Tỷ lệ khỏi bệnh ở phác đồ 1 cao hơn so
với phác đồ 2 với tỷ lệ lần lượt là 88,57%
và 80,00%. Trimethoprim kết hợp với
sulfamethoxypyridazine có hiệu quả tốt trong
điều trị các bệnh viêm nhiễm đường tiêu hóa,
tác động tốt trên các vi khuẩn đường ruột
(Enterobacter), tác động kéo dài. Tuy nhiên,
chúng lại bị chống chỉ định ở những thú bệnh
rối loạn về máu do chúng có thể gây tác dụng
phụ khi sử dụng ở thú thiếu máu do tan huyết.
Trong khi đó, gentamycine là nhóm kháng sinh
diệt khuẩn, tác động tốt trên cả nhóm vi khuẩn
gram dương và gram âm, đặc biệt là vi khuẩn họ
đường ruột. Hơn nữa, thuốc hấp thụ tốt bởi thú
bệnh viêm ruột xuất huyết hoặc hoại tử và sinh
khả dụng của gentamycine là 90%. Thêm vào
đó, thời gian bán thải của thuốc trong cơ thể chó
ghi nhận là từ 0,5-1,5 giờ (Allen và cs., 1998).
Nhận định này cũng phù hợp với Lobetti (2003)
khi đề nghị sử dụng gentamycine trong điều trị
bội nhiễm vi khuẩn trong bệnh viêm ruột do
Parvovirus trên chó. Qua bảng 5 cho thấy, đa
số các ca điều trị thì thời gian điều trị kéo dài (6-7
ngày) với tỷ lệ 59,32%, còn lại là nhóm chó điều trị
trong 4-5 ngày với tỷ lệ 40,68%. Kết quả này khác
nhau không có ý nghĩa thống kê (P=0,836). Trong
nhóm chó điều trị 4-5 ngày thì tỷ lệ khỏi bệnh phác
đồ 1 cao hơn phác đồ 2 (41,94% và 39,29%). Tuy
nhiên ở nhóm chó điều trị 6-7 ngày thì tỷ lệ khỏi
bệnh ở phác đồ 2 cao hơn so với phác đồ 1 (60,71%
và 58,06%) với P = 0,836.
Điều này được giải thích là do đây là bệnh gây ra
bởi virus nên không có thuốc điều trị đặc hiệu, việc
điều trị chủ yếu là nâng cao sức đề kháng, truyền
dịch nhằm mục đích bù nước, chất điện giải, cung
cấp dưỡng chất và cân bằng dịch thể, chống nhiễm
khuẩn thứ phát, giúp hệ miễn dịch của cơ thể có đủ
điều kiện và thời gian để tạo các kháng thể nhằm
trung hòa độc tố của virus, sau đó cơ thể bài thải
virus ra ngoài và con vật tự hồi phục. Đối với các
ca bệnh được phát hiện sớm, điều trị tích cực, liên
tục >4 ngày thì hiệu quả điều trị khỏi rất cao. Tuy
nhiên trong thực tế thì đa số các ca bệnh đều được
phát hiện muộn, con vật tiêu chảy máu, mất nước
và suy kiệt nặng, chủ nuôi không tuân thủ theo liệu
trình điều trị liên tục nên cơ hội cứu sống con vật là
rất thấp (McCandlish, 1998)
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tình hình bệnh viêm ruột do parvovirus trên chó tại bệnh xá thú y trường Đại học Cần Thơ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
36
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
TÌNH HÌNH BEÄNH VIEÂM RUOÄT DO PARVOVIRUS TREÂN CHOÙ
TAÏI BEÄNH XAÙ THUÙ Y TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC CAÀN THÔ
Nguyễn Thị Yến Mai1, Trần Ngọc Bích2, Trần Văn Thanh1
TÓM TẮT
Thí nghiệm được tiến hành để xác định tỷ lệ chó từ 2 đến 6 tháng tuổi bị viêm ruột do Parvovirus,
gây tiêu chảy, phân lẫn máu dựa vào kit chẩn đoán nhanh CPV-Ag tại Bệnh xá Thú y Trường Đại
học Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy 70 trong tổng số 159 con chó bị bệnh tiêu chảy, phân lẫn
