Kết quả tại hình 1 cho thấy, 100% số mẫu
xuất hiện kháng thể. Tuy nhiên, ở ngày thứ 14
số mẫu huyết thanh có chỉ số OD ≥ Cut off (Cut
off = 0,21) là 78,33%, còn lại 21,67% số mẫu có
chỉ số OD từ 0,08 đến 0,20. Ở ngày thứ 21, số
mẫu huyết thanh có chỉ số OD ≥ Cut off là 80%
và 20,00% số mẫu còn lại có chỉ số OD từ 0,04
đến 0,20. Song & cs. (2007) cho biết lợn nái chửa
ở tuần thứ 12 sau khi uống virus PED 2 tuần
thì có chỉ số OD trung bình là 0,515. Theo
Chang & cs. (1999) Lợn nái mang thai ở tuần
thứ 11-12 khi sử dụng virus PED gây nhiễm thì
kết quả phản ứng miễn dịch ELISA tăng lên.
4. KẾT LUẬN
Lợn nuôi tại Thanh Hoá có tỷ lệ mắc bệnh,
chết và tử vong do PED là 14,56%, 7,77% và
53,38%. Các huyện vùng ven biển và vùng núi
có tỷ lệ lợn mắc bệnh và tử vong do PED cao
nhất (Tĩnh Gia 16,12% và 56,57%; Thạch Thành
15,06% và 56,43%). Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong
cao nhất ở nhóm lợn con theo mẹ (22,01% và
72,63%) và thấp nhất ở nhóm lợn đực giống
(5,81% và 0%). Lợn mắc bệnh và tử vong nhiều
nhất ở mùa đông (21,70% và 58,93%), thấp nhất
ở mùa hè (7,43% và 40,28%). Các trại lớn có tỷ
lệ mắc bệnh cao nhất (15,79%) nhưng tỷ lệ tử
vong lại thấp nhất (50,75%).
Tất cả 100% mẫu huyết thanh của đàn lợn
nái sau 14 và 21 ngày sử dụng phương pháp
“gut feedback” có xuất hiện kháng thể PED (OD
từ 0,04 đến 1,11). Tuy nhiên, chỉ có 80,00% mẫu
(có OD ≥0,21) là dương tính.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 27 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tình hình dịch tiêu chảy cấp (Porcine Epidemic diarrhea - Ped) và xác định kháng thể ped sau khi sử dụng phương pháp “gut feedback” ở đàn lợn tại tỉnh Thanh Hoá, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No. 8: 599-606 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(8): 599-606
www.vnua.edu.vn
599
TÌNH HÌNH DỊCH TIÊU CHẢY CẤP (PORCINE EPIDEMIC DIARRHEA - PED) VÀ
XÁC ĐỊNH KHÁNG THỂ PED SAU KHI SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP “GUT FEEDBACK” Ở ĐÀN LỢN
TẠI TỈNH THANH HOÁ
Hoàng Văn Sơn1,2*, Phạm Ngọc Thạch3, Nguyễn Thị Lan3
1NCS Học viện Nông nghiệp Việt Nam, 2Trường Đại học Hồng Đức
3Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*Tác giả liên hệ: hoangsonhdu@gmail.com
Ngày nhận bài: 10.01.2020 Ngày chấp nhận đăng: 10.07.2020
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm đánh giá tình hình bệnh PED và khả năng tạo kháng thể sau khi sử dụng phương pháp
“gut feedback” ở đàn lợn tại tỉnh Thanh Hoá. Một cuộc điều tra được tiến hành trên 16.443 con lợn nuôi tại các trại ở
6 huyện của tỉnh bằng phiếu theo dõi kết hợp với sử dụng Test kit PED Ag và phương pháp RT-PCR. Sử dụng
phương pháp test ELISA để xác định kháng thể của phương pháp “gut feedback” ở 60 lợn nái chửa ở tuần thứ 13.
Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc PED ở lợn tại Thanh Hoá là 14,56% và tỷ lệ tử vong là 53,38%. Trong đó tỷ lệ mắc bệnh
cao nhất là đàn lợn thuộc huyện Tĩnh Gia (16,12%), đàn lợn thuộc huyện Yên Định có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất
(12,08%). Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao nhất ở nhóm lợn con theo mẹ (22,01% và 72,63%) và thấp nhất ở nhóm
lợn đực giống (5,81% và 0%). Lợn mắc bệnh và tử vong cao nhất ở mùa Đông và thấp nhất ở mùa Hè. Các trại lớn
có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất (15,79%) nhưng tỷ lệ tử vong lại thấp nhất (50,75%). Sau khi sử dụng phương pháp “gut
feedback” 100% mẫu kháng thể có OD từ 0,05 đến 1,04. Ở thời điểm 14 ngày có 78,33% mẫu và ở 21 ngày có
80,00% mẫu có OD ≥ Cut off: Dương tính, với Cut off có giá trị = 0,21.
Từ khoá: Dịch tiêu chảy cấp trên lợn (PED), tình hình mắc bệnh, Gut feedback, kháng thể, Thanh Hoá.
