Không giống với so sánh tương đồng hoàn toàn, so tương đồng có dị biệt lại bắt đầu
từ việc người viết chọn những yếu tố, những chi tiết, những hình ảnh có sự dị biệt nhau
về hình thức hay nội dung, ý nghĩa để từ đó chỉ ra những nét riêng, khác biệt của vấn đề
được bàn luận. Xem xét ví dụ sau đây:
Ví dụ 7: “Yêu người, đó là một truyền thống cũ. “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán
ngâm khúc”, đã nói đến con người. Nhưng dù sao cũng là mới bàn đến một hạng người.
Với “Kiều”, Nguyễn Du đã nói đến cả xã hội người. Với “Chiêu hồn” thì cả loài người
được bàn đến [.]. “Chiêu hồn”, con người trong cái chết. “Chiêu hồn”, con người trong
từng giới, từng loài, “mười loài là những loài nào” với những nét cộng đồng phổ biến,
điển hình của từng loài một”. [.]
Tôi muốn nói đến bài văn “Chiêu hồn”, một tác phẩm có một không hai trong nền
văn học chúng ta. (Nghĩ mà xem, trước “Chiêu hồn” chưa hề có bài văn nào đem cái “run
rẩy mới” ấy vào văn học. Sau “Chiêu hồn”, lại càng không.) Nếu “Truyện Kiều” nâng
cao lịch sử thơ ca, thì “Chiêu hồn” đã mở rộng địa dư của nó qua một vùng xưa nay ít ai
động tới: cõi chết.” (Chế Lan Viên)
Trong ngữ liệu trên, người viết xuất phát từ một điểm: yêu người - một truyền thống
trong văn thơ dân tộc. Tuy nhiên, để đánh giá biểu hiện và giá trị của truyền thống ấy trong
các tác phẩm cụ thể, người viết đã đi sâu xem xét cách biểu hiện của lòng yêu người trong
một số tác phẩm. Và cũng từ việc so sánh ấy, tác giả đã đúc rút ra nhận định về giá trị
nhân đạo sâu sắc của tác phẩm “Văn chiêu hồn”: thương tất cả thập loại chúng sinh trong
cõi sống và cả trong cõi chết. Chắc chắn nhận định trên được nêu ra sẽ thực sự mang lại
một nhận thức mới, hiểu biết mới về tác phẩm này.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tìm hiểu thao tác lập luận so sánh trong văn bản nghị luận, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
2012, Vol. 57, No. 5, pp. 58-63
TÌM HIỂU THAO TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH
TRONG VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
Phạm Kiều Anh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Email: phamkieuanh2009@yahoo.com.vn
Tóm tắt. Trong bài văn nghị luận, so sánh được đánh giá là một thao tác lập luận.
Tuy nhiên, khi khảo sát các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy đây là một
vấn đề còn khá mới mẻ. Cũng bởi thế, bài viết tập trung đưa ra những vấn đề cơ
bản nhất về thao tác lập luận này.
Từ khóa: Lập luận, so sánh, văn bản nghị luận.
