Kết quả thí nghiệm bảng 9 cho thấy, sau 10 ngày
kể từ khi chấm dứt sử dụng thuốc, cả hai nghiệm
thức 1 với liều 10 mg/kg thể trọng và nghiệm thức
2 với liều 14 mg/kg thể trọng đều cho hiệu quả tẩy
sạch cả ba loài Trichuris infundibulus (giun tóc),
Neoascaris mackerrasae (giun đũa), Enterobius
vermicularis (giun kim). Thuốc an toàn, không có
phản ứng phụ nào trong suốt đợt thí nghiệm.
KẾT LUẬN
Bằng phương pháp kiểm tra phân, xác định
nhím nhiễm giun tròn với tỷ lệ chung là 76,5%.
Ở tất cả các huyện khảo sát, nhím đều nhiễm
3 loài giun tròn là Trichuris infundibulus (giun
tóc), Enterobius vermicularis (giun kim) và
Neoascaris mackerrasae (giun đũa), tỷ lệ nhiễm
không phụ thuộc vào giới tính. Bằng phương
pháp mổ khám, nhím nhiễm giun tròn có tỷ lệ
nhiễm chung là 96,3%, trong đó loài Enterobius
vermicularis nhiễm với tỷ lệ cao nhất và những
nghiên cứu trước đây cho thấy loài này có nhiễm
trên người. Nhím nhiễm giun tròn có số lượng
hồng cầu và hemoglobin giảm, số lượng bạch
cầu và eosinophil tăng cao. Thuốc Albendazole
với liều 10 mg/1kg thể trọng và liều 14 mg/1kg
thể trọng có hiệu quả tẩy trừ giun tròn trên nhím,
thuốc an toàn, không gây phản ứng phụ.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tình hình nhiễm giun tròn trên nhím (hystrix brachyura) nuôi tại tỉnh Trà Vinh và thử nghiệm tẩy trư, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
61
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
TÌNH HÌNH NHIEÃM GIUN TROØN TREÂN NHÍM (HYSTRIX BRACHYURA)
NUOÂI TAÏI TÆNH TRAØ VINH VAØ THÖÛ NGHIEÄM TAÅY TRÖØ
Nguyễn Thị Kim Quyên1, Nguyễn Hồ Bảo Trân2, Nguyễn Hữu Hưng2
TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn trên nhím (Hystrix brachyura) nuôi tại tỉnh Trà Vinh và
thử nghiệm tẩy trừ” đã được thực hiện tại 3 huyện Cầu Ngang, Càng Long và Cầu Kè thuộc tỉnh Trà Vinh từ
1/8/2015 đến 30/8/2016. Kết quả kiểm tra 255 mẫu phân nhím bằng phương pháp phù nổi cho thấy tỷ lệ nhím
nhiễm giun tròn là 76,5%. Đồng thời, kết quả mổ khám 27 con nhím đã xác định nhím nuôi có tỷ lệ nhiễm
giun tròn là 96,3%. Định danh và phân loại giun tròn ký sinh ở nhím theo phương pháp truyền thống đã cho
kết quả là nhím nuôi ở cả 3 địa điểm khảo sát đều nhiễm 3 loài giun tròn, bao gồm: Trichuris infundibulus,
Enterobius vermicularis và Neoascaris mackerrasae. Trong đó, loài Enterobius vermicularis có khả năng
truyền lây từ động vật sang người, cần được quan tâm đặc biệt. Nhím nhiễm giun tròn có số lượng hồng cầu
và hemoglobin thấp hơn so với nhím không nhiễm, trong khi đó số lượng bạch cầu và eosinophil tăng cao
hơn nhím không nhiễm. Đã thử nghiệm tẩy trừ giun tròn trên nhím bằng ba loại thuốc levamisole (cho ăn),
ivermectin (tiêm) và albendazole (cho ăn). Dùng thuốc albendazole với liều 10-14 mg/1kg thể trọng nhím
đã cho hiệu quả tẩy trừ giun tròn trên nhím là 100%. Cả ba loại thuốc này đều an toàn khi dùng để điều trị
bệnh giun tròn ở nhím , không gây phản ứng phụ trong suốt quá trình điều trị thử nghiệm.