The Prevalence of Porcine Epidemic Diarrhea (PED)
and Detection of Antibody against PED Virus in Pigs Infected by “Gut Feedback” Method
in Thanh Hoa Province
ABSTRACT
A survey on the prevalence of PED and detection of antibody against PED virus in pigs infected by “gut
feedback” method was conducted in Thanh Hoa province. A total of16.443 pigs raised in six districts of Thanh Hoa
province was daily observed, the pigs with symptoms of PED were confirmed by PED Ag Test kits and RT-PCR
technique.A total of sixty gestation sows (at 13th weeks of pregnancy) was used in an experiment to detect
antibodies against PED virus by protein-based enzyme-linked immunosorbent assay (ELISA) testing method. The
results showed that the prevalence of PED in pigs in Thanh Hoa province was 14.56% with the case fatality rate
(CFR)was 53.38%. Of all districts, the prevalence was the highest in Tinh Gia district (16.12%), while it was the
lowest in Yen Dinh district (12.08%). The prevalence and CFR of PED were the highest in suckling pigs (22.01% and
72.63%, respectively) but they were lowest in boars (5.81% and 0%, respectively). In this study, the prevalence of
PED was higher in the winter than in the summer (33% and 18%, respectively). The size of farms has also affected
the results, in which the large farm showed the highest prevalence (15.79%) but the lowest CFR (50.75%). The
results indicated that after infected with PED by “gut feedback” method, all of the serum samples from experimental
pigs presented antibodies against PED virus. At 14 days and 21 days after infection, the percentages of pigs showed
positive results to antibodies against PED virus were 78.33% and80.00%, respectively.
Keywords: Porcine Epidemic Diarrhoea (PED), infection, Gut feedback, antibody concentration, Thanh Hoa.
Tình hình dịch tiêu chảy cấp (Porcine Epidemic Diarrhea - PED) và xác định kháng thể PED sau khi sử dụng
phương pháp “Gut Feedback” ở đàn lợn tại tỉnh Thanh Hoá
600
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Dịch tiêu chảy cấp ở (PED) là bệnh truyền
nhiễm, do virus thuộc nhóm Coronavirus gây ra,
đây là virus có cấu trúc phức tạp, đa dạng về
chủng và mối quan hệ giữa các dạng đột biến với
chức năng của virus (Puranaveja & cs., 2009).
Bệnh được phát hiện lần đầu ở Anh vào năm
1971 với đặc điểm lây lan rất nhanh, gây ói mửa,
tiêu chảy nặng trên lợn ở mọi lứa tuổi và những
năm sau đó bệnh xuất hiện ở Nhật, Trung Quốc
và nhiều nước Châu Âu, hiện nay bệnh phân bố
khắp nơi trên thế giới (Pospischil & cs., 2002;
Song & Park, 2012). Năm 2013, dịch bệnh đã lây
lan trên 200 trại nuôi lợn ở khắp nước Mỹ, hơn
17 bang có dịch bệnh trong vòng 3 tháng, với tỷ
lệ chết trên lợn con từ 50-100% (Huang & cs.,
2013; Stevenson & cs., 2013).
Ở Việt Nam, theo Do Tien Duy & cs. (2011)
và Nguyễn Tất Toàn (2012), bệnh được phát
hiện từ năm 2008 ở một số tỉnh phía Nam với tỷ
lệ bệnh ở các độ tuổi có thể đến 100%, tỷ lệ chết
khác nhau giữa các độ tuổi, đặc biệt cao nhất ở
lợn con theo mẹ (50-100%). Ở khu vực phía Bắc,
khi nghiên cứu tình hình dịch tiêu chảy cấp
(PED) xảy ra tại 26 trại ở một số tỉnh cho thấy,
bệnh thường bùng phát vào mùa lạnh (từ tháng
11 đến tháng 4), lây lan nhanh, tỷ lệ lợn biểu
hiện tiêu chảy cao (trung bình 76,8%). Lợn ở tất
cả các lứa tuổi đều bị tiêu chảy (có thể lên tới
100%), tỷ lệ chết cao ở lợn con theo mẹ (68,6%-
100%). Có sự khác biệt lớn về mức độ cảm
nhiễm, tỷ lệ biểu hiện tiêu chảy, tỷ lệ chết, thời
gian tiêu chảy giữa các trại và giữa các nhóm
tuổi, giới tính (Nguyễn Trung Tiến & cs., 2013;
Nguyễn Văn Điệp & cs., 2014; Huỳnh Minh Trí
& cs., 2017).
Thanh Hoá là tỉnh có số lượng đàn lợn
lớn.Theo Cục Thống kê Thanh Hoá tại thời điểm
01/4/2018, toàn tỉnh có 717.358 con lợn, trong đó
có 258.767 con được nuôi tại các trại. Tình hình
bệnh PED đang xảy ra trên đàn lợn tại các trại
trong tỉnh, người chăn nuôi đang gặp rất nhiều
khó khăn trong công tác kiểm soát bệnh. Để
kiểm soát dịch bệnh thì phương pháp “gut
feedback” đã và đang được áp dụng (Thai Swine
Veternary Association, 2015). Đây là phương
pháp dùng chất chứa mầm bệnh của lợn mắc
bệnh để gây nhiễm cho các lợn khoẻ khác nhằm
tạo ra kháng thể chủ động. Nghiên cứu này mục
đích là cung cấp số liệu về tình hình bệnh PED
và xác định khả năng tạo kháng thể sau khi sử
dụng phương pháp “gut feedback” ở đàn lợn để
các nhà Thú y phân tích và dự báo quá trình tiến
triển của bệnh nhằm xây dựng các biện pháp xử
lý, giảm bớt thiệt hại do dịch bệnh gây ra.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi
- Lợn nuôi tại các trại lợn thuộc 6 huyện có
số lượng lợn và đặc điểm địa lý đặc thù cho tỉnh
Thanh Hoá đó là: huyện Yên Định và Nông
Cống (vùng đồng bằng), huyện Hoằng Hoá và
Tĩnh Gia (vùng ven biển), huyện Như Thanh và
Thạch Thành (vùng trung du miền núi).
