Tỷ lệ nhiễm các loài giun sán ở cò trắng
Bảng 4 cho thấy: cò trắng nhiễm 5 loài sán lá là
Hypoderaeum conoideum, Echinostoma revolutum,
Echinoparyphium recurvatum, Echinostoma
eagyptiaca và Cotylurus cormutus và 1 loài thuộc
lớp giun tròn là Ganguleterakis dispar. Các loài sán
lá đều được tìm thấy ở ruột, còn loài giun tròn ký sinh
ở dạ dày. Trong 5 loài sán lá ký sinh ở cò trắng, loài
Hypoderaeum conoideum có tỷ lệ nhiễm cao nhất
(22,61%), tiếp đến là loài Echinostoma revolutum
(18,26%), loài Echinoparyphium recurvatum
(14,28%). Hai loài Echinostoma aegyptiaca và
Cotylurus cormutus với tỷ lệ nhiễm thấp, lần lượt là
là 12,17% và 10,43%. Loài giun tròn Ganguleterakis
dispar có tỷ lệ nhiễm là 9,57 %. Về cường độ nhiễm,
cò trắng bị nhiễm sán lá ký sinh với cường độ nhiễm
từ 7-30 con / cá thể. Vật chủ nhiễm với cường độ
nhiễm cao các loài sán lá ký sinh sẽ làm tổn thương
niêm mạc ruột do sán có giác bám và nhiều móc bám.
Cụ thể loài Echinostoma revolutum có 37 móc xếp
thành 2 hàng, Hypoderaeum conoideum có 45 móc,
Echinostoma aegyptiaca với 43 móc. Chính những
móc bám này sẽ làm tổn thương các nhung mao ruột,
ảnh hưởng đến sự hấp thu dưỡng chất. Bên cạnh đó,
sán lá còn chiếm đoạt dưỡng chất, bài tiết độc tố, làm
ảnh hưởng rất lớn đến sức sống của loài cò trắng. Cò
trắng thuộc loài động vật hoang dã nên chúng dễ dàng
phát tán mầm bệnh ra môi trường bên ngoài, nơi mà
các loài vật chủ trung gian và vật chủ chứa rất phong
phú, do đó mầm bệnh có điều kiện tiếp xúc với vật
chủ trung gian để khép kín vòng đời. Phạm Sỹ Lăng
và Nguyễn Hữu Hưng (2015) cho rằng ký chủ nếu
nhiễm sán lá với tỷ lệ và cường độ cao sẽ gây yếu toàn
thân, tiêu chảy kiệt sức nhanh, ngừng sinh trưởng và
phát triển giác bám và gai cutin trên thân sán lá kích
thích niêm mạc ruột, gây viêm chảy máu, viêm cata
ở từng vùng, con vật suy kiệt và chết. Nguyễn Hữu
Hưng (2007), nghiên cứu về tình hình nhiễm giun sán
ký sinh trên vịt tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long,
so sánh với kết quả các loài sán lá ký sinh được tìm
thấy ở cò tại tỉnh Vĩnh Long cho thấy các loài sán lá
được tìm thấy ở cò, cũng được tìm thấy ở thủy cầm.
Sán lá ký sinh trên cò trắng có các loài Echinostoma
revolutum và Echinoparyphium recurvatum là những
loài cũng ký sinh trên nhiều vật chủ như chó, mèo,
heo, các loài chim hoang dã khác và cả con người
(Soulsby, 1982; Kaufmann,1999; Phạm Sỹ Lăng và
Nguyễn Hữu Hưng, 2015).
