Kết luận
Sử dụng chất tạo nạc mà phổ biến là
Salbutamol, Clenbuterol trong chăn nuôi hiện
nay đang là vấn đề nóng của nước ta. Lợn ăn thức
ăn có chứa các chất này sẽ tăng trọng nhanh, tỉ
lệ nạc cao, thịt có màu đỏ tươi. Tuy nhiên thịt
lợn chứa dư lượng Salbutamol, Clenbuterol gây
ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người tiêu dùng như
làm tăng huyết áp, tim đập nhanh, nhức đầu, tay
chân run, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa. Mặc dù
vậy, một số người chăn nuôi và các thương lái,
vì lợi nhuận đã bất chấp sức khỏe của người tiêu
dùng, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, gây
hoang mang trong dư luận. Trong nghiên cứu
này, chúng tôi đã tìm thấy được sự có mặt của
các chất Clenbuterol, Salbutamol tồn dư trong
thức ăn, nước tiểu và thân thịt heo trên địa bàn
thành phố Kon Tum. Điều này đã dấy lên một
hồi chuông báo động về tình trạng vệ sinh thú
y, về an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố
Kon Tum không đảm bảo. Vì vậy, để đảm bảo
sức khỏe cho người dân, lấy lại niềm tin của
người tiêu dùng vào ngành chăn nuôi lợn cũng
như đảm bảo tính công bằng cho những người
chăn nuôi chân chính, việc nghiên cứu phát
triển quy trình phân tích, kiểm tra hàm lượng
Salbutamol, Clenbuterol có trong thức ăn chăn
nuôi và các đối tượng chăn nuôi, thực phẩm. là
cần được nghiên cứu chuyên sâu và đưa ra giải
pháp hiệu quả để khắc phục tình trạng tồn dư
hoá chất trong sản phẩm chăn nuôi, bảo vệ sức
khoẻ người tiêu dùng./.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 30 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tình hình sử dụng các chất cấm clenbuterol, salbutamol thuộc nhóm beta agonist trong chăn nuôi heo tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
81
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
Kon Tum, nằm trong khu vực 5 tỉnh Tây
Nguyên với diện tích đất đai rộng lớn, thảm thực
vật phong phú và đa dạng, xanh tốt quanh năm
đã tạo điều kiện cho việc phát triển nông nghiệp,
đặc biệt là phát triển trong lĩnh vực chăn nuôi.
Gần đây, cùng với sự phát triển vượt bậc của
nền kinh tế, ngành chăn nuôi ở Việt Nam nói
chung và ở Kon Tum nói riêng đã có những
bước phát triển mạnh mẽ, các tiến bộ khoa học
kỹ thuật đã đưa vào ứng dụng trong thực tiễn
sản xuất từ khâu cải tạo con giống, nâng cao
chất lượng thức ăn đến việc hoàn thành quy trình
chăm sóc nuôi dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu
thực phẩm ngày càng cao của xã hội, góp phần
không nhỏ cho nền kinh tế của tỉnh nhà. Các sản
phẩm của động vật như thịt, trứng, sữa không
những đáp ứng nhu cầu trong tỉnh mà còn từng
bước chiếm lĩnh thị trường trong nước và ngày
càng vươn xa hơn trên thế giới.
Tuy nhiên, việc kiểm soát tình hình lạm dụng
các hóa chất trong chăn nuôi trên các sản phẩm
của động vật trong tỉnh chưa được kiểm soát
một cách chặt chẽ, nên đã gây ô nhiễm không
nhỏ đến chất lượng sản phẩm động vật, ảnh
hưởng lớn đến sức khỏe của người tiêu dùng.
Tình trạng lạm dụng chất kích thích tăng
trưởng trong chăn nuôi khá phổ biến, điển hình
là Clenbuterol và Salbutamol. Đây là những hóa
chất thuộc nhóm Beta Agonist. Trong y học,
chúng có tác dụng làm giãn phế quản, là dược
phẩm dùng để trị bệnh hen suyễn. Trong chăn
nuôi, một bộ phận người dân trộn hai chất này
vào thức ăn gia súc, gia cầm nhằm kích thích
tăng trọng, tăng tỷ lệ nạc, giảm mỡ và thu được
nhiều lợi nhuận. Tuy nhiên, việc ăn phải những
thực phẩm có tồn dư Clenbuterol, Salbutamol
gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng
như rối loạn nhịp tim, đau tim, tim đập nhanh,
tăng huyết áp, choáng váng, run cơ, phù nề.