- Lợn được chia theo 5 nhóm: lợn con theo
mẹ, lợn cai sữa, lợn thịt, lợn nái và lợn đực giống.
- Quy mô đàn 3 mức: Gia trại: Dưới 20 lợn
nái hoặc dưới 100 lợn thịt; Trại nhỏ: từ 20-50
lợn nái hoặc từ 100-250 lợn thịt; Trại lớn: trên
50 lợn nái hoặc trên 250 lợn thịt (Thông tư số
69/2000/TTLB-BNN-TCTK).
2.2. Lấy mẫu bệnh phẩm
- Lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm (phân ở
hậu môn, ruột non) từ những lợn có triệu chứng
điển hình của bệnh và sau đó được sử dụng Test
kit PED Ag của hãng Zoetis để sàng lọc, những
mẫu dương tính được vận chuyển về phòng thí
nghiệm trọng điểm Công nghệ Sinh học Thú y -
Học viện Nông nghiệp Việt Nam để xác định sự
có mặt của virus PED bằng phương pháp Real
time Polymerase Chain Reaction (RT-PCR).
- Lấy 60 mẫu có kết quả RT-PCR dương
tính với virus PED để tạo chế phẩm sử dụng
trong phương pháp “Gut feedback”: Lấy toàn bộ
ruột (cả ruột non và ruột già) của lợn con dưới 1
tuần tuổi được xác định là bị bệnh PED.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Xác định lợn mắc bệnh PED
Lợn ở các trại được theo dõi trực tiếp và
điền thông tin vào phiếu theo dõi. Sau khi điều
tra xác định đàn lợn nghi mắc PED, chúng tôi
Hoàng Văn Sơn, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Thị Lan
601
tiến hành chọn mỗi đàn 1-2 lợn có biểu hiện lâm
sàng điển hình (tiêu chảy phân vàng xám, gầy
sút nhanh, giảm ăn (bú), nằm dồn đống hoặc
nằm trên bụng mẹ), sau đó tiến hành chẩn đoán
nhanh bằng Test kit PED Ag và RT-PCR để xác
định chính xác bệnh. Những lợn còn lại ở trong
đàn nếu có những biểu hiện tương tự lợn có kết
quả Test kit PED Ag và RT-PCR dương tính
cũng được xác định là mắc PED.
2.3.2. Xác định tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết, tỷ
lệ tử vong theo địa phương, theo đối tượng
lợn, theo mùa trong năm và quy mô đàn
Tỷ lệ mắc bệnh (%) =
Số con mắc bệnh
×100 Tổng số con
theo dõi
Tỷ lệ chết (%) =
Số con chết
×100
Tổng số con theo dõi
Tỷ lệ tử vong (%) =
Số con chết
×100 Tổng số con
mắc bệnh
2.3.3. Phương pháp chế chếphẩm “Gut
feedback”
- Bước 1: Lấy một bộ ruột (cả ruột non và
ruột già) của lợn con dưới 1 tuần tuổi có kết quả
dương tính với Test kit PED Ag và RT-PCR,
với những biểu hiện lâm sàng điển hình đem
xay nhuyễn.
-Bước 2: Cho dung dịch nước muối sinh lý
0,9% vào với tỷ lệ 1/5 (1 phần ruột, 5 phần nước
muối sinh lý 0,9%) để được chế phẩm.
- Bước 3: Cho Amoxicillin và Colistin 10%
liều 300ppm (để tiêu diệt các vi khuẩn), tiếp tục
xay (lắc) 1-2 phút sẽ được chế phẩm “gut
feedback” PED.
- Bước 4: Đổ chế phẩm ra dụng cụ vô trùng
và bảo quản ở nhiệt độ 2-8C.
2.3.4. Quy trình sử dụng và phương pháp
xác định kháng thể sau khi sử dụng chế
phẩm “gut feedback”
- Thí nghiệm được thực hiện trên 60 lợn nái
mang thai ở tuần thứ 13 âm tính với PED.
- Trộn 15ml chế phẩm “gut feedback” PED
với 50g thức ăn và cho ăn trước bữa ăn để lợn ăn
hết. Dùng đến khi lợn nái có biểu hiện tiêu
chảy, sau 7 ngày không tiêu chảy thì dừng.
- Phương pháp xác định kháng thể sau khi
sử dụng chế phẩm “gut feedback”:
Lấy máu ở vịnh tĩnh mạch cổ của lợn nái,
dùng phương pháp “gut feedback” PED 14 và 21
ngày để kiểm tra kháng thể trong huyết thanh.