Từ khóa: nhím (Hystrix brachyura), giun tròn, tỷ lệ nhiễm, hiệu quả tẩy trừ, Trà Vinh.
Study on intestinal nematode infection in porcupines (Hystrix brachyura)
and experimental therapy in Tra Vinh province
Nguyen Thi Kim Quyen, Nguyen Ho Bao Tran, Nguyen Huu Hung
SUMMARY
This study was conducted in Cau Ngang, Cang Long and Cau Ke districts, Tra Vinh province from
01, August 2015 to 30 August 2016. The result of analyzing 255 porcupine fecal samples (by floatation
technique) and necropsy of 27 cases showed that the infection rate of porcupine with roundworm was
76.5% and 96.3%, respectively. The result of identifying and classifying intestinal roundworm species from
the experimental porcupines showed that the three different roundworm species were observed in all three
investigating locations, such as: Trichuris infundibulus, Enterobius vermicularis, and Neoascaris mackerrasae.
Especially, Enterobius vermicularis species (a zoonotic nematode) should be paid much attention. The
red blood cell and hemoglobin parameters of the infection porcupines were lower than that of the healthy
porcupines. While the number of WBC and eosinophil of the infection porcupines were higher than that of
the normal ones. The experimental deworming was carried out by using three kind of anthelmintic drugs,
such as levamisole (by oral), ivermectin (by injection) and albendazole (by oral). The treatment result
showed that all of these drugs were safe and having no side effects to animals during treatment. Especially,
albendazole with a dose of 10-14 mg/kg body weight was the most effective with 100% deworming.
Keywords: Porcupines (Hystrix brachyura), nematode, infection rate, deworming efficacy, Tra Vinh
province.
1. Khoa Nông nghiệp – Thủy sản, Đại học Trà Vinh
2. Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
I. GIỚI THIỆU
Nhím đuôi ngắn (Hystrix brachyura) là động
vật hoang dã được người dân ở vùng đồng bằng
sông Cửu Long nuôi để lấy thịt. Trong những
năm gần đây, phong trào nuôi nhím thịt đang
phát triển ở tỉnh Trà Vinh, nhưng người dân nuôi
nhím còn thiếu kiến thức về việc nhím nhiễm
giun tròn sẽ làm giảm năng suất nên chưa quan
tâm đến việc phòng trị bệnh do giun tròn gây
ra trên nhím. Một số nghiên cứu trước đây cho
62
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
thấy nhím nhiễm giun tròn giảm năng suất và
ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Nghiên cứu
của Wiwanitkit (2013) tìm thấy giun tròn trong
phân và các cơ quan nội tạng sau khi giải phẫu
nhím Javan hystrix mắc bệnh và chết. Để có
cơ sở khoa học khuyến cáo về cách phòng trị
bệnh giun tròn trên đàn nhím nuôi tại Trà Vinh,
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu
tình hình nhiễm giun tròn trên nhím (Hystrix
brachyura) nuôi tại tỉnh Trà Vinh và thử nghiệm
hiệu quả tẩy trừ”.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nhím đuôi ngắn (Hystrix brachyura) nuôi nhốt
ở 3 huyện Cầu Ngang, Cầu Kè và Càng Long, tỉnh
Trà Vinh.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
*Xác định tình hình nhiễm giun tròn trên nhím
Kiểm tra phân, tìm trứng giun tròn bằng phương
pháp phù nổi Willis, phương pháp đếm trứng Mac
Master để xác định cường độ nhiễm trứng của
những loài giun tròn trước và sau khi tẩy trừ.
Áp dụng phương pháp mổ khám từng phần để
xác định sự hiện diện của các loài giun tròn ký sinh
và định danh phân loại các loài giun tròn qua quan
sát hình dạng, kích thước, cấu tạo bên trong và bên
ngoài theo mô tả của các tác giả Nguyễn Thị Lê và
ctv. (2008), Phan Thế Việt và ctv. (1977), Skrjabin
và Petrov (1979) và Durette-Desset (1966).