Ngày 4 tháng 9 năm 2014, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư
28/2014/TT-BNNPTNT về danh mục gồm 22
hóa chất, kháng sinh cấm nhập khẩu, sản xuất,
kinh doanh và sử dụng trong thức ăn chăn nuôi
gia súc, gia cầm tại Việt Nam; sau đó thông tư số
42/2015/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 11 năm
2015 đã bổ sung thêm 5 loại hoá chất và kháng
sinh không được sử dụng trong thức ăn chăn
nuôi gia súc, gia cầm. Như vậy, đến nay đã có
27 loại hoá chất, kháng sinh cấm sản xuất, kinh
doanh và sử dụng trong thức ăn chăn nuôi, trong
đó cấm tuyệt đối Clenbuterol và Salbutamol
dùng để kích thích tăng trưởng (tạo nạc, tăng
trọng) cho gia súc, gia cầm. Thế nhưng việc sử
dụng bất hợp pháp các loại hợp chất này vẫn
rộng rãi trên thị trường chăn nuôi ở Việt Nam,
trong đó có tỉnh Kon Tum.
Đứng trước thực tế nan giải đó, để có nguồn
thực phẩm (đặc biệt là nguồn thực phẩm có
nguồn gốc động vật) đảm bảo về chất lượng,
về vệ sinh an toàn thực phẩm là một nhu cầu
thiết yếu của tỉnh. Để tìm ra được giải pháp hợp
lý và có chiến lược lâu dài trong định hướng
phát triển chăn nuôi và công tác kiểm soát chất
lượng thịt gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh nói
chung và tại thành phố Kon Tum nói riêng phù
hợp với xu hướng phát triển chung của xã hội
là một vấn đề cấp thiết. Vì vậy, chúng tôi tiến
hành đề tài: “Nghiên cứu tình hình sử dụng các
chất cấm Clenbuterol, Salbutamol thuộc nhóm
Beta Agonist trong chăn nuôi heo tại thành phố
Kon Tum, tỉnh Kon Tum”, nhằm đóng góp cơ
sở khoa học về tình hình sử dụng chất kích thích
TÌNH HÌNH SÖÛ DUÏNG CAÙC CHAÁT CAÁM CLENBUTEROL, SALBUTAMOL
THUOÄC NHOÙM BETA AGONIST TRONG CHAÊN NUOÂI HEO
TAÏI THAØNH PHOÁ KON TUM, TÆNH KON TUM
Thái Thị Bích Vân
Khoa Kỹ thuật nông nghiệp, Phân hiệu ĐHĐN tại Kon Tum
82
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
Bảng 1. Tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn TP. Kon Tum giai đoạn 2013-2017
Đơn vị tính: con
Năm
Số lượng tổng đàn gia súc, gia cầm
Trâu, bò Heo Gia cầm
2013 18851 41168 283420
2014 17237 42955 244862
2015 18034 41367 276145
2016 16912 40568 312298
2017 18246 37426 221792
tăng trọng trong chăn nuôi, sản xuất và đưa ra
giải pháp cấm sử dụng hoạt chất này, nâng cao
hiểu biết của người chăn nuôi và người tiêu
dùng.
1. Tình hình chăn nuôi trên địa bàn Tp. Kon Tum
Trong giai đoạn 5 năm từ năm 2013- 2017,
tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa
bàn thành phố Kon Tum có những chuyển
biến về mặt số lượng được thông qua bảng
tổng hợp sau:
Theo kết quả tổng hợp từ bảng 1 cho thấy
tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa
bàn Thành phố Kon Tum có những thay đổi
với nhiều nguyên nhân khách quan và chủ
quan. Đàn trâu bò không giảm nhiều trong giai
đoạn 2013 – 2017, nếu năm 2013 tổng số đàn
trâu bò là 18851 con, thì đến đầu năm 2017 là
18246 con, chỉ giảm 605 con; đối với đàn heo
năm 2013, tổng đàn 41168 con, đến năm 2017
là 37426 con, giảm 3742 con; với đàn gia cầm
năm 2013 tổng đàn 283420 con, đến năm 2017
là 221792 con, giảm 61628 con.