1. Đặt vấn đề
Chương trình Ngữ văn hiện nay có nhiều đổi mới so với trước đây. Không là ngoại
lệ, Làm văn cũng được triển khai với nhiều thay đổi. Nếu như trước đây Làm văn là phân
môn đảm nhiệm việc hướng dẫn học sinh (HS) biết cách tạo lập các kiểu văn bản thì trong
chương trình hiện hành, Làm văn là phân môn được triển khai với nhiều mục đích. Theo
quan điểm định hướng biên soạn chương trình, Làm văn vừa trang bị cho học sinh những
hiểu biết và kĩ năng cơ bản tạo lập văn bản phục vụ nhu cầu cuộc sống vừa là đầu mối
giúp các em biết tạo ra sự gắn bó giữa các tri thức khoa học với cuộc sống, nhằm tạo ra
những phương pháp hữu hiệu giải quyết “bài toán cuộc đời”. Để đạt được mục đích ấy,
Làm văn phải thực sự đáp ứng được nhiều yêu cầu, trong đó có yêu cầu rèn luyện và nâng
cao năng lực tư duy, năng lực biểu đạt cho HS. Từ đó, khi ra cuộc sống, các em biết cách
trình bày vấn đề rõ ràng và thuyết phục đối với người nghe, người đọc. Thao tác lập luận
so sánh được triển khai trong chương trình góp phần cụ thể hóa mục tiêu ấy. Tuy nhiên,
khi khảo sát các công trình Làm văn hiện có, chúng tôi nhận thấy đây là vấn đề còn khá
mới mẻ, chưa được nhiều tác giả nghiên cứu. Bài viết sẽ tập trung tìm hiểu những vấn đề
cơ bản nhất về thao tác lập luận này.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Lịch sử nghiên cứu về thao tác lập luận so sánh
Trình bày về thao tác lập luận này, có thể nhắc đến một số công trình như: Làm
văn 12 do các tác giả Trần Đình Sử chủ biên [8], hoặc trong cuốn “Muốn viết được bài
văn hay”, do Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên [5]. Trong các công trình này, hai nhóm tác
58
Tìm hiểu thao tác lập luận so sánh trong văn bản nghị luận
giả đã nhắc đến vai trò của so sánh trong văn bản. Tuy nhiên các tác giả trong công trình
thứ nhất mới chỉ dừng lại ở việc coi so sánh như một cách luận chứng và các hình thức so
sánh. Còn nhóm tác giả trong công trình thứ hai lại tập trung phân biệt sự khác nhau giữa
so sánh - một biện pháp tu từ với so sánh - một phương pháp, một cách thức trình bày khi
viết bài văn nghị luận. Như vậy, mặc dù có đề cập tới so sánh song cả hai công trình mới
chỉ giới thiệu chứ chưa tập trung làm rõ đặc điểm, cách thức cũng như giá trị của thao tác
lập luận này.
Trong cuốn “Rèn kĩ năng làm văn nghị luận” [6], tác giả Bảo Quyến đã khẳng định
so sánh như một thao tác tổ chức nên bài văn nghị luận. Nhờ có thao tác này mà người
viết mới có thể tìm ra cái chung, cái khác biệt giữa các đối tượng, các vấn đề và qua đó
tạo ra sự độc đáo, đặc sắc trong khi tổ chức lời văn của bản thân. Gần đây, nhóm tác giả
Đỗ Ngọc Thống trong cuốn “Làm văn” [10] cũng điểm qua thao tác lập luận này khi ông
tập trung làm rõ vai trò và cách thức tổ chức lập luận trong làm văn nghị luận. Tuy nhiên,
các tác giả cũng chưa tập trung giới thiệu một cách cụ thể về thao tác so sánh. Như vậy
các công trình nghiên cứu Làm văn hiện nay chưa thực sự quan tâm tới thao tác lập luận
so sánh và điều đó gây khó khăn cho cả giáo viên và học sinh khi dạy học nội dung này
trong SGK Ngữ văn.
2.2. So sánh và thao tác lập luận so sánh
* So sánh là một thao tác tư duy được con người sử dụng thường xuyên trong cuộc
sống hàng ngày. Về bản chất, so sánh là sự đối chiếu hai hay nhiều sự kiện, nhiều hiện
tượng với nhau dựa trên một mối liên hệ nào đó, nhằm làm nổi bật được đối tượng đang
được xem xét, đánh giá.
Ví dụ 1: Lan hát hay như một chú chim họa mi.
Ở ví dụ trên, người nói đã sử dụng so sánh để thể hiện đặc điểm giọng hát của Lan.
Vẻ đẹp tự nhiên, hấp dẫn trong giọng hót của chim họa mi đã được chọn làm thước đo
đánh giá sự hấp dẫn trong giọng hát của con người. So sánh giúp cho con người vừa thể
hiện rõ sự hiểu biết của bản thân về thế giới khách quan, vừa tạo ra được những hình thức
diễn đạt sinh động, hấp dẫn gợi hình, gợi cảm.
Cũng giống như so sánh trong tư duy lôgic, so sánh tu từ được thực hiện theo cơ
chế các sự vật, hiện tượng được xem xét đối chiếu dựa trên những mối liên hệ tương đồng
nhất định. So sánh tu từ cũng có mục đích nhận thức nhưng mục đích chính là tạo ra tính
hình tượng và biểu cảm trong diễn đạt.