Lấy máu vào sáng sớm trước khi cho ăn. Dùng
xilanh 5ml, lấy 3ml máu vào xilanh và lấy 1ml
không khí sau đó để nghiêng xilanh góc 45 rồi
để yên tĩnh cho máu đông. Bảo quản nhiệt độ
2-8C, đưa về phòng thí nghiệm trong thời gian
nhanh nhất, không được để quá 2 ngày.
Sử dụng phương pháp test ELISA theo
ISO/IEC 17025:2005 để xác định kháng thể
trong huyết thanh lợn nái đã được dùng “gut
feedback” PED. Kết quả kháng thể là chỉ số OD,
nếu OD ≥ Cut off: Dương tính. Cut off có giá
trị = 0,21.
2.4. Địa điểm nghiên cứu
Phản ứng RT-PCR và ELISA được thực
hiện tại Phòng thí nghiệm trọng điểm Công
nghệ sinh học Thú y-Học viện Nông nghiệp
Việt Nam.
2.5. Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng chương trình thống
kê Minitab 16 với phương pháp Chi bình
phương (2) để so sánh giữa các nhóm đối tượng
lợn hay giữa các huyện.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tình hình dịch tiêu chảy cấp ở đàn lợn
nuôi tại tỉnh Thanh Hoá
3.1.1. Tình hình dịch tiêu chảy cấp ở đàn
lợn nuôi tại các huyện của tỉnh Thanh Hoá
Kết quả theo dõi tình hình dịch PED ở đàn
lợn ở một số gia trại và trang trại chăn nuôi tại
6 huyện của Thanh Hoá được thể hiện qua
bảng 1.
Tình hình dịch tiêu chảy cấp (Porcine Epidemic Diarrhea - PED) và xác định kháng thể PED sau khi sử dụng
phương pháp “Gut Feedback” ở đàn lợn tại tỉnh Thanh Hoá
602
Bảng 1. Tình hình dịch tiêu chảy cấp trên đàn lợn nuôi tại các huyện của tỉnh Thanh Hoá
Địa điểm
(huyện)
Số lợn điều tra
(con)
Số lợn mắc
(con)
Số lợn chết
(con)
Tỷ lệ mắc bệnh
(%)
Tỷ lệ chết
(%)
Tỷ lệ tử vong
(%)
Hoằng Hoá 2.771 398 198 14,36
bce
7,15
ace
49,75
a
Như Thanh 1.757 293 149 16,68
bdfgh
8,48
aceg
50,85
acd
Nông Cống 2.982 414 207 13,88
bc
6,94
ac
50,00
ac
Thạch
Thành
3.459 521 294 15,06
bceg
8,50
bdfgh
56,43
bcef
Tĩnh Gia 2.642 426 241 16,12
bdegh
9,12
bdfgh
56,57
bcef
Yên Định 2.832 342 189 12,08
a
6,67
a
55,26
acd
Tổng 16.443 2.394 1.278
Trung bình 14,56 7,77 53,38
P <0,05 <0,05 <0,05
Ghi chú: Các chữ cái a,b,c,d,e,f,g,h biểu hiện sai khác có ý nghĩa giữa các giá trị so sánh trong cùng cột.
Bảng 2. Tình hình lợn mắc dịch tiêu chảy cấp theo đối tượng lợn nuôi tại Thanh Hoá
Đối tượng lợn
Số lợn điều tra
(con)
Số lợn mắc
(con)
Số lợn chết
(con)
Tỷ lệ mắc
(%)
Tỷ lệ chết
(%)
Tỷ lệ tử vong
(%)
Lợn con theo mẹ 7.287 1.604 1.165 22,01
bceg
15,99
b
72,63
b
Lợn cai sữa 3.529 425 113 12,04
bcef
3,20
a
26,59
a
Lợn thịt 4.496 281 0 6,25
ab
0,00 0,00
Lợn nái 1.131 84 0 7,43
abd
0,00 0,00
Lợn đực giống 86 5 0 5,81
a
0,00 0,00
Tổng 16.443 2.394 1.278
P <0,05 <0,001 <0,001
Ghi chú: Các chữ cái a,b,c,d,e,f, g biểu hiện sai khác có ý nghĩa giữa các giá trị so sánh trong cùng cột.
Bảng 1 cho thấy: tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết
và tỷ lệ tử vong ở lợn mắc dịch tiêu chảy cấp
(PED) của 6 huyện thuộc tỉnh Thanh Hoá là khá
cao. Trong đó lợn nuôi tại huyện Tĩnh Gia có tỷ lệ
mắc bệnh, tỷ lệ chết và tỷ lệ tử vong là cao nhất
và huyện Yên Định có tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ
chết thấp nhất so với các huyện (P <0,05).
Nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau giữa các
huyện trong tỉnh là do có sự khác biệt về đặc
điểm địa lý và trình độ kỹ thuật chăn nuôi. Tĩnh
Gia là huyện vùng ven biển, chịu tác động của
khí hậu vùng biển. Như Thanh và Thạch Thành
là huyện miền núi, các chủ trại đa số là người địa
phương, khả năng tiếp cận với tiến bộ khoa học
kỹ thuật còn hạn chế. Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu tỷ
lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết và tỷ lệ tử vong ở lợn mắc
PED nuôi tại tỉnh Bắc Ninh của Nguyễn Thị Sen
(2013), tại nghiên cứu này, tác giả đã xác định
được tỷ lệ mắc bệnh là 18,42%, tỷ lệ chết là
10,01% và tỷ lệ tử vong là 54,32%. Cũng tại
nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Thị Sen (2013)
đã khẳng định tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết và tỷ lệ
tử vong ở các địa phương là khác nhau.