máu do nhiễm CPV, chiếm tỷ lệ 44,03%. Chó ở độ tuổi từ 2 đến nhỏ hơn 3 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm
bệnh cao (82,61%) và khác biệt có ý nghĩa thống kê với chó ở độ tuổi từ 3 đến nhỏ hơn 4 tháng tuổi
(50%). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ nhiễm bệnh ở chó đực và chó cái. Tỷ lệ
mắc bệnh ở nhóm chó giống nội và nhóm chó giống ngoại lần lượt là 43,06% và 44,83%. Chó được
tiêm vacxin phòng bệnh thì tỷ lệ bị bệnh thấp hơn rất nhiều so với chó không được tiêm vacxin (2,9%
so với 75,56%). Tỷ lệ chó được điều trị khỏi bệnh viêm ruột do Parvovirus tại Bệnh xá Thú y Trường
Đại học Cần Thơ là 84,29%.
Từ khóa: chó, tiêu chảy, tỷ lệ nhiễm, CPV-Ag test, điều trị, Cần Thơ
The incidence of enteritis caused by Canine parvovirus in the Veterinary
Clinic of Can Tho University
Nguyen Thi Yen Mai, Tran Ngoc Bich, Tran Van Thanh
SUMMARY
The study was carried out to determine the incidence of enteritis caused by canine parvovirus
(CPV) in dogs from 2 months old to 6 months old with bloody diarrhea in the Veterinary Clinic
of Can Tho University by using the CPV – Ag rapid test kit. The result of diagnosis showed that
70 out of 159 dogs were positive with CPV antigen, accounting for 44.03%. The infection rate of
the dogs at age group from 2 to less than 3 months old was higher than that of the dogs at age
group from 3 to less than 4 months old (82.61% vs 50%). There was no statistically significant
difference of the infection rate between the male dogs and the female dogs. The infection rate of
the indigenous dog breed and the exotic dog breed was 43.06% and 44.83%, respectively. The
studied result also showed that the infection rate of the vaccinated dogs against CPV was much
lower than that of the unvaccinated dogs (2.9% vs 75.56%). The recovery dog rate from CPV
enteritis treatment in the Veterinary Clinic of Can Tho University was 84.29%.
Keywords: dog, diarrhea, infection rate, CPV-Ag test, treatment, Can Tho.
1. Trường Cao Đẳng Nông nghiệp Nam Bộ
2 Đại học Cần Thơ
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Canine parvovirus (CPV) lần đầu tiên được
ghi nhận vào những năm 1970, và kể từ đó được
biết là một tác nhân gây bệnh đường ruột của
chó trên toàn thế giới (Appel et al., 1979). Kể từ
khi xuất hiện, CPV đã gây ra đại dịch bệnh có
dấu hiệu viêm dạ dày-ruột nặng với sự lây
nhiễm cao, đặc biệt là ở chó con. CPV phát
triển nhanh chóng, xuất hiện nhiều biến dị di
truyền và kháng nguyên đã được báo cáo lưu
hành trên toàn thế giới (Miranda et al., 2016).
Con đường lây nhiễm chính là qua đường miệng,
thông qua tiếp xúc với phân của những con chó
bị nhiễm bệnh hoặc các chất thải bị ô nhiễm,
được tạo điều kiện bởi sự đề kháng đặc biệt của
virus trong môi trường. Các dấu hiệu lâm sàng
bao gồm thiếu máu, buồn nôn, nôn mửa và tiêu
37
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
chảy có máu (Decaro và Buonavoglia, 2012).
