trong bảng trên có thể nhận thấy, mỗi điểm lựa chọn có thế mạnh, nguồn lực
tự nhiên, KT-XH khác nhau, song ngành kinh tế trọng điểm chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp;
trừ bản Tà Sài có định hướng phát triển thủy sản lòng hồ và bản Nhạp có định hướng phát triển du
lịch. Mặt khác, xuất phát điểm thu nhập của các HGĐ không cao, tỉ lệ hộ nghèo ở các bản người
H’Mông còn quá lớn, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng lạc hậu. Các vấn đề về
thời tiết (nắng nóng, mưa lũ, gió lốc), về vốn, kĩ thuật... đang là rào cản trong quá trình duy trì và
phát triển các mô hình kinh tế hộ, cho dù gần đây, các điểm TĐC đã nhận được sự hỗ trợ, đầu tư
về vốn, giống, vật tư nên các mô hình hệ KTST được đề xuất đa dạng hơn, đã bước đầu phát huy
được tiềm năng và thế mạnh riêng.
Trên cơ sở 8 mô hình hiện có tại khu vực nghiên cứu và qua phân tích khái quát 3 mô hình
kinh tế điển hình, có thể thấy: (1) Hợp phần vườn (V) xuất hiện trong 5/8 mô hình; còn các hợp
phần nương, ruộng (NR), ruộng (Rg), chuồng (C) xuất hiện trong 3/8 mô mới tuy chỉ xuất hiện
trong 1/8 mô hình và có 4 hộ sử dụng. Kết quả phân tích các mô hình cho thấy, mô hình NR-Rg-V
đem lại hiệu quả kinh tế cao, cần ít vốn, phù hợp với điều kiện tự nhiên, trình độ lao động thủ
công tại địa phương; tiếp sau đó là mô hình NR-Rg-V-C. Vì vậy, duy trì hiệu quả của hai mô hình
này, trước mắt có thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của mỗi hộ, về lâu dài sẽ hướng tới
việc chuyên môn hóa sản phẩm, tìm đầu ra cho một số sản phẩm (ngô, cây ăn quả, thủy sản). Mặt
khác, tận dụng diện tích mặt nước của lưu vực hồ TĐSL cần đẩy mạnh hoạt động nuôi trồng thủy
sản với việc hình thành các hợp tác xã quy mô vừa và nhỏ nhằm góp phần tăng thu nhập, nâng cao
chất lượng cuộc sống cho người dân.
2.2.4. Những vấn đề cần bàn luận
Việc phát triển các mô hình hệ KTST tại địa bàn nghiên cứu là xã Chiềng Lao có những dấu
hiệu bền vững, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế theo hướng mở. Các
kết quả điều tra thực tế đã cho thấy thực trạng của các mô hình hệ KTST hiện nay còn giản đơn,
tính chuyên môn hóa chưa cao; không những vậy, còn tồn tại nhiều vấn đề khó khăn trong khai
thác tài nguyên một cách bền vững. Để giải quyết các tồn tại, trọng tâm có thể đặt vào một số vấn
đề sau:
1-Việc nhận thức về các giá trị nhiều mặt của tài nguyên chưa đầy đủ ở cả các cấp quản lý,
doanh nghiệp (nhà đầu tư) và cộng đồng, vì thế, xu thế chung là đền bù, hỗ trợ và tổ chức đưa dân
đến nơi ở mới; mà không đánh giá được đầy đủ các giá trị về tâm linh, tâm lý để ổn định dân cư,
các giá trị về kinh tế, môi trường để ổn định sinh kế và tạo lập các mô hình kinh tế hộ bền vững.
Do đó, chỉ giai đoạn đầu “còn gạo, còn tiền” đền bù, hỗ trợ thì cuộc sống còn đảm bảo, đến giai
đoạn sau là nảy sinh nhiều vướng mắc, tạo nên những mâu thuẫn xã hội trong cộng đồng.
2-Việc nhận thức về các giá trị tài nguyên chưa được đầy đủ nên vẫn theo phương thức, tập
quán của nền sản xuất truyền thống là khai thác trực tiếp và dựa vào nguồn lợi tài nguyên có sẵn
mà không tạo lập được sinh kế làm gia tăng giá trị tài nguyên một cách bền vững như chuyển đổi
sang nông nghiệp hàng hóa với các trang trại quy mô liên HGĐ trồng các loại cây đặc sản của địa
phương, tạo thương hiệu sản phẩm, thị trường tiêu thụ thay vì chỉ sản xuất ra lương thực, thực
phẩm phục vụ nhu cầu hàng ngày. Do đó, cần định hướng chuyển đổi SKBV dựa trên sự gia tăng
quỹ sinh thái.