3.1.2. Tình hình dịch tiêu chảy cấp theo đối
tượng lợn nuôi tại Thanh Hoá
Để đánh giá khả năng kháng bệnh cũng
như mức độ gây thiệt hại cho đàn lợn khi mắc
dịch tiêu chảy cấp, chúng tôi đã tiến hành phân
đối tượng lợn thành 5 nhóm khác nhau, kết quả
theo dõi được trình bày tại bảng 2.
Bảng 2 cho thấy, 100% đối tượng lợn đều bị
mắc bệnh, tuy nhiên tỷ lệ mắc bệnh ở các nhóm
đối tượng là khác nhau. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất
là nhóm đối tượng lợn con theo mẹ, tiếp đến là
nhóm đối tượng lợn cai sữa và thấp nhất là lợn
đực giống (P <0,05). Ba nhóm đối tượng lợn là lợn
Hoàng Văn Sơn, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Thị Lan
603
thịt, lợn nái và lợn đực giống có tỷ lệ mắc bệnh
tương đương nhau và không có sự khác biệt về
mặt thống kê học (P >0,05). Về tỷ lệ chết và tỷ lệ
tử vong do mắc bệnh tiêu chảy cấp trên đàn lợn
chỉ xảy ra đối với hai nhóm đối tượng lợn là nhóm
đối tượng lợn con theo mẹ và nhóm đối tượng lợn
cai sữa. Theo Nguyễn Văn Điệp & cs. (2014), khi
nghiên cứu về PED ở 6 tỉnh phía Bắc, lợn ở tất cả
các lứa tuổi đều mắc bệnh, tỷ lệ tử vong ở lợn con
theo mẹ là 68,60% và có sự khác biệt lớn về mức
độ mắc bệnh giữa các nhóm tuổi. Cũng nghiên
cứu về vấn đề này, Đoàn Anh Tuấn (2012) cho
biết: Nếu lợn con mắc bệnh ở độ tuổi 0-5 ngày
tuổi: tỷ lệ tử vong 100%, nếu lợn con mắc bệnh ở
độ tuổi 6-7 ngày tuổi tỷ lệ tử vong khoảng 50%
còn nếu lợn con mắc bệnh ở độ tuổi lớn hơn 7
ngày tuổi tỷ lệ tử vong khoảng 30%.
Theo Pensaert & Sang-Geon (2006), virus
PED có vòng sinh sản từ 12-36 giờ. Sau 4-5
vòng sinh sản của virus, hầu hết các tế bào tiêu
hóa ở lợn mới sinh bị phá huỷlàm cho khả năng
tiêu hóa và hấp thu giảm từ 7/1 xuống còn 3/1.
Do vậy, khi bị bệnh lợn con gầy sút rất nhanh
trong vài ngày, tỷ lệ tử vong rất cao, hầu hết lợn
dưới 7 ngày tuổi sẽ tử vong sau 2-7 ngày với
biểu hiện của sự mất nước, hôn mê.
3.1.3. Tình hình lợn mắc dịch tiêu chảy cấp
theo mùa trong năm tại Thanh Hoá
Kết quả theo dõi tình hình dịch PED trên
đàn lợn theo mùa trong năm tại Thanh Hoá
được thể hiện qua bảng 3. Tỷ lệ mắc PED ở mùa
đông là cao nhất và thấp nhất là mùa hè
(P <0,001). Mùa đông và mùa xuân tỷ lệ tử vong
cao nhất (58,93%), trong khi đó mùa hè với mùa
thu là hai mùa có tỷ lệ tử vong thấp nhất
(P <0,05).
Có sự khác nhau về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ
tử vong ở các mùa trong năm là do mùa Đông ở
Thanh Hoá có nhiệt độ rất thấp kết hợp với mưa
phùn và gió mùa Đông Bắc làm cho nhiệt độ
giảm thấp còn khoảng 5,4C và thậm chí có
những đợt thấp hơn 1C, độ ẩm lên cao
(94-100%). Theo Hồ Văn Nam & cs. (1997), khi
gia súc bị nhiễm lạnh, ẩm kéo dài sẽ làm giảm
phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, do
đó gia súc dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh. Kết quả
này cũng phù hợp với Nguyễn Văn Điệp & cs.
(2014) khi nghiên cứu tình hình PED xảy ra tại
một số tỉnh phía Bắc Việt Nam cho biết tại các
trại, PED thường bùng phát vào mùa lạnh (từ
tháng 11 đến tháng 4).
Bảng 3. Tình hình lợn mắc dịch tiêu chảy cấp theo mùa trong năm tại Thanh Hoá
Mùa Số lợn điều tra (con) Số lợn mắc (con) Số lợn chết (con) Tỷ lệ mắc (%) Tỷ lệ chết (%) Tỷ lệ tử vong (%)
Xuân 4.508 769 439 17,10
bde
9,74
bde
57,09
bde
Hạ 3.811 283 114 7,43
a
2,99
a
40,28
a
Thu 3.707 385 161 10,40
bc
4,34
bc
41,82
ac
Đông 4.417 957 564 21,70
bdf
12,77
bdf
58,93
bde
Tổng 16.443 2.394 1.278
P <0,001 <0,001 <0,05
Ghi chú: Các chữ cái a,b,c,d,e,f biểu hiện sai khác có ý nghĩa giữa các giá trị so sánh trong cùng cột.