McCandlish (1998) cho rằng có sự giảm
thiểu bạch cầu đối với chó bị mắc bệnh khi có
dấu hiệu viêm ruột nặng và cũng có những đề
xuất điều trị bệnh bằng kháng sinh, dịch truyền,
kết hợp với chế độ dinh dưỡng hợp lý (Lobetti,
2003). Bệnh do Parvovirus trên chó là một bệnh
truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do 3 biến
chủng Canine Parvovirus type 2 (CPV-2) gây
ra. Thường chó từ 6-20 tuần tuổi dễ mắc bệnh
này với hai thể hay gặp là thể tim mạch và thể
tiêu hoá (Ferner, 1993).
Mặc dù trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu
liên quan đến bệnh do Parvovirus gây ra trên
chó, nhưng ở nước ta lĩnh vực này còn nhiều
hạn chế, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông
Cửu Long. Do vậy chúng tôi tiến hành khảo sát
tỷ lệ nhiễm bệnh do Parvovirus trên chó dưới
6 tháng tuổi tại Bệnh xá Thú y trường Đại học
Cần Thơ với mục tiêu để đánh giá tình hình và
mức độ bệnh viêm ruột do Parvovirus trên chó
dưới 6 tháng và thử nghiệm một số liệu pháp
điều trị bệnh.
II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát tình hình nhiễm bệnh do CPV gây
bệnh trên chó dưới 6 tháng tuổi
- Đánh giá hiệu quả của việc điều trị bệnh do
CPV gây ra.
2.2. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Chó từ 2-6 tháng tuổi có những biểu hiện
lâm sàng về nhiễm bệnh do Parvovirus.
Trang thiết bị, dụng cụ: Kim tiêm, ống tiêm,
lọ đựng mẫu, dụng cụ khớp mõm, dây cầm
cột,... và test thử nhanh (Parvovirus Rapid test
kit CPV Ag do công ty Bionote của Mỹ sản
xuất) (CPV-Ag).
Thuốc điều trị: Dịch truyền lactate Ringer’s,
dịch truyền glucose 5%, kháng sinh phổ tác dụng
rộng (gentamycine, sulfamethoxypyridazine,
trimethoprim), thuốc chống nôn (Metoclopramid
HCl), vitamin C, vitamin K.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp chẩn đoán nhanh CPV
Nguyên tắc hoạt động của kit CPV-Ag
dựa trên phương pháp sắc phổ miễn dịch
(immunochromatography assay). Trước tiên ta
lấy dung dịch có chứa kháng nguyên, cho dung
dịch chảy qua vùng lỗ có chứa kháng thể đông
khô đã được đánh dấu. Kháng nguyên sẽ kết hợp
với kháng thể tạo thành phức chất miễn dịch.
Chất đánh dấu trên kháng thể là những kim loại
keo như vàng keo có màu hồng. Sau đó, phức
chất miễn dịch được đưa vào vùng phát hiện có
chứa kháng thể cố định chống kháng nguyên và
như vậy việc kết hợp giữa kháng thể và phức
chất miễn dịch xảy ra. Lúc này xuất hiện những
vạch nhuộm màu. Chúng ta đọc kết quả dựa
trên những vạch này. Dương tính có 2 vạch màu
hồng xuất hiện ở vị trí C (Control) và T (Test)
trên test kit. Âm tính chỉ có 1 vạch màu hồng
xuất hiện ở vị trí C (Control) trên test kit. Dương
tính giả chỉ có 1 vạch màu hồng xuất hiện ở vị
trí T, nhưng vạch màu tại vị trí C không xuất
hiện trên test kit.
