Tình hình nhiễm giun đũa ở lợn tại Thanh Chương

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 4.1. Kết luận Bằng phương pháp kiểm tra phân lợn tại ba xã thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ An, cho thấy 21,35% lợn bị nhiễm giun đũa Ascaris suum. Trong đó, xã Đồng Văn nhiễm cao nhất (27,49%), xã Thanh Liên nhiễm thấp nhất (12,54%). Tỷ lệ nhiễm giun đũa ở lợn cao nhất ở lứa tuổi >2-6 tháng (22,34% ) và thấp nhất ở lứa tuổi >6 tháng tuổi (13,51%). Bên cạnh đó, những hộ có tình trạng vệ sinh chuồng trại kém, tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa cao nhất với 38,35%, thấp nhất là những hộ có vệ sinh tốt với 6,49%, ở phương thức nuôi gia đình và bán công nghiệp, tỷ lệ lợn bị nhiễm giun đũa gần tương đương nhau. Cả 3 loại thuốc Levamisol 7,5mg/kgTT tiêm bắp thịt; Fenbendazol 4mg/kgTT trộn thức ăn; Invermectin 0,3mg/kgTT tiêm bắp thịt đều có thể tẩy sạch giun ở lợn 100%. Thuốc an toàn và không gây phản ứng phụ trong điều trị. 4.2. Đề nghị Áp dụng rộng rãi quy trình phòng chống giun tròn Ascaris suum cho lợn ở huyện Thanh Chương, Nghệ An và các huyện khác, nhằm giảm thiệt hại về kinh tế do bệnh gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển bền vững. Người chăn nuôi lợn nên sử dụng các thuốc sau để phòng trị giun đũa cho lợn định kỳ: Levamisol 7,5mg/kgTT tiêm bắp thịt; Fenbendazol 4mg/kgTT trộn thức ăn; Invermectin 0,3mg/kgTT tiêm bắp thịt./.

pdf4 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tình hình nhiễm giun đũa ở lợn tại Thanh Chương, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 6/2018 [38] NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI I. ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi lợn ở nước ta đang ngày một phát triển để đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong và ngoài nước, nhằm mang lại lợi nhuận cho kinh tế quốc gia, cho người chăn nuôi. Tuy nhiên, hiện nay, chăn nuôi lợn vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn như vệ sinh chăm sóc, công tác thú y chưa hoàn thiện, đặc biệt vấn đề bệnh tật vẫn là điều đáng lo ngại nhất. Trong các bệnh xảy ra ở lợn, bệnh do ký sinh trùng xảy ra nhiều do khí hậu Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng là khí hậu nhiệt đới nóng ẩm tạo nên khu hệ ký sinh trùng phong phú, đa dạng Bệnh giun đũa lợn đang là một bệnh do ký sinh trùng gây ra khá phổ biến, gây thiệt hại đáng kể cho kinh tế chăn nuôi. Tỷ lệ mắc bệnh của đàn có thể lên tới 80-90% (Bùi Quý Huy, 2006), giảm năng suất thịt đến 30% (Phan Địch Lân và cs, 2005, Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài, 2006). Bên cạnh đó, trong mấy năm trở lại đây, người nhiễm ấu trùng giun đũa lợn khá phổ biến, gây nên hội chứng Loeffler và các phản ứng tăng dị ứng của cơ thể với các triệu chứng đặc trưng: thở khò khè, ho, sốt, tăng K hảo sát tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn được thực hiện tại các địa bàn nghiêncứu theo các chỉ tiêu lứa tuổi, vùng cảm nhiễm, phương thức chăn nuôi, tình trạng vệsinh chuồng trại. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp kiểm tra phân của lợn nuôi tại 3 xã thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ An. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm cao nhất ở xã Đồng Văn với 27,49%; thấp nhất là xã Thanh Liên chiếm 12,54%; xã Thanh Lâm với tỷ lệ nhiễm 19,12%. Đồng thời, ở lợn lứa tuổi từ >2-6 tháng là 22,34%, lứa tuổi từ 1-2 tháng tuổi là 20,75% và thấp nhất ở lứa tuổi >6 với 13,51%. Tỷ lệ lợn nhiễm cao nhất ở những hộ có tình trạng vệ sinh chuồng trại kém 38,35%, kế đến là những hộ có tình trạng vệ sinh trung bình (12,63%), cuối cùng là những hộ có vệ sinh tốt (6,49%). Riêng phương thức nuôi gia đình và bán công nghiệp, tỷ lệ lợn bị nhiễm giun đũa gần tương đương nhau. Cả ba loại thuốc levamizol, fen- bendazol, ivermectin có hiệu quả tẩy giun tròn cho lợn cao và an toàn (100%). n Nguyễn Đình Tường, Nguyễn Thị Thu Hiền Khoa Nông Lâm - Đại học Kinh tế Nghệ An bạch cầu ưa eosin trong máu (Trương Thị Thu Trang, 2010). Tuy nhiên, tính tới thời điểm hiện nay có rất ít các nghiên cứu về tình hình nhiễm giun đũa ở lợn trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Xuất phát từ tình hình cấp thiết của việc phòng chống, điều trị bệnh ký sinh trùng để đảm bảo sức khỏe cho đàn lợn, nâng cao năng suất chăn nuôi lợn ở tỉnh Nghệ An, đồng thời bảo vệ sức khỏe cho người dân, chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát tình hình nhiễm giun đũa ở lợn (Ascaris suum) tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An trong năm 2017 và biện pháp phòng trừ”. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu Gồm các giôńg lơṇ được điều tra ở các lứa tuổi: 1- 2 tháng tuổi, >2-6 tháng tuổi, >6 tháng tuổi. Nghiên cứu được thực hiện tại 3 xã: Thanh Liên, Thanh Lâm, Đồng Văn của huyện Thanh Chương, Nghệ An. 2.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp kiểm tra phân của Wills để tìm trứng giun đũa Ascaris suum, kiểm tra dưới kính hiển vi. Mỗi xã lấy ngẫu nhiên các mẫu phân tươi của lợn ở 30 hộ nuôi/xã, không phân biệt lứa tuổi hay giới tính, vì mục đích của nghiên cứu này là đánh giá tình hình nhiễm chung. Xác định liều lượng, hiệu lực và tính an toàn của TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN ĐŨA Ở LỢN TẠI THANH CHƯƠNG Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 6/2018 [39] NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI các loại thuốc tẩy trừ giun đũa: levamizol, fenbenda- zol, ivermectin. Việc định danh phân loại được thực hiện theo khóa định danh của Nguyễn Thị Lê (1977). III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Kết quả nhiễm giun đũa lợn theo địa điểm nghiên cứu Tiến hành chọn 3 địa điểm khác nhau thuộc huyện Thanh Chương: xã Đồng Văn, Thanh Lâm và Thanh Liên. Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành xét nghiệm phân trên 1.007 con lợn ở các vùng đã chọn bằng phương pháp phù nổi Willis và ghi nhận kết quả về tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn như sau: Bảng 1. Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo vùng nghiên cứu Theo kết quả điều tra, tỷ lệ nhiễm giun đũa trung bình tại 3 xã là 21,35%, trong đó, xã Đồng Văn có tỷ lệ nhiễm cao nhất với 27,49% (141/513 con bị nhiễm); xã có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là Thanh Liên với 12,54% (39/311 con bị nhiễm); xã Thanh Lâm với tỷ lệ nhiễm 19,12%. Kết quả này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu đã được công bố của Bùi Lập, Nguyễn Đăng Khảo, Vũ Sỹ Nhàn (1988) khi cho biết lợn miền Trung nhiễm giun đũa 36-58%. Kết quả trên có được do ảnh hưởng của địa lý. Xã Đồng Văn có tỷ lệ nhiễm cao hơn so với các xã Thanh Liên, Thanh Lâm vì đây là xã thuộc vùng đồng bằng của huyện, gần chợ và thị trấn, có nhiều vùng trũng, có sông và nhiều cây thức ăn thủy sinh (rau muống, các loại rau sống). Đối với Thanh Lâm và Thanh Liên là những xã thuộc vùng bán sơn địa với địa hình chủ yếu là đồi núi, việc trao đổi, tiêu thụ sản phẩm thịt với các xã bên ngoài ít hơn nên tỷ lệ chăn nuôi lợn trên địa bàn thấp hơn so với Đồng Văn. Đặc biệt là những xã thuộc vùng bán sơn địa nên thức ăn chính dành cho lợn là thức ăn công nghiệp và các sản phẩm phụ kèm theo là bắp, ngô, sắn và có rất ít rau xanh vì không có nhiều nước như vùng đồng bằng. 3.2. Tình hình nhiễm giun đũa theo tháng tuổi Theo các tài liệu nghiên cứu, ở mỗi độ tuổi từ 2-6 tháng tuổi của lợn có tỷ lệ nhiễm giun đũa khác nhau. Đây là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phòng và trị bệnh giun đũa cho lợn. Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tình hình nhiễm giun đũa lợn trên địa bàn huyện Thanh Chương theo các nhóm tuổi: 1-2 tháng tuổi; 3-6 tháng tuổi; >6 tháng tuổi, kết quả nghiên cứu được thể hiện ở bảng sau: Bảng 2. Tình hình nhiêm̃ giun đũa theo độ tuôỉ Qua khảo sát tình hình nhiễm giữa 3 lứa tuổi của lợn, nhận thấy rằng tỷ lệ nhiễm giun đũa ở lợn chiếm nhiều nhất ở lứa tuổi từ >2-6 tháng (22,34% ), tiếp theo là lứa tuổi từ 1-2 tháng tuổi (20,75%); và thấp nhất ở lứa tuổi >6 tháng tuổi (13,51%). Kết quả nghiên cứu trên hoàn toàn phù hợp với số liệu dịch tễ đã được công bố của Trịnh Văn Thịnh, Phạm Văn Khuê, 1982 cho biết: lợn dưới 3 tháng tuổi nhiễm 39,2%, lợn 3-4 tháng tuổi nhiễm 48,0%, lợn 5-7 tháng tuổi nhiễm 58,3%, lợn trên 7 tháng tuổi nhiễm 24,9%. Theo phân tích thống kê cho thấy sự sai khác có ý nghĩa giữa các lứa tuổi của lợn. Lợn từ >2-6 tháng có tỷ lệ nhiễm cao nhất là những con có hệ tiêu hóa hoàn chỉnh, có khả năng tiêu hóa được các thức ăn tận dụng có tỷ lệ xơ cao như: rau muống, rau khoai Lợn từ 1-2 tháng là những con vừa chuyển sang giai đoạn tập ăn, thường sẽ được ăn thức ăn phối trộn với khẩu phần ăn có hàm lượng tỷ lệ protein cao hơn xơ. Đối với lợn >6 tháng tuổi, có tỷ lệ nhiễm giun thấp nhất (13,51%) do lợn ở giai đoạn này chủ yếu là lợn nái sinh sản và lợn đực giống. Vùng Số lợn nghiên cứu (con) Số con nhiễm (+) Tỷ lệ nhiễm (%) Thanh Lâm 183 35 19,12 Thanh Liên 311 39 12,54 Đôǹg Văn 513 141 27,49 Tổng 1007 215 21,35 Tháng tuổi Số con nghiên cứu (con) Số con nhiễm (+) Tỷ lệ nhiễm (%) 1-2 424 88 20,75 >2-6 542 122 22,34 >6 37 5 13,51 Tổng 1.007 215 21,35 Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 6/2018 [40] NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI Ở độ tuổi này, phần lớn trứng giun đũa lợn tự động thải ra ngoài do chúng không thể sống quá 7-10 tháng trong cơ thể lợn, lợn có hệ tiêu hóa hoạt động tốt nhất. 3.3. Tình hình nhiễm giun theo tình trạng vệ sinh chuồng trại Bệnh giun đũa là bệnh lây truyền trực tiếp thông qua thức ăn, nước uống, các chất thải có trên nền chuồng. Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu đã tiến hành xét nghiệm 1007 mẫu phân của các hộ chăn nuôi trên địa bàn với các mức độ vệ sinh khác nhau: tốt, trung bình, kém. Kết quả thu thập được như sau: Bảng 3. Kết quả nhiễm giun theo tình trạng vệ sinh Kết quả bảng 3 cho thấy, ở những hộ chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, bẩn, lợn nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao nhất (38,35%), kế đến là những hộ có tình trạng vệ sinh trung bình (12, 63%) và cuối cùng là những hộ có vệ sinh tốt (6,49%). Trần Tố và cs (2002) cũng có chung quan điểm đó, theo họ, chu kỳ phát triển của giun đũa lợn là chu kỳ phát triển trực tiếp qua đất, nên việc vệ sinh chuồng trại, thức ăn nước uống là biện pháp quan trọng trong phòng bệnh. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và Cs (2006, 2009), lợn nuôi trong điều kiện vệ sinh thú y kém thường nhiễm giun sán đường tiêu hóa, trong đó có giun đũa lợn với tỷ lệ cao và cường độ nặng hơn nhiều so với lợn nuôi trong điều kiện vệ sinh thú y tốt. 3.4. Tình hình nhiễm giun theo phương thức chăn nuôi Tiến hành lấy mẫu và xét nghiệm 1.007 mẫu phân ở lợn nuôi trên địa bàn nghiên cứu với 2 phương thức: chăn nuôi hộ gia đình, chăn nuôi bán công nghiệp, kết quả được thể hiện như sau: Bảng 4. Tình hình nhiễm bệnh theo phương thức chăn nuôi Căn cứ vào kết quả bảng 4 thấy rằng, với hình thức nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi gia đình, tỷ lệ lợn bị nhiễm giun đũa cơ bản không chênh lệch nhau nhiều (20,21-22,36%). Qua điều tra thực tế chúng tôi thấy, trong phương thức chăn nuôi gia đình và bán công nghiệp, về nguồn thức ăn cho lợn ăn cơ bản gần giống nhau, chỉ khác về quy mô con và sự đầu tư về chuồng trại. Do đó, tỷ lệ mắc bệnh gần tương đương nhau là hợp lý. 3.5. Xác định hiệu lực của thuốc tẩy giun đũa lợn Tiến hành dùng ba loại thuốc thường dùng trên thị trường để tẩy giun đũa cho lợn gồm: thuốc levamizol, fenbendazol và ivermectin. Kết quả được thể hiện như sau: Tình trạng vệ sinh Số con nghiên cứu (con) Số con nhiễm (+) Tỷ lệ nhiễm (%) Tốt 154 10 6,49 Trung bình 475 60 12,63 Kém 378 145 38,35 Tổng 1007 215 21,35 Phương thức chăn nuôi Số con nghiên cứu (con) Số con nhiễm (+) Tỷ lệ nhiễm (+) Gia đình 475 96 20,21 Bán công nghiệp 532 119 22,36 Tổng 1.007 215 21,35 Tên thuốc, liều lượng, cách dùng Số lợnđiều trị Hiệu lực tẩy sau 15 ngày Độ an toàn của thuốc Số lợn sạch trứng (con) Hiệu lực tẩy (%) Số lợn (con) Tỷ lệ (%) Levamisol 7,5mg/kgTT tiêm bắp thịt 15 14 93,33 15 100 Fenbendazol 4mg/kgTT trộn thức ăn 31 30 96,77 31 100 Invermectin 0,3mg/kgTT tiêm bắp thịt 28 28 100 28 100 Bảng 5. Hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun đũa cho lợn Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 6/2018 [41] NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI Kết quả bảng trên cho thấy: Thuốc levamizol điều trị cho 15 lợn nhiễm giun đũa, sau 15 ngày dừng thuốc, kiểm tra lại phân cả 15 lợn sạch trứng, hiệu lực tẩy trung bình của thuốc là 100%. Thuốc fenbendazol điều trị cho 31 lợn nhiễm giun, sau 15 ngày dừng thuốc, kiểm tra lại phân có 30 lợn sạch trứng, hiệu lực tẩy trung bình của thuốc là 96,77%. Thuốc ivermectin điều trị cho 28 lợn nhiễm giun, sau 15 ngày dừng thuốc, kiểm tra lại phân có 27 lợn sạch trứng, hiệu lực tẩy