Tìm hiểu nhận thức của người dân tái định cư đối với giá trị và sự biến đổi của các nguồn tài nguyên
205
3-Các sinh kế mới được định hướng vào làm gia tăng các giá trị tài nguyên như thay đổi tập
đoàn cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái và độ dốc của địa hình; quy mô và tổ chức diện
tích canh tác hợp lý, kỹ thuật, công nghệ phù hợp để làm gia tăng độ màu mỡ của đất, chống xói
mòn, rửa trôi thay cho thành lập các trang trại cao su hiện nay. Cần phát huy tri thức địa phương
của đồng bào trong canh tác nương rẫy trước đây để tạo ra kỹ thuật canh tác, thời gian đất nghỉ
phù hợp nhằm hồi phục độ phì nhiêu của đất theo diễn thế tự nhiên. Các mô hình canh tác phải là
đặc trưng của từng vùng đất, chưa chắc mô hình đạt kết quả ở vùng đất này đã là có hiệu quả ở
vùng đất khác.
Đối với sinh kế lâm nghiệp, không phải trồng cây rừng, có gỗ để khai thác là đảm bảo yêu
cầu mà sinh kế lâm nghiệp cần được chuyển đổi sang các giá trị nhiều mặt của rừng như các giá
trị về môi trường; đặc biệt là tạo lập các rừng cây gỗ lớn, dài ngày để có được tán rừng nhằm phát
triển lâm sản ngoài gỗ tạo thêm các giá trị tài nguyên rừng. Trong đó hướng đi quan trọng là tạo
nên các cây đặc sản, cây thuốc có giá trị làm nguyên liệu cho hướng du lịch nghỉ dưỡng, chữa
bệnh bên cạnh du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, mà nhiều nước trong khu vực đã triển khai.
Sinh kế thủy sản gắn với nuôi trồng trên lòng hồ và làm thành cơ sở cho chuỗi du lịch sinh
thái của địa phương để hiện thực hóa chủ trương phát triển KT-XH các vùng TĐC dựa trên lợi thế
của hồ thủy điện.
4-Cần tạo lập môi trường xã hội ổn định, đồng thuận ở các vùng TĐC cho cùng một mục tiêu
phát triển, không phân biệt người ở tại chỗ hay người mới định cư mà coi định hướng phát triển là
của chung cộng đồng theo đúng nghĩa của cộng đồng làng bản trong xã hội truyền thống. Có được
điều đó mới tạo nên được địa chỉ (chỉ dẫn địa lý) của các sản phẩm tạo ra và mới xây dựng được
thương hiệu cho các sản phẩm của địa phương trên thị trường.
3. Kết luận
Công trình thủy điện sông Lô đã có những tác động mạnh mẽ đến nguồn tài nguyên đất, nước
và rừng tại các khu vực thuộc phạm vi lưu vực hồ TĐSL trên cả hai phương diện: tích cực và tiêu cực.
Sự tác động này đã góp phần làm thay đổi nhận thức của người dân, về cách thức ứng xử với tự
nhiên: chuyển đổi cơ cấu cây trồng, khai thác thế mạnh mới trên lòng hồ, đa dạng hóa các hoạt
động sinh kế... Nhiều mô hình hệ KTST truyền thống còn tồn tại song các mô hình này đã đem lại
nguồn thu nhập đối với các HGĐ còn gặp nhiều khó khăn; bên cạnh đó, các mô hình kinh tế mới
(nuôi trồng thủy sản, du lịch) tạo nguồn thu nhập cao hơn cho người dân dần ổn định và có xu
hướng mở rộng về quy mô và các đối tượng được hưởng lợi. Như vậy, có thể thấy rằng sự biến
đổi của các nguồn tài nguyên đã tác động không nhỏ đến nhận thức của người dân, song phần lớn
người dân TĐC đã có những giải pháp phù hợp nhằm thích ứng với sự biến đổi đó.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phạm Anh Tuân, 2013. Nghiên cứu ảnh hưởng của việc phát triển thủy điện đến tài nguyên
đất canh tác vùng Tây Bắc. Báo cáo tổng kết Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ.