Phương pháp tiến hành chẩn đoán bệnh do
CPV bằng test kit CPV-Ag: cho mẫu (tăm bông
lấy mẫu phân từ trực tràng của chó nghi nhiễm
bệnh CPV) vào dung dịch đệm, khuấy đều cho
phân rã ra, chờ 10 giây. Nhỏ dung dịch đã pha
vào vùng thử (vị trí S), để yên và đọc kết quả
sau 5-10 phút. Mẫu dương tính khi thấy có 2
vạch hồng xuất hiện ở vị trí C (Control) và T
(Test) trên test kit, mẫu âm tính thì chỉ thấy có 1
vạch hồng xuất hiện ở vị trí C (Control) trên test
kit và mẫu dương tính giả thì chỉ thấy có 1 vạch
hồng xuất hiện ở vị trí T, nhưng vạch màu tại vị
trí C không xuất hiện trên test kit.
2.3.2. Thử nghiệm điều trị
Những chó dương tính khi thử test CPV-Ag
được lập bệnh án theo dõi như ghi nhận thân
nhiệt, tình trạng mất nước, tình trạng tiêu chảy,
tình trạng mất máu, trạng thái phân... và mức độ
38
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
tiến triển của bệnh. Sau đó tiến hành cấp thuốc
theo phác đồ điều trị, liệu trình điều trị 4-7 ngày.
Để đánh giá quá trình phục hồi thể trạng, trạng
thái sinh lý của chó trở lại bình thường, chúng tôi
dựa vào một số chỉ tiêu: giảm ói, giảm tiêu chảy,
trạng thái phân thay đổi, ăn uống tỉnh táo, vui
vẻ..., hiệu quả điều trị thông qua những chó còn
sống sót và mức độ phục hồi sau bệnh của chúng.
Phác đồ điều trị:
- Phác đồ 1: Sử dụng gentamycine, dịch truyền,
Metoclopramid HCl, vitamin C, vitamin K.
Tổng dịch truyền (lít) = % mất nước + trọng
lượng cơ thể (dịch truyền bao gồm: Dung dịch
Lactate Ringer’s và dung dịch glucose 5%)
Gentamycine: Tiêm dưới da, 3mg/kg thể
trọng, ngày 2 lần
Metoclopramid HCl: Tiêm dưới da, 1-2mg/
kg thể trọng/ngày
Vitamin C: Tiêm dưới da, 100mg/kg thể
trọng/ngày
Vitamin K: Tiêm bắp, 5-6mg/kg thể trọng/6-8
giờ (trong trường hợp chó tiêu chảy mất máu).
- Phác đồ 2: Sử dụng Septotryl 10%
(sulfamethoxypyridazine + trimethoprim), dịch
truyền, Metoclopramid HCl, vitamin C, vitamin
K.
Tổng dịch truyền (lít) = % mất nước + trọng
lượng cơ thể (dịch truyền bao gồm: Dung dịch
Lactate Ringer’s và dung dịch glucose 5%).
Septotryl 10%: Tiêm dưới da, 3ml/10kg thể
trọng/ngày
Metoclopramid HCl: Tiêm dưới da, 1-2mg/
kg thể trọng/ngày
Vitamin C: Tiêm dưới da, 100mg/kg thể
trọng/ngày
Vitamin K: Tiêm bắp, 5-6mg/kg thể trọng/6-8
giờ (trong trường hợp chó tiêu chảy mất máu).
2.3.3. Phương pháp phân tích thống kê
Số liệu trong thí nghiệm được xứ lý bằng
chương trình Excel 2007 và phép thử "Khi bình
phương" (χ2) trong phần mềm thống kê Minitab
version 16.0.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tình hình nhiễm bệnh do CPV ở chó
3.1.1. Tỷ lệ chó bị bệnh viêm ruột do Parvovirus
qua chẩn đoán bằng kit CPV-Ag
Trong tổng số 159 chó có biểu hiện bệnh
viêm ruột tiêu chảy phân lẫn máu, ói, có 70
con có kết quả dương tính với CPV, chiếm tỷ
lệ 44,03%. Tỷ lệ này tương đương với kết quả
nghiên cứu của Trần Ngọc Bích và ctv. (2013)
là 45,1%, nhưng cao hơn kết quả nghiên cứu
của Huỳnh Tấn Phát (2001) và Lê Thị Thu Thuỷ
(2011) với tỷ lệ lần lượt là 28,92% và 37,80%,
thấp hơn kết quả nghiên cứu của Lê Minh
Thành (2009) (47,10%). Sự khác biệt này có thể
là do địa điểm và thời gian khảo cứu khác nhau.
