Một số khó khăn và giải pháp nâng cao tính hàng hóa của trang trại
- Hiện nay, định hướng thị trường của trang trại còn yếu, tình trạng sản xuất
kinh doanh không xuất phát từ điều tra thị trường vẫn tồn tại. Khả năng quản lý của
trang trại theo cơ chế thị trường chưa tốt nên sản phẩm chưa phù hợp với yêu cầu thị
trường do đó nông sản nhiều nhưng khó tiêu thụ, giá thấp.
- ða số trang trại hiện nay thiếu vốn để phát triển sản xuất nhưng Nhà nước
chưa có chính sách tín dụng để hỗ trợ. Tỷ lệ vốn đầu tư cho máy móc, thiết bị sản
xuất còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu sản xuất hàng hoá.
- Khó khăn phổ biến của các trang trại là thiếu hiểu biết khoa học kỹ thuật và
thiếu lao động lành nghề, nhất là đối với các trang trại nuôi trồng thủy sản. Bản thân
các chủ trang trại rất khó tự học kỹ thuật sản xuất mới và đào tạo lao động trong khi
Nhà nước chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề này.
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất của trang trại còn yếu kém, gây nhiều khó
khăn cho phát triển và mở rộng sản xuất. Sản phẩm làm ra nhiều nhưng khả năng
vận chuyển, chế biến và tiêu thụ còn yếu. ða số trang trại tập trung ở nông thôn,
miền núi và ven biển, nơi có cơ sở hạ tầng kém phát triển làm cho hoạt động sản
xuất kém sôi động hơn ở các vùng ven đô, ven thị.
Những khó khăn đó làm cho tình trạng sản xuất tự phát hoặc lúng túng về
phương hướng sản xuất còn khá phổ biến dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao, thu
nhập thấp.
ðể giải quyết các khó khăn trên cần có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các
cơ quan chức năng, tiến hành đồng loạt các giải pháp về vốn, thị trường, khoa học
kỹ thuật và xây dựng cơ sở hạ tầng. Các biện pháp cụ thể được người dân quan tâm:
cung cấp thông tin về thị trường một cách nhanh nhạy, dự báo xu thế tiêu dùng, ổn
định giá cả, có định hướng phát triển lâu dài đối với các sản phẩm nông nghiệp
chiến lược và tích cực bồi dưỡng trình độ quản lý theo cơ chế thị trường. Các giải
pháp về vốn, trước hết, cần khơi dậy nguồn vốn trong dân; đồng thời huy động đựơc
vốn của mọi thành phần kinh tế đầu tư vào kết cấu hạ tầng cho nông thôn: thủy lợi,
điện, giao thông, phục vụ tốt hơn yêu cầu sản xuất hàng hóa của trang trại.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tính hàng hóa của trang trại nước ta dưới góc độ địa lý kinh tế xã hội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu khoa học và ñổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy ñịa lý
203
TÍNH HÀNG HÓA CỦA TRANG TRẠI NƯỚC TA
DƯỚI GÓC ðỘ ðỊA LÝ KINH TẾ XÃ HỘI
NGUYỄN TÚ LINH
Khoa ðịa lý, Trường ðHSP Hà Nội
I. ðẶT VẤN ðỀ
Kinh tế trang trại xuất hiện ở nước ta từ thời Trần (1225-1400) dưới hình thức
ñiền trang, thái ấp. Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, số lượng trang trại tăng nhanh
nhưng chỉ thực sự phát triển, trở thành một hình thức sản xuất nông nghiệp hiệu quả
trong quá trình nước ta chuyển sang kinh tế thị trường. Sau ðại hội VI của ðảng
(12/1986), nước ta tiến hành phát triển theo hướng xây dựng “nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần”. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988) và Nghị quyết VI - khóa 6
(1989) ñã khẳng ñịnh kinh tế hộ là ñơn vị tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Luật ðất
ñai (1993) ñã giao quyền sử dụng ổn ñịnh lâu dài với 5 quyền cơ bản. ðường lối ñổi
mới của ðảng và những chính sách ñó là cơ sở ñể ra ñời kinh tế trang trại ở nước ta.