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở loài cò trắng (agretta gazretta) tại tỉnh Vĩnh Long, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
58
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 4 - 2019
TÌNH HÌNH NHIEÃM GIUN SAÙN KYÙ SINH ÔÛ LOAØI COØ TRAÉNG
(AGRETTA GAZRETTA) TAÏI TÆNH VÓNH LONG
Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn Trương Hồng Thắm, Nguyễn Hồ Bảo Trân
Đại học Cần Thơ
TÓM TẮT
Tình hình nhiễm giun sán ký sinh trên loài cò trắng (Agretta gazretta) tại địa bàn tỉnh Vĩnh Long đã
được tiến hành điều tra từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 10 năm 2018. Kết quả mổ khám 115 cá thể cò
trắng cho thấy cò trắng bị nhiễm giun sán với tỷ lệ là 80,00%. Tỷ lệ nhiễm giun sán có khuynh hướng tăng
dần theo thể trọng cò, cò trắng dưới 100g bị nhiễm giun sán với tỷ lệ là 65,79%, tỷ lệ này tăng dần ở cò có
thể trọng từ 100 - 200g (80,00%) và cao nhất ở cò trên 200g (94,59%). Giới tính không ảnh hưởng đến tỷ
lệ nhiễm giun sán ký sinh trên cò trắng. Trong nghiên cứu này, có 6 loài giun sán ký sinh ở cò trắng thuộc 2
lớp: Trematoda và Nematoda, trong đó lớp Trematoda có 5 loài: Hypoderaeum conoideum tỷ lệ nhiễm cao
nhất (22,61%), kế đến là loài Echinostoma revolutum (18,26%), Echinoparyphium recurvatum (14,78%),
Echinostoma aegyptica (12,17%) và thấp nhất là loài Cotylurus cornutus ( 10,43%). Lớp Nematoda chỉ
có 1 loài Ganguleterakis dispar nhiễm ở cò với tỷ lệ là 9,57%. Tất cả các loài sán lá đều ký sinh ở ruột và
1 loài giun tròn là Ganguleterakis dispar ký sinh ở dạ dày cò. Trong những loài sán lá ký sinh ở cò trắng,
có loài Echinostoma revolutum và Echinoparyphium recurvatum là những loài ký sinh trên nhiều vật chủ
như chó, mèo, heo, các loài chim hoang dã khác và cả ở người.
Từ khóa: Cò trắng, giun sán, tỷ lệ nhiễm, tỉnh Vĩnh Long.
Situation of parasitic helminth infection in storks (Agretta gazretta)
in Vinh Long province
Nguyen Huu Hung, Nguyen Truong Hong Tham, Nguyen Ho Bao Tran
SUMMARY
The situation of parasitic helminth infection in the storks (Agretta gazretta) in Vinh Long province
was conducted from October 2017 to October 2018. A total of 115 storks were dissected, then
helminths were collected, and their species were identified basing on the external and internal
morphology of the helminths in adult stages. The studied results illustrated that the storks were
infected with helminths with high infection rate, up to 80.00%. The infection rate of storks with
helminths increased gradually by the stork body weight. The storks having body weight lower than
100g were infected with the lowest infection rate (65.79%), then the stork group weighing from
100 to 200 g was infected with the higher rate (80.00%), and the highest infection rate belonged
to stork group weighing over 200g (94.59%). The gender of stork was not affected to the infection
rate with helminths. In this study, there were 6 helminth species which were detected in the
storks, they were belonged to 2 classes: Trematoda and Nematoda. In the Trematoda class, there
were 5 parasitic species, such as: Hypoderaeum conoideum contributed the highest infection
rate (22.61%), followed by Echinostoma revolutum (18.26%), Echinoparyphium recurvatum
(14.78%), Echinostoma aegyptica (12.17%) and the lowest infection rate was Cotylurus cornutus
(10.43%). Most of the parasitic species were detected in the stork intestines but only one species
Ganguleterakis dispar was found in the stomach (9.57%). Among the parasitic helminth species
in the stork, Echinostoma revolutum and Echinoparyphium recurvatum species were identified in
many hosts, such as: dog, cat, pig, wild birds and also in human.
Keywords: Storks, helminths, infection rate, Vinh Long province.
59
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 4 - 2019
I. MỞ ĐẦU
Cò trắng là loài chim di trú theo đàn trên một
vùng khá rộng lớn từ cánh đồng này sang cánh đồng
khác, đặc biệt tập trung nhiều ở những vùng khí hậu
nhiệt đới. Vì vậy, chúng có thể mang mầm bệnh
truyền nhiễm từ nơi này sang nơi khác, trong đó bệnh
do ký sinh trùng là một trong các bệnh do cò trắng
mang lại gây nguy hiểm không nhỏ cho đàn gia cầm,
trong đó phải kể đến đàn vịt chạy đồng và đặc biệt
là sức khỏe con người. Do đặc tính di trú của các
loài chim, cò nên con người chưa quan tâm như các
loài gia súc, gia cầm khác. Những năm gần đây, nhu
cầu cuộc sống của con người ngày càng cao, các khu
vui chơi giải trí càng phát triển, các giống chim được
nuôi khá nhiều. Do đó, vấn đề quan tâm dịch bệnh từ
những loài chim này hiện nay là rất cần thiết.