2. Tình hình chăn nuôi heo trên địa bàn
thành phố Kon Tum
Để phân tích một cách khách quan và cụ thể
về tổng đàn heo trên địa bàn thành phố Kon
Tum, chúng tôi tiến hành phân loại đàn heo
qua các năm. Số liệu cụ thể được tổng hợp qua
bảng sau:
Bảng 2. Tổng đàn heo giai đoạn 2013-2017
Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Heo nái 9280 8710 9361 3779 3722
Heo thịt 31804 34161 31923 36696 33603
Heo đực giống 84 84 83 93 91
Tổng đàn 41168 42955 41367 40568 37426
Kết quả từ khảo sát điều tra về tình hình chăn
nuôi heo trên địa bàn thành phố Kon Tum phân
loại theo các đối tượng nuôi ở bảng 2 cho thấy
có sự phân hoá rõ rệt, có thể thấy rằng đối với
heo nái giai đoạn từ năm 2013-2015 số lượng
đàn heo tương đối ổn định, tuy nhiên trong năm
2016 và 3 tháng đầu năm 2017, số lượng đàn
heo nái giảm mạnh từ 9361 con (năm 2015)
giảm còn 3732 con (năm 2017) (giảm 39,87%
tổng đàn heo nái). Nguyên nhân trong giai đoạn
2013-2015 tổng đàn heo nái tăng cao có thể do
giá heo giống ngày một tăng, giá con giống có
thời điểm mua vào từ 900.000 – 1.200.000đ/
con/10 kg, do đó người dân đã chủ động giữ
83
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
lại hay mua thêm lợn nái sinh sản để đầu ra con
giống được cao hơn, kéo theo đó là việc đầu tư
kinh phí xây dựng chuồng trại, thuê nhân công,
kỹ thuật chăn nuôi, thức ăn,.... ngày càng tăng.
Theo số liệu từ Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh
Kon Tum, trong giai đoạn từ năm 2013 đến nay
trên địa bàn thành phố đã có 3 trang trại và trên
1.000 hộ chăn nuôi heo nhỏ lẻ từ 5- 7 con tại 21
xã, phường trên địa bàn. Trong đó các trang trại
được đầu tư xây dựng với quy mô đàn từ 200-
500 con nái, 200 con nuôi thịt trở lên, đầu tư
trang thiết bị, công nghệ phục vụ cho chăn nuôi
heo hiện đại đã góp phần nâng cao năng suất và
chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm sau khi
xuất ra thị trường.
3. Điều kiện vệ sinh thú y của các cơ sở giết
mổ, quầy bày bán thịt heo ở các chợ trên địa
bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum
Hiện nay trên cả nước nói chung và tại thành
phố Kon Tum nói riêng, điều kiện vệ sinh của
các quầy bày bán thịt heo còn nhiều bất cập và
hầu như sự quản lý của các cơ quan chức năng
không được chặt chẽ.
Theo số liệu thống kế từ Sở NN&PTNT tỉnh
Kon Tum, hiện tại thành phố Kon Tum có 65 cơ
sở giết mổ nhỏ lẻ hoạt động trên địa bàn 21 xã,
phường, do thành phố chưa đầu tư xây dựng lò
giết mổ tập trung, nên việc hình thành nhiều cơ
sở giết mổ tự phát ngày một tăng, so với năm
2013 trên địa bàn thành phố có 42 cơ sở, đến năm
2017 đã tăng thêm 23 cơ sở. Do chưa có lò giết
mổ tập trung nên việc quản lý 65 cơ sở, hộ dân
giết mổ lợn nhỏ lẻ rất khó khăn, lực lượng Thú y
rất mỏng, chỉ quản lý, kiểm tra tại các cơ sở giết
mổ số lượng lớn và thường xuyên, còn các cơ sở,
hộ dân giết mổ nhỏ lẻ không thường xuyên thì
không thể kiểm soát hết, do đó sẽ tiềm ẩn nhiều
nguy cơ về an toàn thực phẩm từ khâu giết mổ
đến khi đưa ra thị trường và đến tay người tiêu
dùng, trong đó sẽ bỏ qua các khâu kiểm tra như
kiểm tra thể trạng gia súc trước khi giết mổ, vệ
sinh thân thịt sau giết mổ hay có các dấu hiệu về
dịch bệnh, gia súc đã sử dụng các chất cấm,.