Nghị quyết 03-2000 tạo cơ sở pháp lý cho kinh tế trang trại ñã mở ra thời kỳ mới
trong phát triển hình thức sản xuất này.
Sau thời gian tăng nhanh về số lượng, hiện nay, hướng ñi của kinh tế trang trại là
phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Tính hàng hóa của trang trại không chỉ là ưu
thế nổi bật so với kinh tế hộ, mà còn là thước ño ñánh giá hiệu quả sản xuất, kinh doanh
của trang trại. ðể kinh tế trang trại phát triển hiệu quả và bền vững, các chủ trang trại ñã
chú ý nâng cao tính hàng hóa cho sản phẩm, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường.
II. NÂNG CAO TÍNH HÀNG HOÁ LÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA
NHIỀU TRANG TRẠI
1. Giá trị hàng hóa và dịch vụ bán ra của trang trại ngày càng cao và có sự
khác biệt giữa các loại hình
Theo kết quả Tổng ñiều tra nông nghiệp, nông thôn và thủy sản năm 2001, giá
trị hàng hóa và dịch vụ bán ra bình quân một trang trại là 82,6 triệu ñồng, tỷ suất
hàng hóa trên 90%. Năm 2004 chỉ tiêu này ñã tăng lên 108 triệu ñồng, do ña số trang
trại ñã qua thời kỳ kiến thiết cơ bản, sản xuất ñã cho sản phẩm.
Giá trị hàng hóa và dịch vụ bán ra có sự khác biệt khá lớn giữa các loại hình
trang trại. Trang trại chăn nuôi có giá trị hàng hóa và dịch vụ bán ra bình quân cao
nhất so với các loại hình trang trại khác: 186 triệu ñồng (2004). Do sản xuất có tính
chuyên môn hóa cao, quá trình sản xuất theo dây chuyền khép kín, sản phẩm bán ra
hàng loạt nên giá trị hàng hóa rất cao, tỷ suất hàng hóa ñạt trên 96%.
Trang trại lâm nghiệp do thời gian kiến thiết cơ bản kéo dài, phải lấy ngắn nuôi
dài nên tính chuyên môn hóa sản phẩm chưa cao. Giá trị hàng hóa và dịch vụ bán ra
chỉ ñạt 40,3 triệu ñồng, bằng 17% giá trị hàng hóa của trang trại chăn nuôi, 30% của
Khoa ðịa lý - 50 năm xây dựng và phát triển
204
trang trại thủy sản. Như vậy, các trang trại chăn nuôi do ưu thế về quá trình sản xuất,
giá trị sản phẩm và thị trường tiêu thụ nên có giá trị hàng hóa và dịch vụ bán ra cao
hơn các trang trại trồng trọt.
Bảng 1. Một số chỉ tiêu bình quân một trang trại
(ñơn vị tính: triệu ñồng)
Năm 2001 Năm 2004
Loại trang trại Vốn
ñầu tư
Thu
nhập
Giá trị
HH và
DV
Vốn
dầu tư
Thu
nhập
Giá trị
HH và
DV
Tổng số 135,14 32,27 82,56 140,30 43,70 108,10
TT* trồng cây hàng năm 69,70 27,26 62,91 56,38 33,30 73,43
TT trồng cây lâu năm 207,13 29,10 60,27 205,85 46,16 84,28
TT chăn nuôi 236,03 45,64 257,15 202,91 48,03 185,99
TT lâm nghiệp 82,74 25,58 40,93 94,44 22,03 40,27
TT nuôi trồng thủy sản 140,09 39,99 115,35 154,69 51,96 137,70
TT SX- KD tổng hợp 159,98 40,21 82,89 180,21 45,36 112,81
Nguồn: ðiều tra nông nghiệp, nông thôn và thủy sản. (*) Trang trại
Giá trị hàng hóa và dịch vụ bán ra của trang trại cũng có sự chênh lệch giữa
các vùng, miền. Nhìn chung giá trị hàng hóa của trang trại ở miền Nam cao hơn ở
miền Bắc, chủ yếu do quá trình phát triển trang trại của hai miền khác nhau. Ở miền
Nam, trang trại ra ñời sớm hơn, các ñiều kiện sản xuất thuận lợi hơn (nhất là ñất ñai,
thị trường tiêu thụ) và chủ trang trại có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất hàng hóa.