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có khí hậu
nhiệt đới, trong đó tỉnh Vĩnh Long cũng là nơi hội tụ
nhiều của các loài chim, nhất là các cánh đồng lúa mới
gieo cấy, nhất là vào vụ thu hoạch lúa, quả chínViệc
săn bắt, tiêu thụ chim làm thực phẩm hoặc giữ lại nuôi
là khá phổ biến. Hiện tại ngành chức năng chưa quản
lý chặt chẽ các đối tượng kinh doanh này nên nguy
cơ tiềm ẩn góp phần làm lây lan mầm bệnh là rất cao,
trong đó, bệnh do giun sán ở chim chưa được quan
tâm. Xuất phát từ yêu cầu thực tế, việc nghiên cứu
nhằm phát hiện các loài giun sán ký sinh ở cò trắng là
cần thiết, từ đó hoàn thiện thêm một số đặc điểm dịch
tễ của các bệnh giun sán ký sinh ở các loài chim, trong
đó có loài cò trắng góp phần đề xuất các biện pháp
phòng chống các bệnh giun sán cho các loài gia cầm,
thủy cầm ở các địa phương và chim hoang dã.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian, đối tượng và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10 năm
2017 đến tháng 10 năm 2018. Cò trắng được thu
mua tại thị xã Bình Minh, huyện Măng Thít, Tam
Bình và Vũng Liêm thuộc tỉnh Vĩnh Long. Cò
được chia làm 3 nhóm theo thể trọng <100 gram,
100-200 gram và >200 gram, có phân theo giới
tính đực, cái.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Cò trắng được tiến hành mổ khám theo
phương pháp mổ khám của Skrjabin (1928),
thu thập mẫu giun sán, kỹ thuật làm tiêu bản
nhuộm carmin để xem cấu tạo bên trong của các
loài sán lá và định danh phân loại dựa vào khóa
định danh phân loại của Nguyễn Thị Lê (1995),
(1996), Kaufmann (1999) dựa vào sự khác biệt
về vị trí ký sinh, một số đặc điểm về kích thước,
hình thái và cấu tạo bên ngoài cũng như bên
trong của các loài giun sán. Số liệu được tính
toán thống kê bằng phần mềm Excel 2010 và
Minitab version 16.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tỷ lệ nhiễm giun sán trên cò trắng tại tỉnh
Vĩnh Long
Kết quả mổ khám 115 cá thể cò trắng trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Long được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1. Tỷ lệ nhiễm giun sán ký sinh ở cò trắng theo thể trọng
Thể trọng (gram) Số cò mổ khám Số cò nhiễm Tỷ lệ nhiễm (%)
<100 38 25 65,79a
100-200 40 32 80,00b
>200 37 35 94,59c
Tổng 115 92 80,00
Ghi chú: các ký tự a, b trong cùng một cột khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê
Cò trắng nhiễm giun sán với tỷ lệ rất
cao (80,00%) và có xu hướng tăng theo thể
trọng. Cụ thể nhóm cò trắng từ <100g nhiễm
65,79%, nhóm thể trọng từ 100-200g nhiễm
80%, và cao nhất là ở nhóm thể trọng >200g
nhiễm 94,59%.
60
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 4 - 2019
Điều này cho thấy cò trắng trong quá trình sinh
sống, chúng thường xuyên tiếp xúc với nhiều ký
chủ trung gian, ký chủ chứa các ấu trùng cảm
nhiễm nên cá thể này càng có thời gian lâu sẽ
dễ dàng nhiễm bệnh ký sinh với mức độ ngày
càng tăng (P<0,01). Kết quả này phù hợp với
những kết quả nghiên cứu trên các loài vật, thời
gian sống càng lâu thì khả năng cảm nhiễm sán
lá sẽ càng nhiều nếu không thực hiện những hoạt
động tẩy trừ (Nguyễn Thị Lê, 1996).