*Thử nghiệm thuốc điều trị bệnh giun tròn trên nhím
Tẩy giun bằng 3 loại thuốc levamisole,
ivermectin và albendazole. Tính liều thuốc cho
nhím theo phương pháp dựa trên trao đổi chất
cơ bản của Võ Đình Sơn (2007). Tiến hành thử
nghiệm thuốc theo sơ đồ sau:
Bảng 1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm thuốc tẩy trừ giun tròn trên nhím ở tỉnh Trà Vinh
Thuốc thí nghiệm Liều thuốc (mg/kg thể trọng) Số nhím thí nghiệm (con) Đường cấp
Levamisole
28 3
Ăn
33 3
Ivermectin
0,3 3
Tiêm
0,4 3
Albendazole
10 3
Ăn
14 3
Sau khi sử dụng thuốc điều trị, theo dõi ghi nhận
tác dụng phụ của thuốc và đánh giá hiệu quả của thuốc
bằng cách lấy mẫu phân nhím kiểm tra lại sau 5, 10,
15 ngày bằng phương pháp đếm trứng Mc Master.
Trong thời gian thí nghiệm có thu thập 10 mẫu
máu nhím nhiễm trứng giun và 10 mẫu máu nhím
không nhiễm trứng giun để kiểm tra các chỉ tiêu
sinh lý máu (hồng cầu, bạch cầu, hemoglobin,
Eosinophil) tại phòng khám đa khoa Thiên Ân.
2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Tính tỷ lệ nhiễm bằng phần mềm Microsoft Excel.
So sánh tỷ lệ nhiễm giun tròn bằng trắc nghiệm Chi
Square của phần mềm thống kê Minitab version 16.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả tình hình nhiễm giun tròn ở nhím
nuôi tại tỉnh Trà Vinh
Bảng 2. So sánh tỷ lệ nhiễm giun tròn ở nhím giữa hai phương pháp kiểm tra tại tỉnh Trà Vinh
Phương pháp khảo sát Số mẫu kiểm tra Số mẫu nhiễm Tỷ lệ nhiễm (%)
Xét nghiệm phân 255 195 76,5b
Mổ khám 27 26 96,3a
63
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
Qua bảng 2 cho thấy, tỷ lệ nhiễm giun tròn trên
nhím kiểm tra bằng xét nghiệm mẫu phân (76,5%)
thấp hơn nhiều so với tỷ lệ nhiễm giun tròn trên
nhím kiểm tra bằng phương pháp mổ khám
(96,3%). Sự khác biệt này rất có ý nghĩa về mặt
thống kê (p=0,017). Phạm Sỹ Lăng và ctv. (2015)
cho rằng bằng phương pháp mổ khám sẽ tìm thấy
giun sán có tỷ lệ nhiễm cao hơn kết quả kiểm tra
bằng phương pháp kiểm tra phân vì phương pháp
mổ khám tìm thấy giun tròn ở tất cả các giai đoạn
phát triển, còn phương pháp kiểm tra phân chỉ xác
định được những con giun tròn trong giai đoạn
trưởng thành và đẻ trứng. Nhím nhiễm giun tròn
ở dạng trưởng thành và ấu trùng của giun tròn ký
sinh và di hành gây tổn thương nhiều khí quan
trong cơ thể, sức đề kháng giảm sút, tạo điều kiện
cho các ký sinh trùng và các bệnh truyền nhiễm
khác kế phát.