Ngoài ra, chó con (2-6 tháng tuổi) có hệ thống
miễn dịch chưa phát triển hoàn chỉnh, chó có thể
chưa được tiêm ngừa hay tiêm ngừa không đủ
liệu trình (Lobetti, 2003).
3.1.2. Tỷ lệ chó nhiễm Parvovirus theo giới tính
Bảng 1. Tỷ lệ chó nhiễm Parvovirus theo giới tính
Giới tính Số con khảo sát Số lượng chó bệnh Tỷ lệ (%)
Chó đực 89 38 42,69
Chó cái 70 32 45,71
Tổng 159 70 44,03
Bảng 1 cho thấy tỷ lệ bị nhiễm bệnh viêm
ruột do Parvovirus ở chó cái cao hơn ở chó đực,
nhưng khác biệt này không có ý nghĩa về mặt
thống kê với P>0,704. Kết quả này cũng phù
39
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
hợp với nghiên cứu của Trần Ngọc Bích và ctv.
(2013), tác giả cho rằng giới tính không ảnh
hưởng tỷ lệ nhiễm bệnh do Parvovirus ở chó.
3.1.3. Tỷ lệ chó nhiễm bệnh theo nhóm tuổi
Bảng 2. Tỷ lệ chó nhiễm Parvovirus theo lứa tuổi
Lứa tuổi (tháng) Số quan sát (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ (%)
2-<3 46 38 82,61a
3-<4 38 19 50b
4-<5 36 8 22,22c
5-6 39 5 12,82c
Tổng 159 70 44,03
a,b,c: Trong cùng một cột, những số có chữ số theo sau khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0,001
Bảng 2 cho thấy chó con trong độ tuổi từ 2
đến nhỏ hơn 3 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm bệnh do
Parvovirus cao nhất (82,61 %). Chó ở lứa tuổi
này tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn rất nhiều so với
chó ở độ tuổi từ 3 đến nhỏ hơn 4 tháng. Điều
này có thể giải thích như sau: chó nhỏ hơn 3
tháng tuổi, cơ thể bắt đầu phát triển và hoàn
thiện dần các bộ phận và chức năng của cơ thể.
Trong giai đoạn này, hệ tiêu hóa hoàn thiện hơn,
hệ vi sinh vật đường ruột thay đổi do có sự thay
đổi về khẩu phần ăn, thú non chuyển từ bú sữa
mẹ sang ăn thức ăn. Các biểu mô ruột phát triển
mạnh mẽ, mặt khác hệ miễn dịch của chó trong
giai đoạn này cũng chưa phát triển hoàn chỉnh
là điều kiện thuận lợi để Parvovirus tấn công,
(McCandlish, 1998). Kết quả này phù hợp với
kết quả nghiên cứu của Huỳnh Tấn Phát (2001)
và Lê Minh Thành (2009).
Chó ở độ tuổi từ 4 đến nhỏ hơn 5 tháng tuổi
nhiễm bệnh với tỷ lệ là 22,22 % và lứa tuổi 5-6
tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm bệnh do Parvovirus
thấp nhất (12,82 %); phù hợp với nhận định của
McCandlish (1998) cho rằng chó càng lớn thì tỷ
lệ nhiễm sẽ càng giảm dần.