Bảng 4. Tình hình lợn mắc dịch tiêu chảy cấp theo quy mô đàn tại Thanh Hoá
Quy mô trại
Số lợn theo dõi
(con)
Số lợn bị bệnh
(con)
Số lợn bị chết
(con)
Tỷ lệ mắc bệnh
Tỷ lệ chết
(%)
Tỷ lệ tử vong
(%)
Gia trại 2.875 349 231 12,14
a
8,03
a
66,19
b
Trại nhỏ 5.597 786 408 14,04
bc
7,29
a
51,91
a
Trại lớn 7.971 1.259 639 15,79
bd
8,02
a
50,75
a
Tổng 16.443 2.394 1.278
P <0,05 <0,05 <0,05
Ghi chú: Các chữ cái a,b biểu hiện sai khác có ý nghĩa giữa các giá trị so sánh trong cùng cột.
Tình hình dịch tiêu chảy cấp (Porcine Epidemic Diarrhea - PED) và xác định kháng thể PED sau khi sử dụng
phương pháp “Gut Feedback” ở đàn lợn tại tỉnh Thanh Hoá
604
3.1.4. Tình hình lợn mắc dịch tiêu chảy cấp
theo quy mô đàn tại Thanh Hoá
Kết quả theo dõi trên quy mô các đàn được
thể hiện ở bảng 4 cho thấy lợn nuôi ở quy mô
trại lớn có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất (15,79%) và
chăn nuôi gia trại có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất
(12,14%), tuy nhiên ở tỷ lệ tử vong thì ngược lại,
ở các gia trại lại có tỷ lệ tử vong cao hơn ở các
trang trại (P <0,05). Quy mô trại càng lớn, mật
độ lợn cao thì khả năng mắc bệnh càng cao do
nguy cơ lây bệnh từ những lợn mang trùng
trong đàn. Khi nuôi với quy mô lớn, việc luân
chuyển đàn và công nhân ra vào trại thường
xuyên diễn ra và đây cũng là yếu tố nguy cơ
quan trọng làm tăng khả năng tiếp xúc với mầm
bệnh từ bên ngoài. Mặt khác, virus gây bệnh
PED có thể tồn tại được trong phân lợn nên quá
trình tích tụ mầm bệnh cũng xảy ra làm cho
nồng độ virus tăng lên và gây bệnh cho đàn
(Song & cs., 2005). Theo Huỳnh Minh Trí & cs.
(2017) khi các trại nhập con giống từ bên ngoài
vào thì nguy cơ mắc bệnh cao hơn 2,35 lần so với
trại tự túc con giống. Cũng theo Huỳnh Minh
Trí & cs. (2017) khi nghiên cứu tỷ lệ nhiễm
PEDV tại các trại lợn nái tại tỉnh An Giang thì
tỷ lệ mẫu dương tính với PEDV ở quy mô trại
lớn (trên 50 nái) là cao nhất và ở các trại nhỏ
(dưới 20 nái) là thấp nhất.
Về tỷ lệ tử vong, các gia trại có tỷ lệ tử vong
cao hơn các trang trại (P <0,05), nguyên nhân là
do ở trang trại có lực lượng cán bộ kỹ thuật tốt
đã có các biện pháp can thiệp kịp thời nên đã
làm giảm tỷ lệ tử vong, ngược lại thì ở các gia
trại hầu hết là chăn nuôi theo kinh nghiệm nên
việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật (tiêm phúc
mạc, truyền dịch...) gặp khó khăn và đây cũng
là nguyên nhân quan trọng làm cho tỷ lệ tử
vong tăng cao (66,19%).
3.2. Lượng kháng thể sau khi sử dụng
phương pháp “Gut feedback”
3.2.1. Kết quả theo dõi biểu hiện lâm sàng
của lợn nái sau khi sử dụng phương pháp
“Gut feedback”
Khi sử dụng phương pháp “gut feedback”
cho 60 lợn nái mang thai ở tuần thứ 13, thời
gian lợn nái có biểu hiện bệnh (tiêu chảy) chủ
yếu là ngày thứ 3 và thứ 4, cá biệt có những lợn
đến ngày thứ 5 thứ 6 mới phát bệnh. Thời gian
lợn nái có biểu hiện lâm sàng trung bình là 3,42
ngày. Đây là khoảng thời gian nung bệnh để
virus tăng lên về số lượng bằng cả hai phương
thức là nhân lên trong tế bào vật chủ và bội
nhiễm ở những liều sử dụng phương pháp “gut
feedback” tiếp theo. Theo Albert (2013), thời
gian nung bệnh PED 1 đến 2 ngày, Thai Swine
Veternary Association, (2015) virus xuất hiện
cao nhất sau nhiễm 4 đến 5 ngày.
3.2.2. Kết quả định lượng kháng thể trên
lợn nái
Tiến hành lấy máu của lợn nái sau khi sử
dụng phương pháp “gut feedback” vào ngày thứ
14 và ngày thứ 21 để xác định kháng thế. Kết
quả được thể hiện tại hình 1.