Ví dụ 2: Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen. (Ca dao)
Ví dụ 3: Con yêu mẹ bằng con dế. (Xuân Quỳnh)
Không miêu tả một cách cụ thể nhưng bằng so sánh, tác giả dân gian đã gợi ra được
hình ảnh một người con gái với vẻ đẹp tươi tắn, thuần khiết, hấp dẫn. Để tạo ra những
hình ảnh dung dị mà hấp dẫn đến vậy, người nghệ sĩ đã sử dụng triệt để giá trị của so sánh
59
Phạm Kiều Anh
tu từ. Câu thơ trong ngữ liệu 3 được trích từ bài thơ “Con yêu mẹ bằng con dế” của nữ sĩ
Xuân Quỳnh. Cả bài thơ là lời đối thoại giữa người mẹ và đứa con thơ bé, mà ở đó người
con nêu lên những tình cảm của mình dành cho người mẹ. Ấn tượng sâu sắc nhất của bài
thơ được tập trung rõ nét ở câu thơ cuối trong bài. Nhờ biện pháp so sánh tu từ ở câu thơ
này, Xuân Quỳnh đã tạo ra một kết thúc đầy bất ngờ với một lối diễn đạt vừa dí dỏm, ngộ
nghĩnh phù hợp với đặc điểm tâm lí trẻ thơ.
* Là kiểu văn bản được tạo ra theo phương thức lập luận, văn nghị luận thể hiện
những đặc trưng của hoạt động tư duy trong quá trình tiếp cận và khám phá thế giới khách
quan. Để thực hiện những mục đích bàn luận khác nhau, nghị luận sử dụng khá nhiều thao
tác tư duy lôgic, trong đó có so sánh. Trong văn bản nghị luận, thao tác lập luận so sánh
giúp con người dựa trên cơ sở tương đồng và khác biệt giữa các đối tượng rút ra ý kiến,
nhận định về đối tượng nghị luận.
Ví dụ 4: “... Thần Hê-ra-clet của Hi Lạp, chủ yếu là bắp thịt rắn chắc, có tài chiến
đấu, nhưng mục tiêu chiến đấu là gì thì bất cần, tâm địa thần tầm thường. Trong truyện
Thánh Gióng Việt Nam không thấy nói đến bắp thịt rắn chắc mà nói đến đức tính trước
hết. Đức tính nào cũng cao cả, hình tượng nào cũng phơi phới. Thần anh hùng của ta trí
dũng kiêm toàn, đạo đức không gợi một hạt bụi, mọi ý nghĩ và hành động đều tập trung
vào một việc, mà việc ấy là việc cứu nước.” (Nguyễn Đổng Chi)
Đoạn trích trên được trích lược từ bài đánh giá về vẻ đẹp của Thánh Gióng - một vị
thần anh hùng bất tử trong truyện cổ dân gian Việt Nam. Để làm nổi bật lên vẻ đẹp của
Phù Đổng Thiên Vương và hướng tới mục đích là chứng minh tư tưởng thương nòi yêu
nước của nhân dân ta, tác giả Nguyễn Đổng Chi đã sử dụng triệt để phép so sánh. Cũng
giống như các hình thức so sánh khác, so sánh trong lập luận ở đoạn trích trên được tác
giả thực hiện bởi sự đối chiếu giữa hai hình ảnh có sự tương đồng với nhau - cả hai vị
thần đều có tài chiến đấu. Chọn đối tượng so sánh là thần Hê-ra-clét trong thần thoại Hi
Lạp, tác giả đã lần lượt chỉ ra những nét khác biệt giữa hai vị thần trong các tác phẩm
dân gian. Trong thần thoại Hy Lạp, Hê-ra-clét là vị thần có vẻ đẹp hình thể: bắp thịt rắn
chắc và tài năng chiến đấu hơn người. Thánh Gióng của ta với sức vóc hơn người, dũng
mãnh, một mình đánh đuổi lũ giặc Ân xâm lược. Thế nhưng Hê-ra-clét lại không phân