Hầu hết trang trại ở miền Nam ñã qua thời kỳ kiến thiết cơ bản, ñi vào kinh doanh
và có nguồn thu ổn ñịnh. Trong khi ñó, các trang trại ở miền Bắc mới phát triển
trong vài năm gần ñây nên nhiều trang trại chưa cho thu hoạch, nhất là trang trại
trồng cây lâu năm, trang trại lâm nghiệp.
Những vùng ñược ñầu tư vốn lớn, có cơ sở vật chất tốt và lựa chọn cơ cấu cây
trồng, vật nuôi hợp lý có giá trị hàng hóa cao hơn các vùng khác. Trang trại ở ðông
Nam Bộ và ðồng bằng sông Hồng có giá trị hàng hóa rất cao, tương ứng là 146 và
143 triệu ñồng. Chỉ số này ở các trang trại vùng Trung du miền núi phía Bắc và Bắc
Trung Bộ còn thấp, chỉ trên 60 triệu ñồng/trang trại do những khó khăn về ñiều kiện
sản xuất và tiêu thụ.
Như vậy, giá trị hàng hóa của trang trại phụ thuộc nhiều vào cơ cấu sản xuất.
Những loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao mang lại nguồn thu lớn và tỷ
suất hàng hóa cao.
2. Sự chuyển dịch cơ cấu loại hình trang trại cho thấy tính hàng hóa ngày
càng rõ rệt hơn
Tốc ñộ chuyển dịch cơ cấu loại hình trang trại diễn ra khá nhanh. Trong 4 năm,
từ 2001 - 2004, tỷ trọng trang trại trồng cây hàng năm giảm 5,4%, trang trại trồng
Nghiên cứu khoa học và ñổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy ñịa lý
205
cây lâu năm giảm 6,6%. Trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp tăng từ 3,7 lên
6,5%, trang trại nuôi trồng thủy sản từ 27,9% lên 31,7% và trang trại chăn nuôi tăng
ñột biến từ 2,9% lên 9%, từ vị trí thứ sáu lên vị trí thứ tư. ðiều này chứng tỏ mọi
loại hình trang trại ñều phát triển và phát triển nhanh.
Các trang trại có hiệu quả kinh tế cao tăng nhanh cả về số lượng và quy mô;
trong khi các trang trại có giá trị hàng hóa thấp hơn phát triển chậm hơn. Sự lựa
chọn phương hướng sản xuất của các chủ trang trại ñã theo sự phân tích về cung cầu
thị trường và khả năng của trang trại. Chủ trang trại xác ñịnh mục tiêu trung tâm là
lợi nhuận nên ñã chọn phát triển những loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao.
Các trang trại hiện nay không chỉ sản xuất cái mình có, mình biết mà còn sản xuất
cái thị trường cần. Các chủ trang trại cũng ñã mạnh dạn phát triển những loại hình
trang trại ñòi hỏi nhiều vốn và lao ñộng có trình ñộ: trang trại chăn nuôi, trang trại
nuôi trồng thủy sản. Như vậy năng lực của chủ trang trại ñã có bước phát triển mới,
không chỉ có kỹ thuật nông nghiệp mà còn am hiểu thị trường, luật pháp, có năng
lực về vốn.
Hình 1. Biểu ñồ cơ cấu trang trại phân theo loại hình, 2001-2004
Những loại hình trang trại tập trung sản xuất một loại sản phẩm tăng lên chứng
tỏ tính chuyên môn hóa trong sản xuất cao hơn trước ñây. Trang trại chăn nuôi và
nuôi trồng thủy sản có tính chuyên môn hóa cao hơn, trong khi các trang trại trồng
trọt, do lợi thế về ñất ñai thường xen canh nhiều loại cây, “lấy ngắn nuôi dài” hoặc
kết hợp chăn nuôi. Sản xuất mang tính chuyên môn hóa cao làm cho tỷ xuất hàng
hóa và giá trị hàng hóa bán ra cao hơn, lợi nhuận thu về nhiều hơn. Trang trại sản
xuất chuyên môn hóa một loại cây trồng, vật nuôi là hình thức sản xuất tiến bộ và ñã
thực sự thoát khỏi tư tưởng sản xuất nông nghiệp cổ truyền: hoặc ñộc canh hoặc xen
canh hiệu quả thấp.