Tình hình mua bán, giết mổ, tiêu thụ sản
phẩm gia súc gia cầm trên địa bàn Thành phố
Kon Tum rất sôi nổi; sức tiêu thụ sản phẩm tại
các chợ tương đối mạnh. Theo thống kê của
chúng tôi, tại 3 chợ trên địa bàn thành phố (chợ
Duy Tân, Kon Tum, chợ trời phường Thắng
Lợi) có khoảng 50 quầy thịt bán lẻ. Hàng ngày
có hàng trăm con gia súc, gia cầm được đưa ra
tiêu thụ, song việc kiểm soát giết mổ, vệ sinh
thú y lại chỉ được gần 1/3.
4. Tình hình sử dụng chất cấm Clenbuterol,
Salbutamol trong chăn nuôi heo tại Thành
phố Kon Tum
Kiểm tra bằng việc đánh giá sự tồn tại của
các chất Clenbuterol, Salbutamol thuộc nhóm
β-agonist trong thức ăn chăn nuôi, nước tiểu
và thịt heo theo phương pháp kiểm tra nhanh
bằng bộ Biopanda Clenbuterol, Ractopamine
and Salbutamol Rapid Test Kit. Đây là một thử
nghiệm bán định lượng, phát hiện dư lượng
Clenbuterol, Ractopamine và Salbutamol trong
thực phẩm. Ngưỡng phát hiện: Clenbuterol 10
ppb, Salbutamol 10 ppb.
4.1. Kết quả kiểm tra tồn dư chất cấm
Clenbuterol, Salbutamol trong thức ăn cho
heo tại thành phố Kon Tum
Để kiểm tra chất cấm Clenbuterol,
Salbutamol có tồn tại trong thức ăn hay không,
chúng tối tiến hành lấy mẫu cám (thức ăn cho
heo) ngẫu nhiên tại 2 cơ sở kinh doanh thức ăn
chăn nuôi lớn, 25 hộ gia đình chăn nuôi heo và 3
trang trại trên địa bàn thành phố Kon Tum. Kết
quả được thể hiện ở bảng sau:
Kết quả cho thấy sự hiện diện của 2 loại chất
cấm Clenbuterol (1/30 mẫu, chiếm tỷ lệ 3,33
%) và Salbutamol (1/30 mẫu, chiếm tỷ lệ 3,33
%) thuộc nhóm Beta Agonist trong thức ăn cho
heo, sau khi kiểm tra bằng test thử nhanh tại
các trang trại, hộ chăn nuôi tại thành phố Kon
Tum. Có thể nhận định rằng trong thức ăn của
gia súc, các công ty sản xuất đã bổ sung một
phần các chất cấm để nhằm mục đích tăng trọng
và tạo nạc cho gia súc, trong đó có heo thường
xuyên hay dùng các sản phẩm này. Theo thực tế
điều tra, hầu hết thức ăn cho heo được các hộ và
84
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
trang trại đều mua từ các cơ sở, đại lý cấp 1 tại
thành phố và một phần do các công ty trực tiếp
cung cấp vận chuyển đến tận chuồng nuôi.
4.2. Kết quả kiểm tra chất cấm Clenbuterol,
Salbutamol thuộc nhóm Beta Agonist tồn dư
trong nước tiểu heo tại các trại chăn nuôi
Tương tự cách lấy mẫu thức ăn, chúng tôi
cũng tiến hành lấy ngẫu nhiên mẫu nước tiểu
trực tiếp trên đàn heo được nuôi tại các trang trại
và hộ chăn nuôi heo trên địa bàn thành phố Kon
Tum, mỗi địa điểm lấy 2 mẫu nước tiểu và lấy
lập lại 2 lần ở 2 thời điểm khác nhau. Kết quả
xét nghiệm được thể hiện qua bảng 4.