3.2. Tỷ lệ nhiễm giun sán ký sinh trên cò trắng
theo lớp giun sán
Bảng 2 cho thấy cò trắng ở tỉnh Vĩnh Long
nhiễm 2 lớp sán lá (Trematoda) và giun tròn
(Nematoda). Trong đó, cò trắng nhiễm sán lá cao
nhất với tỷ lệ 78,26% và nhiễm giun tròn với tỷ
l ệ thấp hơn (9,57%). Tỷ lệ khá chênh lệch rất có
ý nghĩa thống kê (P<0,001).
Bảng 2. Tỷ lệ nhiễm giun sán ký sinh trên cò trắng theo lớp giun sán
Thể trọng
(gram)
Số cò mổ
khám
Nhiễm theo lớp
Trematoda Nematoda
Số cò nhiễm Tỷ lệ nhiễm (%) Số cò nhiễm Tỷ lệ nhiễm (%)
<100 38 25 65,79 3 7,89
100-200 40 31 77,50 4 10,00
>200 37 34 91,89 4 10,81
Tổng 115 90 78,26a 11 9,57b
Ghi chú: các ký tự a, b trong cùng một hàng khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê
3.3. Tỷ lệ nhiễm giun sán ký sinh trên cò trắng theo tính biệt
Bảng 3. Tỷ lệ nhiễm giun sán ký sinh trên cò trắng theo tính biệt
Tính biệt Số cò mổ khám Số cò nhiễm Tỷ lệ nhiễm (%)
Đực 57 45 78,95
Cái 58 47 81,03
Tỷ lệ nhiễm giun sán ký sinh trên loài cò trắng
tỉnh Vĩnh Long theo giới tính đực và cái được thể
hiện qua bảng 3. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm ở
con đực (78,95%) hơi thấp hơn so với con cái
(81,03%), nhưng sự sai khác về tỷ lệ nhiễm theo
tính biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).
3.4. Tỷ lệ nhiễm các loài giun sán ở cò trắng
Bảng 4 cho thấy: cò trắng nhiễm 5 loài sán lá là
Hypoderaeum conoideum, Echinostoma revolutum,
Echinoparyphium recurvatum, Echinostoma
eagyptiaca và Cotylurus cormutus và 1 loài thuộc
lớp giun tròn là Ganguleterakis dispar. Các loài sán
lá đều được tìm thấy ở ruột, còn loài giun tròn ký sinh
ở dạ dày. Trong 5 loài sán lá ký sinh ở cò trắng, loài
Hypoderaeum conoideum có tỷ lệ nhiễm cao nhất
(22,61%), tiếp đến là loài Echinostoma revolutum
(18,26%), loài Echinoparyphium recurvatum
(14,28%). Hai loài Echinostoma aegyptiaca và
Cotylurus cormutus với tỷ lệ nhiễm thấp, lần lượt là
là 12,17% và 10,43%. Loài giun tròn Ganguleterakis
dispar có tỷ lệ nhiễm là 9,57 %. Về cường độ nhiễm,
cò trắng bị nhiễm sán lá ký sinh với cường độ nhiễm
từ 7-30 con / cá thể. Vật chủ nhiễm với cường độ
nhiễm cao các loài sán lá ký sinh sẽ làm tổn thương
niêm mạc ruột do sán có giác bám và nhiều móc bám.
Cụ thể loài Echinostoma revolutum có 37 móc xếp
thành 2 hàng, Hypoderaeum conoideum có 45 móc,
Echinostoma aegyptiaca với 43 móc. Chính những
móc bám này sẽ làm tổn thương các nhung mao ruột,
ảnh hưởng đến sự hấp thu dưỡng chất. Bên cạnh đó,
sán lá còn chiếm đoạt dưỡng chất, bài tiết độc tố, làm
61
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 4 - 2019
ảnh hưởng rất lớn đến sức sống của loài cò trắng. Cò
trắng thuộc loài động vật hoang dã nên chúng dễ dàng
phát tán mầm bệnh ra môi trường bên ngoài, nơi mà
các loài vật chủ trung gian và vật chủ chứa rất phong
phú, do đó mầm bệnh có điều kiện tiếp xúc với vật
chủ trung gian để khép kín vòng đời. Phạm Sỹ Lăng
và Nguyễn Hữu Hưng (2015) cho rằng ký chủ nếu
nhiễm sán lá với tỷ lệ và cường độ cao sẽ gây yếu toàn
thân, tiêu chảy kiệt sức nhanh, ngừng sinh trưởng và
phát triển giác bám và gai cutin trên thân sán lá kích
thích niêm mạc ruột, gây viêm chảy máu, viêm cata
ở từng vùng, con vật suy kiệt và chết. Nguyễn Hữu
Hưng (2007), nghiên cứu về tình hình nhiễm giun sán
ký sinh trên vịt tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long,
so sánh với kết quả các loài sán lá ký sinh được tìm
thấy ở cò tại tỉnh Vĩnh Long cho thấy các loài sán lá
được tìm thấy ở cò, cũng được tìm thấy ở thủy cầm.