Trong từng loại hình trang trại, sự thay ñổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũng dễ
nhận thấy. ðối với trang trại trồng cây hàng năm, tỷ trọng trang trại trồng lúa giảm,
tỷ trọng trang trại trồng rau và cây công nghiệp ngắn ngày tăng lên. ðối với trang
trại chăn nuôi, số lượng trang trại nuôi bò sữa phát triển nhanh trong khi các loại
hình chăn nuôi khác tăng chậm hơn.
2001
35.7
27.2
27.9
3.7
2.7
2.9
2004
30.2
6.5
2.0
20.5
31.7
9.0
TT c©y hµng n¨m
TT c©y l©u n¨m
TT ch¨n nu«i
TT l©m nghiÖp
TT nu«i trång thuû s¶n
TT SX- KD tæng hîp
Khoa ðịa lý - 50 năm xây dựng và phát triển
206
3. Những vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, có tiềm năng về
ñất ñai, diện tích mặt nước, thị trường có nhiều trang trại
ðồng bằng sông Cửu Long, ðông Nam Bộ là hai vùng có số trang trại nhiều
nhất, lần lượt chiếm 50,6% và 17,1% số trang trại của cả nước (2004). ðây là hai
vùng còn nhiều quỹ ñất nông nghiệp chưa sử dụng, có thể cải tạo ñể phát triển kinh
tế trang trại với quy mô lớn, tính chuyên môn hóa cao và vốn ñầu tư thấp hơn các
vùng khác. Quá trình tích tụ ruộng ñất khá sớm và thuận lợi. Một bộ phận không
nhỏ nông dân chỉ có một vài công ñất ñã bán ñi, chấp nhận làm thuê với thu nhập
cao hơn. Người nông dân ðồng bằng sông Cửu Long và ðông Nam Bộ năng ñộng
và có truyền thống sản xuất hàng hoá. Họ ñầu tư vào sản xuất không chỉ ñể tăng sản
lượng mà ñể có hiệu quả kinh tế cao nhất. Do ñó, việc thuê lao ñộng và sử dụng vật
tư ñầu vào ñược tiến hành tích cực, ñảm bảo trang trại phát triển tốt, sản phẩm mang
tính hàng hóa cao. ðây cũng là hai vùng có ñiều kiện thức ăn công nghiệp, khâu chế
biến sản phẩm khá tốt và thị trường ña dạng, thuận lợi cho việc phát triển hàng hoá.
Bảng 2. Cơ cấu trang trại phân theo vùng lãnh thổ, 2001-2004 (ðơn vị: %)
stt Năm
ðB
s.Hồng
ðông
Bắc
Tây
Bắc
Bắc
Trung
Bộ
DH Nam
Trung
Bộ
Tây
Nguyên
ðông
Nam
Bộ
ðB
s. Cửu
Long
1. 2001 3.0 5.2 0.2 4.9 4.8 9.9 20.8 51.1
2. 2004 7.3 4.5 0.4 5.3 6.2 8.5 17.1 50.6
Nguồn: ðiều tra nông nghiệp, nông thôn và thủy sản
ðồng bằng sông Hồng là vùng sản xuất nông nghiệp thứ hai của cả nước
nhưng chỉ chiếm 7,3% số trang trại. Nguyên nhân do hạn chế về ñiều kiện tích tụ
ruộng ñất (truyền thống gắn bó với ñồng ruộng của người dân, bình quân ruộng
ñất/người thấp) và tập quán canh tác nên kinh tế trang trại phát triển muộn hơn. Tuy
nhiên, thời gian qua, nhiều chủ trang trại ñã lựa chọn loại hình sản xuất phù hợp,
không cần nhiều diện tích, phát huy ñược thế mạnh của vùng về cơ sở vật chất, lao
ñộng, thị trường và xuất khẩu: trồng hoa, rau sạch, chăn nuôi xuất khẩu,... Do ñó,
tính hàng hóa và hiệu quả kinh tế của trang trại rất cao.