định rõ mục tiêu chiến đấu, tâm địa tầm thường. Còn trong truyện Thánh Gióng, đức Phù
Đổng Thiên Vương của ta đẹp không chỉ ở hình thể mà còn đẹp bởi đức tính. Đấy là một
vị thần trí dũng kiêm toàn, đạo đức không gợn một hạt bụi, mọi ý nghĩ và hành động đều
tập trung vào việc cứu dân cứu nước. Như vậy từ việc so sánh hình ảnh hai vị thần trong
truyện, tác giả Nguyễn Đổng Chi đã nêu ra những nét đối lập trong vẻ đẹp của hai nhân
vật để rồi chứng minh cho vẻ đẹp bất diệt của đức Phù Đổng Thiên Vương - vẻ đẹp ấy toả
sáng lung linh, huyền ảo với nhiều ý nghĩa mới mẻ sâu xa. Thánh Gióng - hình ảnh một
vị thần đẹp người, đẹp nết, trí dũng kiêm toàn, sống và làm việc vì nghĩa lớn nhưng lại
rất bình dị, khiêm nhường. Câu kết của đoạn trích chính là kết quả được rút ra từ thao tác
so sánh trước đó. Nhờ có so sánh, ta có thể hiểu đúng hơn vẻ đẹp của Thánh Gióng - đó
là vẻ đẹp được nhận thấy từ chiều sâu tâm hồn, từ những hành động, việc làm cũng như
60
Tìm hiểu thao tác lập luận so sánh trong văn bản nghị luận
tinh thần của ngài. Vẻ đẹp ấy không toát ra từ cơ bắp, thân hình mà đó là cái đẹp hài hòa
trong nhân cách, trong đạo đức của con người. Không chỉ có vậy, khi đánh giá vẻ đẹp của
Thánh Gióng, nhờ có so sánh mà lời lẽ đánh giá của tác giả vừa dung dị lại vừa khách
quan, thuyết phục. Như vậy, so sánh đã thực sự giúp cho người viết triệt để làm nổi bật
vấn đề đang được bàn luận, có điều kiện bộc lộ tâm trạng, tình cảm cũng như thái độ đối
với vấn đề được nghị bàn.
Như vậy, trong tư duy, trong phép tu từ hay trong lập luận, so sánh là thao tác được
con người thực hiện theo cơ chế xác lập hai hoặc nhiều yếu tố, nhiều đối tượng có sự
tương đồng nào đấy mà đối chiếu để hiểu và nắm chắc đối tượng. Tuy nhiên, so sánh trên
ba phương diện lại có sự khác nhau. Nếu như so sánh logic chủ yếu nhằm nhận thức, nêu
ra một đặc trưng nào đó của đối tượng được xem xét, so sánh trong tu từ hướng tới mục
đích chính là tạo nên tính hình tượng và biểu cảm thì so sánh với tư cách là một thao tác
lập luận lại là con đường dẫn dắt người đọc, người nghe đến với một nhận định, một chân
lí nào đó.
Tóm lại, trong văn nghị luận, so sánh là một thao tác lập luận được dùng để tìm ra
sự giống nhau hoặc khác nhau giữa các đối tượng, và qua sự so sánh ấy mà người viết
(người nói) dẫn người đọc (người nghe) đến một ý kiến, nhận định nào đấy đối với vấn đề
được bàn luận.
* Như trên đã nói, trong bài văn nghị luận, so sánh là một thao tác lập luận giúp
cho người lập luận có điều kiện dẫn dắt người tiếp nhận đến với một chân lí một kết luận
nào đấy về vấn đề được bàn luận. Cũng bởi thế, so sánh thể hiện rõ mục đích cũng như
tính lập luận trong văn nghị luận. Tính lập luận của so sánh có thể được thực hiện bằng
một câu, nhưng cũng có thể được người viết trình bày trong một đoạn văn hoặc cả bài văn.