[2] Nguyễn Thị Thanh Huyền và cs, 2007. Khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái phục vụ
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội các khu tái định cư thuộc dự án thủy điện Sơn La. Đề tài
cấp Bộ mã số: B07-25.
[3] Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2016. Đánh giá mức độ bền vững tại các điểm di dân tái định cư
thủy điện Sơn La thuộc khu tái định cư Chiềng Lao, xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh
Sơn La. Hội nghị Khoa học Địa lí Toàn quốc lần thức 9.
Nguyễn Ngọc Khánh, Đỗ Văn Thanh và Nguyễn Thị Hồng Nhung
206
[4] Nguyễn Ngọc Khánh & Nguyễn Hồng Anh, 2016. Xây dựng mô hình sinh kế bền vững ở khu
DTSQ thế giới ứng phó với BĐKH (trường hợp nghiên cứu ở khu DTSQ Cù Lao Chàm, Hội An).
Tạp chí Khoa học. Đại học Quốc gia Hà Nội. Chuyên san Hội nghị Việt Nam học lần thứ 5.
ISSN 0866-8612. Vol. 32, No.1S. Tr. 265-275.
[5] Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải, 1999. Mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát
triển nông thôn bền vững, Nxb Nông nghiệp.
[6] Phạm Anh Tuân, 2017. Nghiên cứu đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát
triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh Sơn La. Luận án Tiến sĩ Địa lí.
[7] Đỗ Xuân Đức và nnk, 2018. Nghiên cứu biên soạn một số chủ đề tập huấn để giáo dục tính
bền vững về hồ thủy điện Sơn La cho cộng đồng các dân tộc địa phương khu vực Tây Bắc.
Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 12.
[8] Phạm Anh Tuân & Nguyễn Ngọc Khánh, 2016. Sử dụng GIS đánh giá biến động hiện trạng
sử dụng đất (Nghiên cứu trường hợp lưu vực hồ thủy điện Sơn La giai đoạn 2005-2015). Tạp
chí Khoa học Xã hội miền Trung ISSN 1859-2635 số 3/2016.
[9] UBND tỉnh Sơn La, 2005. Đề tài Bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên nước tỉnh Sơn La.
[10] Tỉnh ủy Sơn La, 2015. Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Sơn La nhiệm kỳ 2015-2020.
[11] Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2017. Đánh giá hiệu quả một số mô hình hệ kinh tế sinh thái hộ
gia đình thuộc xã Chiềng Lao, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Kỉ yếu Hội nghị Khoa học Địa
lí toàn quốc lần thứ 10, Đà Nẵng.
ABSTRACT
Research the awareness of the residential people for value and change of resources sources,
from this proposal of some models ecological economic models
in the basin of Son La Hydropower
Nguyen Ngoc Khanh
1
, Do Van Thanh
2
and Nguyen Thi Hong Nhung
3
1
Vietnam Academy of Social Sciences
2
Faculty of Geography, Hanoi National Univerity of Education
3
Faculty of History - Geography, Tay Bac University
Son La hydropower project has been built and put into operation, causing many changes for
basic natural resources such as land, water and forests. This volatility process has also
significantly affected the livelihoods of people in the basin of Son La hydropower reservoir,
especially resettled people living in lakeside areas. Many economic, cultural, and environmental
values of altered resources require people to make changes in their own perceptions of the value
of existing resources. In the scope of the paper, the author has focused on examining the existing
ecological economic system models of 70 households in 5 villages of Chieng Lao commune,
Muong La district (within the scope of basin of Son La hydropower) to clearly see the change in
the way of thinking and behavior of the people with the degree of natural change, leading to the
difference in the components that constitute the models. From the fact of investigating 8 existing
models, it is shown that the main and traditional components such as fields, gardens, fields, and
stables continue to be maintained but there are differences in scale. At the same time, there are
two new components of aquaculture and tourism in accordance with the appearance and
expansion of the water surface when the hydropower reservoir is formed.
Keywords: Son La hydropower, natural resources, model, ecological economic system.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tim_hieu_nhan_thuc_cua_nguoi_dan_tai_dinh_cu_doi_voi_gia_tri.pdf