3.1.4. Tỷ lệ chó nhiễm Parvovirus theo giống
Bảng 3. Tỷ lệ chó nhiễm bệnh do Parvovirus theo giống
Nhóm giống Số chó khảo sát Số lượng chó bệnh Tỷ lệ (%)
Chó giống nội 72 31 43,06
Chó giống ngoại 87 39 44,83
Tổng 159 70 44,03
Qua bảng 3 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tiêu
chảy máu do Parvovirus ở các giống chó ngoại
được mang đến điều trị cao hơn so với các
giống chó nội (44,83% so với 43,06%). Tuy
nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa thống
kê (P>0,823) và phù hợp với nhận định của Lê
Minh Thành (2009), tác giả ghi nhận được tỷ
lệ mặc bệnh tương đương nhau ở giống chó nội
và giống chó ngoại.
Nhìn chung không có sự khác biệt về tỷ lệ
nhiễm bệnh tiêu chảy lẫn máu do Parvovirus
theo giống chó. Điều này có thể được giải thích
là do các giống chó ngoại đã được nuôi ở nước
ta trong thời gian dài nên đã thích nghi hầu như
hoàn toàn với điều kiện thời tiết, môi trường
của nước ta, vì thế nên sức đề kháng của cơ thể
đối với mầm bệnh của các giống chó nội và các
giống chó ngoại là gần như nhau.
3.1.5. Tỷ lệ chó nhiễm Parvovirus theo tỷ lệ
tiêm phòng
40
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
Qua bảng 4 cho thấy trong số 70 con chó
bị nhiễm bệnh viêm ruột do Parvovirus, có 68
con chưa qua tiêm phòng, chiếm tỷ lệ rất cao
(75,56%) và sự khác biệt này rất có ý nghĩa
thống kê (P = 0,001). Điều này chứng tỏ, ngoài
điều kiện chăm sóc và chế độ dinh dưỡng thì
vacxin cũng là biện pháp tối ưu để bảo vệ chó
khỏi nguy cơ nhiễm bệnh. Tỷ lệ chó có tiêm
ngừa nhưng vẫn nhiễm bệnh chiếm tỷ lệ khá thấp
(2,9%). Việc chó tiêm ngừa vẫn nhiễm bệnh có
thể giải thích do bản thân cơ thể của nó không
tạo được đáp ứng miễn dịch với vacxin, do tiêm
ngừa vào giai đoạn ủ bệnh nên không phát hiện
triệu chứng hoặc có thể do chủ nuôi không tuân
thủ theo lịch tiêm phòng vacxin, ... Kết quả trên
cho thấy việc phòng bệnh bằng vacxin vẫn có
hiệu quả tích cực trong việc làm giảm khả năng
bị nhiễm virus (McCandlish, 1998).
3.2. Hiệu quả điều trị bệnh do Parvovirus
trên chó
Bảng 4. Tỷ lệ chó nhiễm Parvovirus theo tỷ lệ tiêm phòng
Tiêm phòng Số chó khảo sát Số lượng chó bệnh Tỷ lệ (%)
Không tiêm phòng 90 68 75,56a
Có tiêm phòng 69 2 2,9b
Tổng 159 70 44,03
a,b,:Trong cùng một cột, những số có chữ số theo sau khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0,001
Bảng 5. Kết quả điều trị chó bị bệnh do Parvovirus
Phác đồ
Kết quả điều trị Số ngày điều trị
Khỏi bệnh 4-5 ngày 6-7 ngày
Số lượng (con) Tỷ lệ (%) Số lượng (con) Tỷ lệ (%) Số lượng (con) Tỷ lệ (%)
Phác đồ 1 31 88,57 13 41,94 18 58,06
Phác đồ 2 28 80,00 11 39,29 17 60,71
Tổng 59 84,29 24 40,68 35 59,32
Qua bảng 5 cho thấy, tỷ lệ điều trị khỏi bệnh
viêm ruột do Parvovirus là khá cao (phác đồ 1 là
88,57% và phác đồ 2 là 80,00%). Kết quả này phù
hợp công bố của Lê Minh Thành (2009) với tỷ lệ
điều trị khỏi bệnh là 86,30%, và cao hơn kết quả
điều trị khỏi bệnh của Trần Ngọc Bích và ctv. (2013)
với tỷ lệ điều trị khỏi bệnh là 65,1%. Thực tế khảo
sát của chúng tôi ghi nhận là số chó đem đến phòng
mạch điều trị ở giai đoạn sớm, bệnh mới phát, vật
nuôi chưa mất nhiều nước, nhiều máu, nên hiệu
quả điều trị cao. Khi Parvovirus xâm nhập vào cơ
thể chó sẽ gây ra tình trạng tiêu chảy lẫn máu làm cơ
thể mất nước và chất điện giải nghiêm trọng. Do đó,
liệu pháp hỗ trợ truyền dịch với Lactate Ringer’s và
glucose 5% nhằm bù lượng nước và chất điện giải
đã mất, giúp cơ thể chống chọi với mầm bệnh, vượt
qua giai đoạn suy kiệt (Lobetti, 2003).