Bảng 3. Tỷ lệ nhiễm các loài giun tròn trên nhím theo địa điểm khảo sát
(phương pháp kiểm tra phân)
STT Loài
Địa điểm (huyện)
Cầu Ngang Càng Long Cầu Kè
SMN TLN (%) SMN TLN (%) SMN TLN (%)
1 Trichuris infundibulus 20 23,5 26 30,6 31 36,5
2 Enterobius vermicularis 26 30,6 36 42,4 37 43,5
3 Neoascaris mackerrasae 3 3,53 6 7,06 10 11,8
SMN: số mẫu nhiễm, TLN: tỷ lệ nhiễm
Qua bảng 3 cho thấy nhím ở tất cả các huyện
đều nhiễm 3 loài giun tròn là Trichuris infundibulus
(giun tóc), Enterobius vermicularis (giun kim) và
Neoascaris mackerrasae (giun đũa). Cụ thể, nhím ở
huyện Cầu Ngang nhiễm loài Enterobius vermicularis
với tỷ lệ nhiễm cao nhất 30,6%, kế đến là loài Trichuris
infundibulus nhiễm 23,5% và có tỷ lệ nhiễm thấp nhất
là loài Neoascaris mackerrasae 3,53%. Nhím ở huyện
Càng Long nhiễm loài Enterobius vermicularis với
tỷ lệ nhiễm cao nhất 42,4%, kế đến là loài Trichuris
infundibulus nhiễm 30,6% và có tỷ lệ nhiễm thấp
nhất là loài Neoascaris mackerrasae 7,06%. Nhím ở
huyện Cầu Kè nhiễm loài Enterobius vermicularis với
tỷ lệ nhiễm cao nhất 43,5%, kế đến là loài Trichuris
infundibulus nhiễm 36,5% và có tỷ lệ nhiễm thấp nhất
là loài Neoascaris mackerrasae 11,8%.
So sánh giữa 3 huyện khảo sát thì huyện Cầu
Kè nhiễm loài Trichuris infundibulus với tỷ lệ là
36,5%; kế đến là huyện Càng Long với tỷ lệ nhiễm
là 30,6% và huyện Cầu Ngang với tỷ lệ nhiễm là
23,5% tương đương giữa các huyện (p=0,184).
Đối với nhím nhiễm loài Enterobius vermicularis
thì huyện Cầu Kè nhiễm với tỷ lệ là 43,5%, kế đến
là huyện Càng Long với tỷ lệ nhiễm là 42,4% và
huyện Cầu Ngang với tỷ lệ nhiễm là 30,6%; khác
biệt giữa các huyện không có ý nghĩa về mặt thống
kê (p=0,160). Đối với nhím nhiễm loài Neoascaris
mackerrasae thì huyện Cầu Kè nhiễm cao nhất với
tỷ lệ là 11,8%, kế đến là huyện Càng Long với tỷ lệ
nhiễm là 7,06% và thấp nhất là huyện Cầu Ngang
với tỷ lệ nhiễm là 3,53%, nhưng sự khác biệt này
không có ý nghĩa về mặt thống kê (p=0,122). Qua
thực tế ở các địa điểm nghiên cứu, nhím bị nhiễm
các loài giun tròn này thường ở thể mạn tính làm
giảm sinh trưởng, phát dục chậm, tăng trọng kém
và tiêu tốn thức ăn cao.
Bảng 4. Tỷ lệ nhiễm giun tròn trên nhím theo giới tính
Giới tính Số mẫu kiểm tra Số mẫu nhiễm Tỷ lệ nhiễm (%)
Cái 140 109 77,86
Đực 115 86 74,78
64
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
Qua bảng 4 cho thấy, tỷ lệ nhiễm giun tròn trên
nhím cái (77,86%), cao hơn so với tỷ lệ nhiễm
trên nhím đực (74,78%). Tuy nhiên, khi phân tích
thống kê cho thấy không có sự khác biệt giữa tỷ lệ
nhiễm trên nhím đực và nhím cái (p=0,565). Kết
quả này phù hợp với nghiên cứu của Youssefi et al.
(2010) cho thấy rằng tỷ lệ nhiễm giun tròn không
phụ thuộc vào yếu tố giới tính.