Bảng 5. Thời gian sử dụng “gut feedback” trên lợn nái mang thai tuần thứ 13
Số lợn theo dõi
(con)
Thời gian có biểu hiện tiêu chảy
(ngày)
Số lợn có biểu hiện tiêu chảy
(con)
Tổng số thời gian
(ngày)
60 1 0 0
2 7 14
3 27 81
4 21 84
5 4 20
6 1 6
7 0 0
Trung bình thời gian lợn có biểu hiện tiêu chảy (ngày) 3,42 ± 0,85
Hoàng Văn Sơn, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Thị Lan
605
Bảng 6. Tỷ lệ phát hiện kháng thể kháng PEDV trong huyết thanh lợn nái
Thời điểm
lấy huyết thanh
Số lợn thí nghiệm
(con)
Số lợn có kháng thể đạt ngưỡng bảo hộ(OD ≥0,21)
(con)
Tỷ lệ bảo hộ
(%)
Ngày thứ 14 60 47 78,33
Ngày thứ 21 60 48 80
Hình 1. Lượng kháng thể ở lợn nái sau khi sử dụng phương pháp “Gut feedback”
Kết quả tại hình 1 cho thấy, 100% số mẫu
xuất hiện kháng thể. Tuy nhiên, ở ngày thứ 14
số mẫu huyết thanh có chỉ số OD ≥ Cut off (Cut
off = 0,21) là 78,33%, còn lại 21,67% số mẫu có
chỉ số OD từ 0,08 đến 0,20. Ở ngày thứ 21, số
mẫu huyết thanh có chỉ số OD ≥ Cut off là 80%
và 20,00% số mẫu còn lại có chỉ số OD từ 0,04
đến 0,20. Song & cs. (2007) cho biết lợn nái chửa
ở tuần thứ 12 sau khi uống virus PED 2 tuần
thì có chỉ số OD trung bình là 0,515. Theo
Chang & cs. (1999) Lợn nái mang thai ở tuần
thứ 11-12 khi sử dụng virus PED gây nhiễm thì
kết quả phản ứng miễn dịch ELISA tăng lên.
4. KẾT LUẬN
Lợn nuôi tại Thanh Hoá có tỷ lệ mắc bệnh,
chết và tử vong do PED là 14,56%, 7,77% và
53,38%. Các huyện vùng ven biển và vùng núi
có tỷ lệ lợn mắc bệnh và tử vong do PED cao
nhất (Tĩnh Gia 16,12% và 56,57%; Thạch Thành
15,06% và 56,43%). Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong
cao nhất ở nhóm lợn con theo mẹ (22,01% và
72,63%) và thấp nhất ở nhóm lợn đực giống
(5,81% và 0%). Lợn mắc bệnh và tử vong nhiều
nhất ở mùa đông (21,70% và 58,93%), thấp nhất
ở mùa hè (7,43% và 40,28%). Các trại lớn có tỷ
lệ mắc bệnh cao nhất (15,79%) nhưng tỷ lệ tử
vong lại thấp nhất (50,75%).
Tất cả 100% mẫu huyết thanh của đàn lợn
nái sau 14 và 21 ngày sử dụng phương pháp
“gut feedback” có xuất hiện kháng thể PED (OD
từ 0,04 đến 1,11). Tuy nhiên, chỉ có 80,00% mẫu
(có OD ≥0,21) là dương tính.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Albert Rovira (2013). Diagnosing Porcine Epidemic
Diarrhea (PED) Virus. University of Minnesota
Veterinary Diagnostic Laboratory. St. Paul, MN.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2015). Tiêu chuẩn TCVN
8400-38-2015-Bệnh động vật. Quy trình chẩn
đoán, phần 38: Bệnh tiêu chảy ở lợn do
Coronavirus.
Chang H.K., Byung J.K., Jae G.L., Geon O.K. & Yung
B.K. (1999). Derivation of attenuated porcine
epidemic diarrhea virus (PEDV) as vaccine
candidat. Vaccine. 17(20): 2546-2553.
Do Tien Duy, Nguyen Tat Toan, Suphasawatt P. &
Roongroje T. (2011). Genetic Characterization of
Porcine Epidemic Diarrhea Virus (PEDV) Isolates
from Southern Vietnam during 2009-2010
outbreaks. The Thai Journal of Veterinary
Medicine. 41(1): 55-64.
Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Trương
Quang, Phùng Quốc Chương, Chu Đức Thắng &
Phạm Ngọc Thạch (1997). Tình hình nhiễm
Salmonela và vai trò của Salmonela trong bệnh
viêm ruột tiêu chảy ở lợn. Tạp chí Khoa học Kỹ
thuật Thú y. tr. 1-2.
Tình hình dịch tiêu chảy cấp (Porcine Epidemic Diarrhea - PED) và xác định kháng thể PED sau khi sử dụng
phương pháp “Gut Feedback” ở đàn lợn tại tỉnh Thanh Hoá
606
Hoàng Văn Tuấn, Lê Văn Tạo & Trần Thị Hạnh
(1998). Kết quả điều tra tình hình tiêu chảy ở lợn
trong một số trang trại lợn giống hướng nạc. Tạp
chí Khoa học Kỹ thuật Thú y. 5(4): 61-64.