Sán lá ký sinh trên cò trắng có các loài Echinostoma
revolutum và Echinoparyphium recurvatum là những
loài cũng ký sinh trên nhiều vật chủ như chó, mèo,
heo, các loài chim hoang dã khác và cả con người
(Soulsby, 1982; Kaufmann,1999; Phạm Sỹ Lăng và
Nguyễn Hữu Hưng, 2015).
IV. KẾT LUẬN
Cò trắng tại tỉnh Vĩnh Long nhiễm giun sán với
tỷ lệ cao. Tỷ lệ nhiễm giun sán tăng dần theo thể
trọng, nhưng không khác biệt theo giới tính.
Đã phát hiện 6 loài giun sán ký sinh ở cò
trắng là: Hypoderaeum conoideum, Echinostoma
revolutum, Echinoparyphium recurvatum,
Echinostoma aegyptiaca, Cotylurus cormutus, và
Ganguleterakis dispar thuộc 2 lớp là Trematoda
và Nematoda, trong đó tỷ lệ nhiễm lớp sán lá cao
hơn lớp giun tròn. Tất cả các loài trên đều ký sinh
ở ống tiêu hóa của cò trắng (dạ dày và ruột).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hữu Hưng, 2007. Giun sán ký sinh
trên vịt tại Đồng Bằng Sông Cửu Long và thí
nghiệm thuốc phòng trị một số loài giun sán
chủ yếu. Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Đại Học
Nông Lâm, TP. Hồ Chí Minh.
2. Nguyễn Thị Lê, 1995. Danh mục các loài sán
lá (Trematoda) ký sinh ở chim và thú Việt Nam.
Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.
3. Nguyễn Thị Lê, Nguyễn Thị Kỳ, Phạm Văn
Lực, Hà Huy Ngọ và Nguyễn Thị Minh, 1996.
Giun sán ký sinh ở gia cầm Việt Nam. Nhà xuất
bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.
4. Phạm Sỹ Lăng và Nguyễn Hữu Hưng, 2015.
Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm Việt
Nam. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội.
5. Kaufmann J. 1999. Parasitic infection of
domestic animals, A Diagnostic Mannual,
Birkhausser Verlag, Basal, Boston and Berlin
6. Soulsby, E.J.L. (1982). Helminths, Arthropods
and Protozoa of Domesticated Animals. 7th
edition, Bailliere Tindall, London.
Ngày nhận 28-12-2018
Ngày phản biện 14-3-2019
Ngày đăng 1-6-2019
Bảng 4. Tỷ lệ nhiễm các loài giun sán ở cò trắng
STT Thành phần loài Vị trí ký sinh Số cò nhiễm Tỷ lệ nhiễm (%)
Cường độ nhiễm
X min-Xmax
1 Trematoda
1.1 Echinostoma revolutum Ruột 21 18,26 9-25
1.2 Echinostoma aegyptiaca Ruột 14 12,17 7-21
1.3 Echinoparyphium recurvatum Ruột 17 14,78 7-21
1.4 Hypoderaeum conoideum Ruột 26 22,61 10-30
1.5 Cotylurus cormutus Ruột 12 10,43 14-29
2 Nematoda
2.1 Ganguleterakis dispar dạ dày 11 9,57 6-30
62
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 4 - 2019
NGHIEÂN CÖÙU ÑOÂNG LAÏNH NHANH TINH DÒCH CHOÙ PHUÙ QUOÁC
Trần Thị Chi, Vũ Hải Yến,
Nguyễn Tuấn Dũng, Nguyễn Văn Thanh
Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
TÓM TẮT
Nghiên cứu thử nghiệm đông lạnh nhanh tinh dịch chó Phú Quốc đã được thực hiện nhằm phục vụ
việc bảo tồn và nhân giống giống chó này bằng kỹ thuật phối tinh nhân tạo. (i) Chất lượng tinh của 6
con chó đực giống Phú Quốc được đánh giá, tinh được khai thác 6 lần/đực giống, 5 ngày lấy tinh một
lần. Kết quả nghiên cứu cho thấy thể tích tinh dịch phân đoạn giàu tinh trùng là 1,42±0,13 ml; hoạt
lực tinh trùng đạt 0,86±0,05 điểm; nồng độ tinh trùng đạt 604,7±85,0 triệu tinh trùng/ml, tổng số tinh
trùng tiến thẳng/lần khai thác đạt 496,9±38,9 triệu tinh trùng, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình là 11,1±0,9%.