Bảng 5. Thành phần loài giun tròn ký sinh trên nhím theo địa điểm khảo sát
(phương pháp mổ khám)
STT TLNC(%)
Địa điểm (huyện)
Loài Cầu Ngang Càng Long Cầu Kè
SCN TLN (%) SCN TLN (%) SCN TLN (%)
1 Trichuris infundibulus 96,3 8 88,9 9 100 9 100
2 Enterobius vermicularis 96,3 8 88,9 9 100 9 100
3 Neoascaris mackerrasae 18,5 1 11,1 1 11,1 3 33,3
SCN: số con nhiễm, TLN: tỷ lệ nhiễm, TLNC: tỷ lệ nhiễm chung.
Qua bảng 5 cho thấy nhím mổ khảo sát ở các
địa điểm đều nhiễm 3 loài giun tròn. Trong đó,
có 2 loài Trichuris infundibulus và Enterobius
vermicularis đều có tỷ lệ nhiễm cao (96,3%) và
loài Neoascaris mackerrasae có tỷ lệ nhiễm thấp
nhất (18,5%) và sự khác biệt này rất có ý nghĩa
về mặt thống kê (p=0,000). Cụ thể, nhím ở hai
huyện Càng Long và Cầu Kè đều nhiễm hai loài
Trichuris infundibulus và Enterobius vermicularis
với tỷ lệ là 100%, huyện Cầu Ngang đều có tỷ
lệ 88,9%. Nhím nhiễm Neoascaris mackerrasae
ở huyện Cầu Kè với tỷ lệ nhiễm là 33,3%, cao
hơn huyện Cầu Ngang và Càng Long đều nhiễm
11,1%, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
(p=0,375). Kết quả này phù hợp với kết quả kiểm
tra phân tìm trứng giun tròn ở 3 huyện khảo sát thì
huyện Cầu Kè nhiễm Neoascaris mackerrasae cao
nhất với tỷ lệ 11,8%.
Qua kết quả định danh, phân loại các loài giun
tròn ký sinh trên nhím ở 3 địa điểm điều tra là
Cầu Ngang, Càng Long và Cầu Kè cho thấy nhím
nhiễm 3 loài giun tròn là Enterobius vermicularis,
Trichuris infundibulus và Neoascaris mackerrasae.
Trong 3 loài giun tròn được tìm thấy trên nhím,
loài Enterobius vermicularis có tỷ lệ nhiễm rất
cao (88,9-100%) tại các hộ chăn nuôi và có khả
năng lây truyền từ vật nuôi sang người, cần được
quan tâm. Theo các tác giả như Cook et al. (2009);
Keciak, S.(2009); Requena, I.(2007); Hong, SH
et al.(2012), khi nghiên cứu tình hình nhiễm loài
giun tròn trên người cho biết loài Enterobius
vermicularis được tìm thấy và gây bệnh cho con
người. Vì vậy, việc nuôi nhím tại các hộ chăn nuôi
gia đình, người nuôi nhím cần phải chú ý trong
vấn đề phòng trị nhằm hạn chế sự truyền lây sang
người.
3.2. Kết quả khảo sát các chỉ tiêu sinh lý máu
trên nhím
Bảng 6. So sánh các chỉ tiêu sinh lý máu giữa nhím nhiễm và nhím không nhiễm giun tròn
Đối tượng Số mẫu kiểm tra
Chỉ tiêu khảo sát
Hồng cầu
(106/mm3)
Hemoglobin
(g/dl)
Bạch cầu
(103/mm3)
Eosinophil
(103/mm3)
Nhím nhiễm 10 2,56±0,48 9,63±1,67 5,37±0,99 0,27±0,07
Nhím không nhiễm 10 4,09±0,27 12,6±1,37 2,39±2,13 0,13±0,05
65
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
Qua bảng 6 cho thấy ở nhím không nhiễm, số
lượng hồng cầu là 4,09±0,27 x 106/mm3. Trong
khi đó, số lượng hồng cầu nhím nhiễm giun tròn
chỉ còn 2,56±0,48 x 106/mm3, giảm đáng kể so
với nhím không nhiễm. Hàm lượng huyết sắc tố
ở nhím nhiễm (9,63±1,67 g/dL) cũng thấp hơn
so với nhím không nhiễm (12,6±1,37 g/dL).