Huang Y.W., Dickerman A.W., Piñeyro P., Li L., Fang
L., Kiehne R., Opriessnig T. & Meng X.J. (2013).
Origin, evolution, and genotyping of emergent
porcine epidemic diarrhea virus strains in the
United States. MBio 4. e00737-00713.
Huỳnh Minh Trí, Nguyễn Đức Hiền, Nguyễn Thị Hồng
Hạnh & Nguyễn Ngọc Hải (2017). Tình hình bệnh
tiêu chảy cấp trên heo (PED) và xác định các yếu
tố nguy cơ liên quan đến bệnh PED ở thành phố
Cần Thơ.Kỷ yếu Hội nghị khoa học toàn quốc
Chăn nuôi - Thú y. Nhà xuất bản Nông nghiệp
thành phố Hồ Chí Minh. tr. 392-398.
Huỳnh Minh Trí, Nguyễn Ngọc Hải & Nguyễn Hoàng
Việt (2017). Khảo sát tỷ lệ nhiễm virus gây bệnh
tiêu chảy cấp (Porcine epidemic diarrhea virus-
PEDV) trên heo nái và xác định các yếu tố nguy cơ
liên quan đến bệnh PED tại Tiền Giang. Tạp chí
Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ. 52(B): 1-7.
Nguyễn Tất Toàn, Nguyễn Đình Quát, Trịnh Thị Thanh
Huyền, Đỗ Tiến Duy, Trần Thị Dân, Nguyễn Thị
Phước Ninh & Nguyễn Thị Thu Năm (2012). Phát
hiện virus gây bệnh tiêu chảy cấp (PEDV) trên heo
ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Tạp chí Khoa học
Kỹ thuật Thú y: 19(5): 26-30.
Nguyễn Thị Sen (2013). Nghiên cứu một số đặc điểm
bệnh lý của lợn mắc tiêu chảy do virus (Porcine
Epidemic Diarrhea - PED) trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh. Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp. tr. 57-64.
Nguyễn Trung Tiến, Vũ Thị Thu Hằng, Huỳnh Thị Mỹ
Lệ, Nguyễn Bá Hiên & Lê Văn Phan (2015). Một
số đặc điểm sinh học phân tử của virus gây ra dịch
tiêu chảy cấp ở lợn (Porcine epidemic diarrhea-
PED) tại Quảng Trị, Thái Nguyên và Thái Bình từ
năm 2013-2014. Tạp chí Khoa học và Phát triển.
13(7): 1089-1100.
Nguyễn Văn Điệp, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Hoa
& Yamaguchi (2014). Một số đặc điểm dịch tễ và
bệnh lý của bệnh tiêu chảy thành dịch trên lợn ở
một số tỉnh phía bắc Việt Nam. Tạp chí Khoa học
Kỹ thuật Thú y. 21(2): 43-55.
Pensaert Maurice B. & Sang-Geon Yeo (2009). Porcine
Epidemic Diarrhea. In Diseases of Swine, by
Barbara E. Straw, Jeffery J. Zimmermann, Sylvie
D'Allaire and David J. Taylor. pp. 367-372.
Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp & Trần Thị Lộc
(1998). Stress trong đời sống con người và vật
nuôi. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
Pospischil A., Stuedli A. & Kiupel M. (2002). Update
on porcine epidemic diarrhea. J Swine Health
Prod. 10(2): 81-85.
Puranaveja S., PoolpermP., Lertwatcharasarakul P.,
Kesdaengsakonwut S., Boonsoongnern A.,
Urairong K., Kitikoon P., Choojai P., Kedkovid R.
& Teankum K. (2009). Chinese-like strain of
porcine epidemic diarrhea virus, Thailand.
Emerging infectious diseases. 15: 1112.
Song D.S., Oh J.S., Kang B.K., Yang J.S., Moon H.J.,
Yoo H.S., Jang Y.S. & Park B.K. (2007). Oral
efficacy of Vero cell attenuated porcine epidemic
diarrhea virus DR13 strain. Res Vet Sci.
82(1): 134-140.
Song D. & Park B. (2012). Porcine epidemic diarrhoea
virus: a comprehensive review of molecular
epidemiology, diagnosis, and vaccines. Virus
Genes. 44: 167-175.
Song D.S., Oh J.S., Kang B.K., Yang J.S., Song J.Y.,
Moon. H.J., Kim Y.T, Yoo H.S, Jang S.Y & Park
B.K. (2005). Fecal shedding of a highly cell-
culture-adapted porcine epidemic diarrhea virus
after oral inoculation in pigs. J Swine Health Prod.
13(5): 269-272.
Stevenson G.W., Hoang H., Schwartz K.J., Burrough
E.R., Sun D., Madson D., Cooper V.L., Pillatzki
A., GaugerP. & Schmitt B.J. (2013). Emergence of
Porcine epidemic diarrhea virus in the United
States: clinical signs, lesions, and viral genomic
sequences. Journal of Veterinary Diagnostic
Investigation. 25: 649-654.
Thai Swine Veternary Association (2015). Clinical
Practice Guideline (CPG) for PED in Thailand: 1st
Edition. 27.
Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLB-BNN-TCTK ngày
23 tháng 06 năm 2000. Hướng dẫn tiêu chí để xác
định kinh tế trang trại.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tinh_hinh_dich_tieu_chay_cap_porcine_epidemic_diarrhea_ped_v.pdf