4. ðể phát triển trang trại theo hướng sản xuất hàng hóa, các chủ trang trại
ngày càng coi trọng vấn ñề thị trường
Trang trại sản xuất hàng hóa, sản phẩm làm ra chủ yếu ñể bán. Do ñó, vấn ñề
thị trường có tính sống còn ñối với sự phát triển của trang trại. ðối với trang trại, thời
ñiểm ñưa sản phẩm ra thị trường và việc mở rộng thị trường có ý nghĩa rất quan trọng. Sự
khan hiếm dẫn ñến giá cao vào ñầu và cuối vụ, sự dư thừa dẫn ñến giá thấp vào
chính vụ. ðể ñảm bảo cung cầu tương ñối ổn ñịnh và tăng lợi nhuận, trang trại ñã
chú ý việc tạo ra cây trồng vụ sớm và muộn, ñồng thời quan tâm ñến chế biến, bảo
quản và dự trữ sản phẩm, mặc dù chưa nhiều.
Nghiên cứu khoa học và ñổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy ñịa lý
207
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các trang trại ñã cố gắng chủ ñộng sản
xuất và tiêu thụ, ñồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của Nhà nước, nhà doanh nghiệp và
nhà khoa học. Một số loại nông sản mang tính chất ñịa phương có ưu thế rõ rệt trên
thị trường: bưởi Phúc Trạch, nhãn lồng Hưng Yên,... có những hình thức tiêu thụ ñặc
biệt: tạo thương hiệu và xuất khẩu. ðối với những sản phẩm phổ biến, các chủ trang
trại ñã cố gắng tạo ra những khác biệt và tìm hướng tiêu thụ phù hợp: trồng rau sạch,
rau an toàn,... cung cấp cho các siêu thị,...
Một phần nhỏ sản phẩm của trang trại như lương thực, thực phẩm ñược tiêu
dùng nội bộ. Bộ phận này ñược người chủ tính toán cụ thể ñể tổ chức tốt việc tiêu
thụ nông sản hàng hóa.
Các chủ trang trại ñược tìm hiểu cho biết họ ñều quan tâm ñến vấn ñề ñầu ra
cho sản phẩm. Tuy nhiên phân tích tình hình thị trường của họ còn chưa hợp lý nên
vẫn còn tình trạng sản xuất tự phát.
Hiện nay, nhiều trang trại ra ñời do yêu cầu của thị trường. Chủ trang trại kết
hợp sản xuất với các nhà máy chế biến, trở thành một bộ phận của nhà máy hoặc
nhận cung cấp sản phẩm cho nhà máy. Trang trại có thể nhận ñược sự hỗ trợ về kỹ
thuật, vốn từ phía nhà máy có thể không nhưng vấn ñề ñầu ra ñã ñược giải quyết.
ðây là hướng ñi ñúng ñắn giúp trang trại phát triển ổn ñịnh, lâu dài.
Thực tế phát triển trang trại nước ta thời gian qua cho thấy nhiều chủ trang trại
ñã mạnh dạn tìm kiếm thị trường xuất khẩu hoặc nuôi trồng những giống mới lạ: ếch
Cu Ba, sả chanh Ấn ðộ,... ðáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, nhiều chủ
trang trại ñã chọn hướng sản xuất sạch, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, sản
xuất theo dây chuyền khép kín.
5. Một số khó khăn và giải pháp nâng cao tính hàng hóa của trang trại
- Hiện nay, ñịnh hướng thị trường của trang trại còn yếu, tình trạng sản xuất
kinh doanh không xuất phát từ ñiều tra thị trường vẫn tồn tại. Khả năng quản lý của
trang trại theo cơ chế thị trường chưa tốt nên sản phẩm chưa phù hợp với yêu cầu thị
trường do ñó nông sản nhiều nhưng khó tiêu thụ, giá thấp.