Theo Phạm Sỹ Lăng và ctv. (2000), các hồng
cầu non được tái tạo không bù đắp đủ chỉ tiêu
sinh lý bình thường, do đó nhím nhiễm giun tròn
có chỉ tiêu hồng cầu thấp hơn. Ngoài ra, giun sán
lấy chất dinh dưỡng và gây độc cho cơ thể nhím
qua những sản phẩm trao đổi chất làm cho nhím
bị thiếu máu, khi thiếu máu số lượng hồng cầu
giảm. Chính những điều này cho thấy đàn nhím
nhiễm giun sán chậm lớn hơn. Về chỉ tiêu bạch
cầu, kết quả cho thấy nhím không nhiễm có số
lượng bạch cầu là 2,39±2,13 x 103/mm3, trong
khi đó số lượng bạch cầu nhím nhiễm giun tròn
5,37±0,99 x 103/mm3, điều này cho thấy nhím
nhiễm giun tròn có số lượng bạch cầu tăng. Điều
này có thể được giải thích như sau: khi nhím
nhiễm giun tròn thì số lượng bạch cầu tăng do
phản ứng của cơ thể tăng sinh bạch cầu để chống
lại mầm bệnh xâm nhập. Về chỉ tiêu Eosinophil,
kết quả cho thấy nhím không nhiễm có số lượng
Eosinophil là 0,13±0,05 x 103/mm3, nhím nhiễm
có số lượng Eosinophil là 0,27±0,70 x 103/mm3,
điều này cho thấy nhím nhiễm giun sán có số
lượng Eosinophil tăng so với nhím không nhiễm.
Theo Lương Văn Huấn và ctv. (1997) khi nhím
nhiễm giun tròn, Eosinophil tấn công đến chỗ
định vị của giun tròn bởi E.C.F.A, giải phóng
hạt tế bào mast. Những nhân tố này kích thích
cơ thể phóng thích một số lượng lớn Eosinophil
vào vòng tuần hoàn, do vậy nhím nhiễm giun
tròn sẽ có Eosinophil tăng.
3.3. Kết quả thử nghiệm thuốc tẩy trừ giun tròn
trên nhím
Bảng 7. Hiệu quả của thuốc Levamisole tẩy trừ giun tròn trên nhím nuôi
Thời gian lấy mẫu
xét nghiệm
Số trứng trung bình/1g phân
Nghiệm thức 1 (n=3)
(28 mg/kg thể trọng)
Nghiệm thức 2 (n=3)
(33 mg/kg thể trọng)
GT GĐ GK GT GĐ GK
Trước thí nghiệm
2500 600 500 3800 800 1300
(7500/3) (1800/3) (1500/3) (11400/3) (2400/3) (3900/3)
1800 400 400 1200 300 100
Sau 5 ngày (5400/3) (1200/3) (1200/3) (3600/3) (900/3) (300/3)
900 300 100 300 100 0
Sau 10 ngày (2700/3) (900/3) (300/3) (900/3) (300/3) (0/3)
600 100 100 100 0 0
Sau 15 ngày (1800/3) (300/3) (300/3) (300/3) 0/3 0/3
Ghi chú: GT: giun tóc, GĐ: giun đũa, GK: giun kim.
Qua kết quả bảng 7 cho thấy, nhím ở nghiệm
thức 1 với liều 28 mg/kg thể trọng không có hiệu
quả đối với cả ba loài, ở nhím vẫn còn tìm thấy
sự hiện diện của trứng trong phân ở cả ba loài,
nhưng số lượng trứng có giảm. Ở nghiệm thức
2 với liều 33 mg/kg thể trọng cho hiệu quả tẩy
sạch Neoascaris mackerrasae (giun đũa) sau 15
ngày và tẩy sạch Enterobius vermicularis (giun
kim) sau 10 ngày, nhưng không có hiệu quả đối
với Trichuris infundibulus (giun tóc). Ở nghiệm
thức 2, nhím vẫn còn thấy sự hiện diện của
trứng Trichuris infundibulus, nhưng số lượng có
giảm. Cả hai nghiệm thức sử dụng thuốc đều
không có phản ứng phụ nào trong suốt quá trình
thí nghiệm.