(ii) Đông lạnh nhanh các mẫu tinh đã được thực hiện theo quy trình CERCA (Benechet, 2007) trong
môi trường TCG (Tris-Citrate-Glucose) có bổ sung 20% lòng đỏ trứng gà và thử nghiệm bổ sung chất
chống choáng lạnh là glycerol (với các mức hàm lượng thử nghiệm là 0; 4; 6 và 8% thể tích) hoặc
ethylene glycol (với các mức hàm lượng thử nghiệm là 0; 6; 8 và 10% thể tích); tinh được đóng trong
cọng rạ 0,25 ml chứa 100 triệu tinh trùng/liều tinh; sau 2 ngày bảo quản trong nitơ lỏng, các mẫu
tinh được rã đông ở 37oC trong 1 phút. Kết quả xác định chất lượng tinh cho thấy hoạt lực tinh trùng
sau rã đông đạt cao nhất trong môi trường chứa 6% glycerol và 8% ethylene glycol, đạt tương ứng là
0,46±0,02 và 0,49±0,03 điểm; tỷ lệ tinh trùng kỳ hình tương ứng là 24,61±0,39% và 22,86±0,33%.
Từ khóa: Chó Phú Quốc, tinh trùng, tinh dịch, bảo quản đông lạnh, chất bảo vệ đông lạnh, chất
lượng tinh trùng.
A research on cryopreservation of Phu Quoc dog semen
Tran Thi Chi, Vu Hai Yen,
Nguyen Tuan Dung, Nguyen Van Thanh
SUMMARY
Study on Cryopreservation for Phu Quoc dog semen was conducted in order to serve for the
conservation and propagation of this breed by artificial insemination. (i) The quality of sperm of
6 Phu Quoc dogs was evaluated. The semens were harvested in 6 times per sire, the interval
between each harvesting time was 5 days. The studied results showed that the volume of semen
containing highest number of sperms was 1.42±0.13 ml, sperm activity reached 0.86±0.05 points,
sperm concentration was 604.7 ± 85.0 million sperms per 1 ml semen, of which the total number of
sperms moving directly per each harvesting time reached 496.9 ± 38.9 million spermatozoa and
the sperm abnormality rate was 11.1 ± 0.9%. The semen samples were packed in straws with 0.25
ml containing a total of 100 million sperm per dose and conserved in liquid nitrogen according to the
CERCA procedure (Benechet, 2007) in TCG (Tris-Citrate-Glucose) medium supplemented 20%
of egg yolk, with cryo-protectants, such as: glycerol (at the test levels: 0, 4, 6 and 8% by volume) or
ethylene glycol (at the test levels: 0, 6, 8 and 10% by volume). After 2 days of conservation in liquid
nitrogen, the semen samples were thawed at 370C for 1 minute. The result of testing sperm quality
showed that the activity of sperm after thawing reached the highest level in the medium containing
6% glycerol or 8% ethylene glycol, that was 0.46 ± 0.02 and 49 ± 0.03 points, respectively, and the
sperm abnormality rate was 24.61 ± 0.39% and 22.86 ± 0.33%, respectively.
Keywords: Phu Quoc dogs, sperm, semen, cryopreservation, cryoprotectants, sperm quality.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tinh_hinh_nhiem_giun_san_ky_sinh_o_loai_co_trang_agretta_gaz.pdf