trung bình của thuốc là 96,43%. Cả 74 con lợn được tẩy giun bằng 3 loại thuốc levamizol, fenbendazol và ivermectin với liều lượng và cách sử dụng như trong bảng đều ăn uống, đi lại bình thường, không có phản ứng nôn mửa, run rẩy, co giật hay phản ứng phụ khác. Vì vậy, chúng tôi nhận xét rằng: cả 3 loại thuốc đã sử dụng đều an toàn đối với lợn. IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 4.1. Kết luận Bằng phương pháp kiểm tra phân lợn tại ba xã thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ An, cho thấy 21,35% lợn bị nhiễm giun đũa Ascaris suum. Trong đó, xã Đồng Văn nhiễm cao nhất (27,49%), xã Thanh Liên nhiễm thấp nhất (12,54%). Tỷ lệ nhiễm giun đũa ở lợn cao nhất ở lứa tuổi >2-6 tháng (22,34% ) và thấp nhất ở lứa tuổi >6 tháng tuổi (13,51%). Bên cạnh đó, những hộ có tình trạng vệ sinh chuồng trại kém, tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa cao nhất với 38,35%, thấp nhất là những hộ có vệ sinh tốt với 6,49%, ở phương thức nuôi gia đình và bán công nghiệp, tỷ lệ lợn bị nhiễm giun đũa gần tương đương nhau. Cả 3 loại thuốc Levamisol 7,5mg/kgTT tiêm bắp thịt; Fenbendazol 4mg/kgTT trộn thức ăn; Invermectin 0,3mg/kgTT tiêm bắp thịt đều có thể tẩy sạch giun ở lợn 100%. Thuốc an toàn và không gây phản ứng phụ trong điều trị. 4.2. Đề nghị Áp dụng rộng rãi quy trình phòng chống giun tròn Ascaris suum cho lợn ở huyện Thanh Chương, Nghệ An và các huyện khác, nhằm giảm thiệt hại về kinh tế do bệnh gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển bền vững. Người chăn nuôi lợn nên sử dụng các thuốc sau để phòng trị giun đũa cho lợn định kỳ: Levamisol 7,5mg/kgTT tiêm bắp thịt; Fenbendazol 4mg/kgTT trộn thức ăn; Inver- mectin 0,3mg/kgTT tiêm bắp thịt./. Tài liệu tham khảo: 1. Phạm Văn Khuê, Trịnh Văn Thịnh (1982), Giun sán ký sinh ở lợn vùng Đồng bằng sông Hồng, Thông tin Khoa học và kỹ thuật nông nghiệp, tháng 11/1982. 2. Nguyễn Thị Kim Lan (2000), Giáo trình Ký sinh trùng Thú y, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.90- 94. 3. Bùi Lập, Nguyễn Đăng Khải, Vũ Sỹ Nhàn (1988), Kết quả khảo sát giun sán lợn ở các tỉnh miền Trung, Tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, số 5, tr.222-226. 4. Nguyễn Thị Lê (1998), Ký sinh trùng học đại cương, NXB Khoa học và Kỹ thuật nông nghiệp, Hà Nội, tr.61. 5. Sengupta M. E., Thamsborg S. M., Andersen T. J., Olsen A., Dalsgaard A. (2011), Sedimentation of helminth eggs in water, Water Res., pp. 4651-4660. Skrjabin K. I., Petrov A. M., Nguyên lý môn giun tròn thú y (Bùi Lập, Đoàn Thị Băng Tâm và Tạ Thị Vịnh dịch) (1963), (tập 1), Nxb Khoa học Kỹ thuật, tr.102-104. 6. Trần Tố, Đỗ Quyết Thắng (2002), Giáo trình động vật học, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.87-88. 7. Trương Thị Thu Trang, (2010), Nghiên cứu bệnh giun đũa lợn (ascariosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị, Luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp. 8. Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Lê (1977), Giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr.620-622. Vòng đời phát triên̉ của giun đũa lơṇ Ascaris suum

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftinh_hinh_nhiem_giun_dua_o_lon_tai_thanh_chuong.pdf
Tài liệu liên quan