66
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
Bảng 8. Hiệu quả của thuốc Ivermectin tẩy trừ giun tròn trên nhím nuôi
Thời gian lấy mẫu
xét nghiệm
Số trứng trung bình/1g phân
Nghiệm thức 1 (n=3)
(0,3 mg/kg thể trọng)
Nghiệm thức 2 (n=3)
(0,4 mg/kg thể trọng)
GT GĐ GK GT GĐ GK
Trước thí nghiệm
600 200 300 2100 200 200
(1800/3) (600/3) (900/3) (6300/3) (600/3) (600/3)
300 100 100 300 100 100
Sau 5 ngày (900/3) (300/3) (300/3) (900/3) (300/3) (300/3)
200 100 100 100 0 0
Sau 10 ngày (600/3) (300/3) (300/3) (300/3) (0/3) (0/3)
100 0 0 100 0 0
Sau 15 ngày (300/3) 0/3 0/3 (300/3) 0/3 0/3
Ghi chú: GT: giun tóc, GĐ: giun đũa, GK: giun kim
Kết quả bảng 8 cho thấy, nhím ở nghiệm thức
1 với liều 0,3 mg/kg thể trọng đều cho hiệu quả
tẩy sạch Neoascaris mackerrasae (giun đũa) và
Enterobius vermicularis (giun kim) sau 15 ngày,
không có hiệu quả đối với Trichuris infundibulus
(giun tóc). Ở nghiệm thức 2 với liều 0,4 mg/kg thể
trọng cũng đều cho hiệu quả tẩy sạch Neoascaris
mackerrasae và Enterobius vermicularis sau
10 ngày, nhưng cũng không có hiệu quả đối
với Trichuris infundibulus. Ở cả hai nghiệm
thức, nhím vẫn còn thấy sự hiện diện của trứng
Trichuris infundibulus, nhưng số lượng có giảm.
Cả hai nghiệm thức sử dụng thuốc đều không có
phản ứng phụ nào trong suốt quá trình thí nghiệm.
Bảng 9. Hiệu quả của thuốc Albendazole tẩy trừ giun tròn trên nhím nuôi
Thời gian lấy mẫu
xét nghiệm
Số trứng trung bình/1g phân
Nghiệm thức 1 (n=3)
(10mg/kg thể trọng)
Nghiệm thức 2 (n=3)
(14mg/kg thể trọng)
GT GĐ GK GT GĐ GK
500 400 600 1900 300 1400
Trước thí nghiệm (1500/3) (1200/3) (1800/3) (5700/3) (900/3) (4200/3)
200 100 300 200 0 100
Sau 5 ngày (600/3) (300/3) (900/3) (600/3) (0/3) (300/3)
0 0 0 0 0 0
Sau 10 ngày (0/3) (0/3) (0/3) (0/3) (0/3) (0/3)
0 0 0 0 0 0
Sau 15 ngày 0/3 0/3 0/3 0/3 0/3 0/3
Ghi chú: GT: giun tóc, GĐ: giun đũa, GK: giun kim
Kết quả thí nghiệm bảng 9 cho thấy, sau 10 ngày
kể từ khi chấm dứt sử dụng thuốc, cả hai nghiệm
thức 1 với liều 10 mg/kg thể trọng và nghiệm thức
2 với liều 14 mg/kg thể trọng đều cho hiệu quả tẩy
sạch cả ba loài Trichuris infundibulus (giun tóc),
Neoascaris mackerrasae (giun đũa), Enterobius
vermicularis (giun kim). Thuốc an toàn, không có
phản ứng phụ nào trong suốt đợt thí nghiệm.
67
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
IV. KẾT LUẬN
Bằng phương pháp kiểm tra phân, xác định
nhím nhiễm giun tròn với tỷ lệ chung là 76,5%.