Việc sử dụng thao tác này trong một câu, một đoạn hay thậm chí cả bài đều gắn với mục
đích và dụng ý của người viết. Khi sử dụng thao tác này, người viết không chú trọng tới
độ dài ngắn của lập luận mà đặc biệt quan tâm tới việc sử dụng các yếu tố so sánh và làm
như thế nào đó để hướng người đọc tới nhận thức, chân lí hay kết luận cuối cùng cần nêu
ra. Chẳng hạn, khi nêu ra những nhận xét về cách viết văn của một số nhà văn hiện thực,
Nguyễn Tuân có viết:
Ví dụ 5: “Làm sao trong đêm tối ngày xưa đó, Ngô Tất Tố đã mò ra được những
thực tế đó và trong đêm tối, ông lụi hụi thắp được bó hương mà tự mình soi đường cho
nhân vật mình đi? Lúc đó, không phải là không ai nói về làng xóm dân cày, nhưng người
ta nói năng khác ông, người ta bàn cải lương hương ẩm, người ta xoa xoa mà ngư ngư tiều
tiều canh canh mục mục. Còn Ngô Tất Tố thì xui người nông dân nổi loạn. Cái cách viết
như thế, cái cách dựng truyện như thế, không là phát động quần chúng nông dân chống
quan Tây, chống vua ta thì còn là cái gì nữa! ” (Theo SGK Ngữ Văn 11, Tập 1, Tr. 80, do
Phan Trọng Luận chủ biên).
Bằng thao tác so sánh, Nguyễn Tuân đã chỉ ra ý nghĩa ẩn đằng sau những mảnh
đời đi vào mỗi trang viết của Ngô Tất Tố. Trong xã hội cũ, dưới sự kiểm soát gắt gay của
thực dân và phong kiến, Ngô Tất Tố đã tìm ra cho mình một hướng đi riêng, và ta chỉ có
61
Phạm Kiều Anh
thể nhận thấy hướng riêng ấy khi đặt nó trong mối tương quan với những người khác. Và
cũng nhờ đặt vấn đề xã hội trong cách nói của những người khác, Nguyễn Tuân đã chỉ ra
sự khác biệt của Ngô Tất Tố: “người ta bàn cải lương hương ẩm, người ta xoa xoa mà ngư
ngư tiều tiều canh canh mục mục. Còn Ngô Tất Tố thì xui người nông dân nổi loạn”. Và
chính sự khác nhau ấy tạo ra dấu ấn riêng, nét riêng trong cách nói, cách viết của Ngô Tất
Tố.
Trên thực tế, khi sử dụng so sánh để tổ chức lập luận, người lập luận thường thực
hiện theo hai hình thức: so sánh tương đồng hoàn toàn và so sánh tương đồng có dị biệt.
Thông thường, người ta sử dụng hình thức so sánh thứ nhất để chỉ ra những điểm chung
của các yếu tố và qua đó đưa ra những nhận định có tính chất khái quát cho hiện tượng
hoặc vấn đề được nghị luận. Hãy xem xét ví dụ sau:
Ví dụ 6: “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của
chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của
Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy”. (Phạm Văn Đồng)
Để rút ra nhận định về giá trị của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Cố Thủ tướng Phạm
Văn Đồng đã mượn hình ảnh các vì sao trên bầu trời để so sánh. Không chọn hình dáng
hay độ đậm nhạt của ngôi sao khi được nhìn thấy trong thực tế mà tác giả đã chọn ánh
sáng của những ngôi sao ấy để làm yếu tố so sánh. Đó là thứ ánh sáng được tác giả xác
định ở các đặc trưng: khác thường, phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng
thấy sáng. Và chính những đặc trưng ấy cũng có những nét tương đồng có những điểm
tương đồng với những biểu hiện của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân
tộc. Và từ đó, tác giả Phạm Văn Đồng đã rút ra một nhận định, một kết luận về giá trị thơ
văn Nguyễn Đình Chiểu.
Không giống với so sánh tương đồng hoàn toàn, so tương đồng có dị biệt lại bắt đầu
từ việc người viết chọn những yếu tố, những chi tiết, những hình ảnh có sự dị biệt nhau
về hình thức hay nội dung, ý nghĩa để từ đó chỉ ra những nét riêng, khác biệt của vấn đề
được bàn luận. Xem xét ví dụ sau đây:
Ví dụ 7: “Yêu người, đó là một truyền thống cũ. “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán
ngâm khúc”, đã nói đến con người. Nhưng dù sao cũng là mới bàn đến một hạng người.