- ða số trang trại hiện nay thiếu vốn ñể phát triển sản xuất nhưng Nhà nước
chưa có chính sách tín dụng ñể hỗ trợ. Tỷ lệ vốn ñầu tư cho máy móc, thiết bị sản
xuất còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu sản xuất hàng hoá.
- Khó khăn phổ biến của các trang trại là thiếu hiểu biết khoa học kỹ thuật và
thiếu lao ñộng lành nghề, nhất là ñối với các trang trại nuôi trồng thủy sản. Bản thân
các chủ trang trại rất khó tự học kỹ thuật sản xuất mới và ñào tạo lao ñộng trong khi
Nhà nước chưa quan tâm ñúng mức ñến vấn ñề này.
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất của trang trại còn yếu kém, gây nhiều khó
khăn cho phát triển và mở rộng sản xuất. Sản phẩm làm ra nhiều nhưng khả năng
vận chuyển, chế biến và tiêu thụ còn yếu. ða số trang trại tập trung ở nông thôn,
Khoa ðịa lý - 50 năm xây dựng và phát triển
208
miền núi và ven biển, nơi có cơ sở hạ tầng kém phát triển làm cho hoạt ñộng sản
xuất kém sôi ñộng hơn ở các vùng ven ñô, ven thị.
Những khó khăn ñó làm cho tình trạng sản xuất tự phát hoặc lúng túng về
phương hướng sản xuất còn khá phổ biến dẫn ñến hiệu quả kinh tế không cao, thu
nhập thấp.
ðể giải quyết các khó khăn trên cần có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các
cơ quan chức năng, tiến hành ñồng loạt các giải pháp về vốn, thị trường, khoa học
kỹ thuật và xây dựng cơ sở hạ tầng. Các biện pháp cụ thể ñược người dân quan tâm:
cung cấp thông tin về thị trường một cách nhanh nhạy, dự báo xu thế tiêu dùng, ổn
ñịnh giá cả, có ñịnh hướng phát triển lâu dài ñối với các sản phẩm nông nghiệp
chiến lược và tích cực bồi dưỡng trình ñộ quản lý theo cơ chế thị trường. Các giải
pháp về vốn, trước hết, cần khơi dậy nguồn vốn trong dân; ñồng thời huy ñộng ñựơc
vốn của mọi thành phần kinh tế ñầu tư vào kết cấu hạ tầng cho nông thôn: thủy lợi,
ñiện, giao thông, phục vụ tốt hơn yêu cầu sản xuất hàng hóa của trang trại.
III. KẾT LUẬN
Kinh tế trang trại nước ta thời gian qua phát triển theo hướng tích cực, sản xuất
hàng hóa gắn với thị trường, phù hợp với ñường lối ðổi mới của ðảng và Nhà nước.
Thực tế thời gian qua cho thấy hướng phát triển của trang trại là ñi vào chiều sâu,
nâng cao tính hàng hóa, gắn sản xuất với thị trường. Do ñó, mỗi loại hình trang trại,
mỗi ñịa phương có sự phát triển khác nhau. Tính hàng hóa của trang trại không chỉ
là thước ño hiệu quả sản xuất mà còn là ñích hướng tới trong hoạt ñộng sản xuất
kinh doanh của trang trại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Con ñường công nghiệp hóa, hiện ñại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Nxb
Chính trị Quốc gia. 2002.
[2]. GS. Bùi Huy ðáp, GS. Nguyễn ðiền- Nông nghiệp Việt Nam bước vào thế kỷ
XXI, Trung tâm kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (VAPEC).
[3]. Kết quả Tổng ñiều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản-2001. (Phần kinh tế
trang trại). NXB Thống kê. 2003.
[4]. PGS.TS Vũ Năng Dũng -Cơ sở khoa học ñể xây dựng tiêu chí, bước ñi, cơ chế,
chính sách trong quá trình công nghiệp hóa, hiện ñại hóa nông nghiệp, nông thôn.
NXB Nông nghiệp. 2004.
[5]. PGS.TS. Nguyễn Sinh Cúc- Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ ñổi mới.
NXB Thống kê. 2003.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tinh_hang_hoa_cua_trang_trai_nuoc_ta_duoi_goc_do_dia_ly_kinh.pdf