Ở tất cả các huyện khảo sát, nhím đều nhiễm
3 loài giun tròn là Trichuris infundibulus (giun
tóc), Enterobius vermicularis (giun kim) và
Neoascaris mackerrasae (giun đũa), tỷ lệ nhiễm
không phụ thuộc vào giới tính. Bằng phương
pháp mổ khám, nhím nhiễm giun tròn có tỷ lệ
nhiễm chung là 96,3%, trong đó loài Enterobius
vermicularis nhiễm với tỷ lệ cao nhất và những
nghiên cứu trước đây cho thấy loài này có nhiễm
trên người. Nhím nhiễm giun tròn có số lượng
hồng cầu và hemoglobin giảm, số lượng bạch
cầu và eosinophil tăng cao. Thuốc Albendazole
với liều 10 mg/1kg thể trọng và liều 14 mg/1kg
thể trọng có hiệu quả tẩy trừ giun tròn trên nhím,
thuốc an toàn, không gây phản ứng phụ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Durett-Desset, M.C. and A.G. Chabaud,
1967. Sur deux nouve aux Trichostrongyles,
parasites du Porc - Epic au Viet Nam. Ann.
parasit. Hum. Comp., 41: 453-466.
2. Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1997.
Ký sinh và bệnh ký sinh ở gia súc, gia cầm,
Nxb Nông nghiệp. TP Hồ Chí Minh.
3. Heciak S., 2006. Enterobiosis - analysis of
infections in human populations of villages
and towns and infections in families.Wiad
Parazytol. 2006;52(4):331-5.
4. Hong SH, Jeong YI, Lee JH, Cho SH, Lee
WJ, Lee SE.(2012). Prevalence of Enterobius
vermicularis among preschool children in
Muan-gun, Jeollanam-do, Korea. Korean J
Parasitol. 2012 Sep; 50(3):259-62.
5. Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực, Hà Duy
Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Phan Trọng Cung
và Nguyễn Văn Châu, 2008. Ký sinh trùng ở
động vật gặm nhấm Việt Nam, Nxb Khoa học
Tự nhiên, Hà Nội.
6. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn
Văn Diên, Nguyễn Bá Hiên, Bạch Quốc
Thắng và Hạ Thúy Hạnh, 2015. Bệnh ký
sinh trùng ở gia súc, gia cầm Việt Nam, Nxb
Nông nghiệp. Hà Nội.
7. Phạm Sỹ Lăng và Hoàng Văn Năm, 2012.
Bệnh truyền lây từ động vật sang người. Nxb
Nông nghiệp.
8. Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ và Nguyễn Thị
Lê, 1977. Giun sán ký sinh ở động vật Việt
Nam. Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
9. Requena I1, Jiménez Y, Rodríguez N,
Sandoval M, Alcala F, Blanco Y, Devera R,
2007. Enterobius vermicularis in preschool
children from a suburban area in San Félix,
Bolívar State, Venezuela. Invest Clin,
Sep;48(3):277-86.
10. Skrjabin K.I và Petrov A.M, 1979. Nguyên
lý môn giun tròn thú y. Do Bùi Lập, Đoàn
Thị Băng Tâm và Tạ Thị Vịnh dịch từ tiếng
Nga, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
11. Viroj Wiwanitkit, 2013. The first report of
new species: Trichuris landak n. Sp. Asian
Pac. J. Trop. Biomed., 3: 85–88.
12. Võ Đình Sơn, 2007. Đại cương về phòng trị bệnh
động vật hoang dã. Thảo cầm viên Sài Gòn.
13. Youssefi M.R., S.H. Hoeini, M.T. Rahimi
and B. Esfandiari, 2010. Trichuris hystricis,
a Whipworm from Hystrix indica in Iran.
World journal of zoology, 5: 244-245.
Ngày nhận 20-10-2017
Ngày phản biện 15-11-2018
Ngày đăng 1-6-2018
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tinh_hinh_nhiem_giun_tron_tren_nhim_hystrix_brachyura_nuoi_t.pdf