Tỷ lệ khỏi bệnh ở phác đồ 1 cao hơn so
với phác đồ 2 với tỷ lệ lần lượt là 88,57%
và 80,00%. Trimethoprim kết hợp với
sulfamethoxypyridazine có hiệu quả tốt trong
điều trị các bệnh viêm nhiễm đường tiêu hóa,
tác động tốt trên các vi khuẩn đường ruột
(Enterobacter), tác động kéo dài. Tuy nhiên,
chúng lại bị chống chỉ định ở những thú bệnh
rối loạn về máu do chúng có thể gây tác dụng
phụ khi sử dụng ở thú thiếu máu do tan huyết.
Trong khi đó, gentamycine là nhóm kháng sinh
diệt khuẩn, tác động tốt trên cả nhóm vi khuẩn
gram dương và gram âm, đặc biệt là vi khuẩn họ
đường ruột. Hơn nữa, thuốc hấp thụ tốt bởi thú
bệnh viêm ruột xuất huyết hoặc hoại tử và sinh
khả dụng của gentamycine là 90%. Thêm vào
đó, thời gian bán thải của thuốc trong cơ thể chó
41
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
ghi nhận là từ 0,5-1,5 giờ (Allen và cs., 1998).
Nhận định này cũng phù hợp với Lobetti (2003)
khi đề nghị sử dụng gentamycine trong điều trị
bội nhiễm vi khuẩn trong bệnh viêm ruột do
Parvovirus trên chó. Qua bảng 5 cho thấy, đa
số các ca điều trị thì thời gian điều trị kéo dài (6-7
ngày) với tỷ lệ 59,32%, còn lại là nhóm chó điều trị
trong 4-5 ngày với tỷ lệ 40,68%. Kết quả này khác
nhau không có ý nghĩa thống kê (P=0,836). Trong
nhóm chó điều trị 4-5 ngày thì tỷ lệ khỏi bệnh phác
đồ 1 cao hơn phác đồ 2 (41,94% và 39,29%). Tuy
nhiên ở nhóm chó điều trị 6-7 ngày thì tỷ lệ khỏi
bệnh ở phác đồ 2 cao hơn so với phác đồ 1 (60,71%
và 58,06%) với P = 0,836.
Điều này được giải thích là do đây là bệnh gây ra
bởi virus nên không có thuốc điều trị đặc hiệu, việc
điều trị chủ yếu là nâng cao sức đề kháng, truyền
dịch nhằm mục đích bù nước, chất điện giải, cung
cấp dưỡng chất và cân bằng dịch thể, chống nhiễm
khuẩn thứ phát, giúp hệ miễn dịch của cơ thể có đủ
điều kiện và thời gian để tạo các kháng thể nhằm
trung hòa độc tố của virus, sau đó cơ thể bài thải
virus ra ngoài và con vật tự hồi phục. Đối với các
ca bệnh được phát hiện sớm, điều trị tích cực, liên
tục >4 ngày thì hiệu quả điều trị khỏi rất cao. Tuy
nhiên trong thực tế thì đa số các ca bệnh đều được
phát hiện muộn, con vật tiêu chảy máu, mất nước
và suy kiệt nặng, chủ nuôi không tuân thủ theo liệu
trình điều trị liên tục nên cơ hội cứu sống con vật là
rất thấp (McCandlish, 1998).