Với “Kiều”, Nguyễn Du đã nói đến cả xã hội người. Với “Chiêu hồn” thì cả loài người
được bàn đến [...]. “Chiêu hồn”, con người trong cái chết. “Chiêu hồn”, con người trong
từng giới, từng loài, “mười loài là những loài nào” với những nét cộng đồng phổ biến,
điển hình của từng loài một”. [...]
Tôi muốn nói đến bài văn “Chiêu hồn”, một tác phẩm có một không hai trong nền
văn học chúng ta. (Nghĩ mà xem, trước “Chiêu hồn” chưa hề có bài văn nào đem cái “run
rẩy mới” ấy vào văn học. Sau “Chiêu hồn”, lại càng không.) Nếu “Truyện Kiều” nâng
cao lịch sử thơ ca, thì “Chiêu hồn” đã mở rộng địa dư của nó qua một vùng xưa nay ít ai
động tới: cõi chết.” (Chế Lan Viên)
Trong ngữ liệu trên, người viết xuất phát từ một điểm: yêu người - một truyền thống
trong văn thơ dân tộc. Tuy nhiên, để đánh giá biểu hiện và giá trị của truyền thống ấy trong
62
Tìm hiểu thao tác lập luận so sánh trong văn bản nghị luận
các tác phẩm cụ thể, người viết đã đi sâu xem xét cách biểu hiện của lòng yêu người trong
một số tác phẩm. Và cũng từ việc so sánh ấy, tác giả đã đúc rút ra nhận định về giá trị
nhân đạo sâu sắc của tác phẩm “Văn chiêu hồn”: thương tất cả thập loại chúng sinh trong
cõi sống và cả trong cõi chết. Chắc chắn nhận định trên được nêu ra sẽ thực sự mang lại
một nhận thức mới, hiểu biết mới về tác phẩm này.
3. Kết luận
Trong văn bản nghị luận, người viết sử dụng thao tác so sánh nhằm bày tỏ ý kiến,
quan niệm đối với vấn đề được bàn luận. Sử dụng thao tác lập luận này, người viết không
chỉ dẫn dắt người đọc đến với những kết luận khoa học, chính xác mà còn giúp cho lời
văn trong văn bản sinh động, hấp dẫn, nhiều hình ảnh. Đó cũng là cách mà người viết tạo
sức thuyết phục đối với độc giả. Thông thường thao tác lập luận so sánh được sử dụng kết
hợp với các thao tác lập luận khác như phân tích và bình luận. Sự kết hợp này giúp người
viết có điều kiện bàn luận về đối tượng toàn diện và sâu sắc hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lê A (Chủ biên), Lê Thị Thanh Hà, Lê Thị Tâm Hảo, Nguyễn Thị Hoa, Trần Văn
Toàn, Nguyễn Quang Trung, 2009. Thực hành Làm Văn lớp 11. Nxb Giáo dục.
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2008. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Ngữ văn 11. Nxb Giáo
dục.
[3] Hà Thúc Hoan, 1992. Làm văn nghị luận lí thuyết và thực hành. Nxb Thuận Hoá.
[4] Phan Trọng Luận (Chủ biên), 2007. Ngữ văn 11, Tập 1. Nxb Giáo dục.
[5] Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống, Lưu Đức Hạnh, 1993.Muốn viết được bài văn
hay. Nxb Giáo dục.
[6] Bảo Quyến, 2004. Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận. Nxb Giáo dục.
[7] Nguyễn Quốc Siêu, 1993. kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông. Nxb Giáo dục.
[8] Trần Đình Sử (Chủ biên), 1994. Làm văn 12. Nxb Giáo dục.
[9] Trần Đình Sử (Chủ biên), 2007. Ngữ văn 11, Tập 1. Nxb Giáo dục.
[10] Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Phạm Minh Diệu, Nguyễn Thành Thi, 2008. Làm văn.
Nxb Đại học Sư phạm.
ABSTRACT
Using comparison as a way to organize argumentative texts
In an argumentative text, comparison is means to attain organisation. However,
when looking at research projects, it can be seen that making use of comparison is a
relatively new endeavor. As a result, this article focuses on fundametal insights in to this
pattern of organisation.
63
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tim_hieu_thao_tac_lap_luan_so_sanh_trong_van_ban_nghi_luan.pdf