IV. KẾT LUẬN
Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm ruột do Parvovirus trên
chó ở thành phố Cần Thơ khá cao, chiếm 44,03%.
Bệnh viêm ruột do Parvovirus xảy ra nhiều và
nghiêm trọng nhất ở chó từ 2 đến dưới 3 tháng
tuổi (82,61%), sau đó giảm dần qua các tháng
tuổi tiếp theo và không phụ thuộc vào nhóm
giống chó và giới tính. Chó bị nhiễm Parvovirus
do không được tiêm phòng có tỷ lệ 75,56%,
trong khi chó được tiêm phòng thì tỷ lệ là 2,9%.
Hiệu quả của hai phác đồ điều trị là tương
đương nhau với tỷ lệ điều trị khỏi bệnh là
84,29%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Allen, D. G., J. K. Pringle, D. A. Smith, P. D. Conlon and
P. M. Burgmann, 1998. Handbook of veterinary drugs.
2. Appel, M.J.G., F.W. Scott, L.E. Carmichael, 1979.
Isolation and immunization studies of a canine parvo-
like virus from dogs with haemorrhagic enteritis. Vet
Rec 105: 156–159.
3. Decaro, N., C. Buonavoglia, 2012. Canine parvovirus –
A review of epidemiological and diagnostic aspects, with
emphasis on type 2c. Veterinary Microbiology 155, 1–12.
4. Fenner, F.J (1993), Veterinary Virology. Second
edition, Academic Press, Inc, San Diego, California,
USA. pp 316-317.
5. Huỳnh Tấn Phát (2001), Khảo sát tình hình nhiễm và một
số biến đổi bệnh lý do Parvovirus trong hội chứng ói mửa,
tiêu chảy ra máu trên chó tại Thành phố Hồ Chí Minh,
Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Nông lâm Tp HCM.
6. Lê Minh Thành (2009), Nghiên cứu bệnh viêm ruột do
Parvovirus trên chó và hiêu quả điều trị tại bệnh xá thú y
trường Đại Học Cần Thơ. Luận văn Thạc sĩ khoa học nông
nghiệp chuyên ngành thú y, trường Đại học Cần Thơ.
7. Lê Thị Thu Thuỷ (2011), Khảo sát tình hình nhiễm
Parvovirus trên chó tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng
Tháp. Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Cần Thơ.
8. Lobetti (2003), “Canine Parvovirus and Distemper”.
In: 28th World Congress of World Small Animal
Veterinary Association, October 24-27 2003, Bangkok,
Thailand.
9. McCandlish (1998), Canine parvovirus infection,
In:NeilT. German, Canine Medicine and Therapeutics,
Fourth edition, pp.127-130, BlackwellScience
10. McCandlish I. (1999), Specific infection of Dog. In:
John Dunn, Textbook of small animal medicine, pp.
921-926, W. B. Saunders, London, United Kingdom.
11. Miranda, C., C. R. Parrish and G. Thompson, 2016.
Epidemiological evolution of canine parvovirus in
the Portuguese domestic dog population. Veterinary
microbiology, 183: 37-42.
12. Trần Ngọc Bích, Trần Thị Thảo, Nguyễn Thị Yến Mai và
Nguyễn Quốc Viêt (2013). Khảo sát tỷ lệ bệnh do Parvovirus
trên chó từ 1 đến 6 tháng tuổi ở thành phố Cần Thơ. Tạp chí
Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 28: 15-20.
Ngày nhận 2-2-2018
Ngày phản biện 14-4-2018
Ngày đăng 1-6-2018
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tinh_hinh_benh_viem_ruot_do_parvovirus_tren_cho_tai_benh_xa.pdf