Bảng 3. Kết quả kiểm tra tồn dư chất cấm Clenbuterol, Salbutamol thuộc
nhóm Beta Agonist trong thức ăn cho heo
Tổng số
mẫu thức ăn
kiểm tra
Clenbuterol Salbutamol
Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu
dương tính
Tỷ lệ tồn dư
(%)
Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu
dương tính
Tỷ lệ tồn dư
(%)
30 30 1 3,33 30 1 3,33
Bảng 4. Kết quả kiểm tra chất cấm Clenbuterol, Salbutamol
tồn dư trong nước tiểu heo tại các trại chăn nuôi
Tổng
số mẫu
nước tiểu
kiểm tra
Clenbuterol Salbutamol Tổng
số mẫu
dương
tính
Tổng
tỷ lệ
tồn dư
Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu
dương tính
Tỷ lệ
tồn dư (%)
Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu
dương tính
Tỷ lệ
tồn dư (%) (%)
60 30 2 6,66 30 3 10,00 5 8,33
Chúng tôi nhận thấy trong 60 mẫu nước tiểu
được lấy xét nghiệm, có 5/60 mẫu dương tính
với 2 loại chất cấm này với tỷ lệ tồn dư 8,33%,
trong đó có 3/30 mẫu nước tiểu dương tính với
Salbutamol (chiếm tỷ lệ 10%) và 2/30 mẫu nước
tiểu dương tính với Clenbuterol (chiếm tỷ lệ
6,66%).
Kết quả này cho thấy chất cấm đã tồn dư
trong cơ thể vật nuôi, các chất này sẽ đào thải ra
ngoài thông qua nước tiểu nhưng chỉ một hàm
lượng rất nhỏ, phần lớn sẽ tích tụ trong cơ thể,
nhằm giúp cơ thể vật nuôi tăng trọng, tạo nạc.
Tỷ lệ tồn dư chất cấm trong cơ thể heo được
nuôi trên địa bàn thành phố Kon Tum là khá
cao, báo động tình trạng sử dụng các chất cấm
trong thức ăn, tồn dư trong cơ thể vật nuôi là
rất nghiêm trọng, trong khi nhu cầu tiêu thụ thịt
heo trên thị trường ngày càng tăng. Vì vậy cần
có biện pháp và hướng giải quyết triệt để của
các cấp chính quyền có liên quan để bảo vệ sức
khoẻ cho người tiêu dùng, đáp ứng vệ sinh an
toàn thực phẩm cho toàn xã hội.
4.3. Kết quả kiểm tra tồn dư chất cấm
Clenbuterol, Salbutamol trong thịt heo
Để kiểm tra tồn dư chất cấm Clenbuterol,
Salbutamol thuộc nhóm Beta Agonist trong thịt
heo, chúng tôi chia ra các điểm lấy mẫu tại các
lò mổ và tại các chợ trên địa bàn thành phố Kon
Tum. Các mẫu được lấy ngẫu nhiên và đảm bảo
đúng nguyên tắc lấy mẫu. Kết quả được thể hiện
qua bảng số liệu sau:
Kết quả ở bảng 5 cho thấy chất lượng vệ
sinh trên thân thịt không đảm bảo, chất cấm vẫn
tồn dư trong thịt, gây ảnh hưởng lớn đến sức
khoẻ người tiêu dùng. Cụ thể, trong 15 mẫu thịt
85
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
TT Địa điểm lấy mẫu
Tổng
số mẫu
kiểm tra
Clenbuterol Salbutamol
Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu
dương tính
với chất
cấm
Tỷ lệ
nhiễm chất
cấm (%)
Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu
dương tính
với chất
cấm
Tỷ lệ tồn dư
chất cấm (%)
1 Chợ 15 15 0 0,00 15 3 20
2 Lò mổ 15 15 0 0,00 15 2 13,33
Tổng 30 30 0 0,00 30 5 16.67
Bảng 5. Kết quả kiểm tra tồn dư chất cấm Clenbuterol, Salbutamol
thuộc nhóm Beta Agonist trong thịt heo
được lấy từ chợ thì có 3/15 mẫu xét nghiệm cho
kết quả dương tính với Salbutamol, chiếm tỷ lệ
20% và trong kết quả này chúng tôi không tìm
thấy sự xuất hiện chất Clenbuterol tồn dư trong
thịt, đồng thời có 2/15 mẫu thịt lấy từ lò mổ có
kết quả dương tính với Salbutamol, chiếm tỷ lệ
13,33%.
Việc xác định các chất cấm Clenbuterol và
Salbutamol có trong thức ăn chăn nuôi và các
sản phẩm từ thịt heo trên đàn heo nuôi tại thành
phố Kon Tum có ý nghĩa trong việc xác định vai
trò gây ra các bệnh nguy hiểm trên người, góp
phần gây sự chú ý và quan tâm hơn nữa của mọi
người về các chất cấm gây nên, để nhanh chóng
có những biện pháp hữu hiệu ngăn chặn việc sử
dụng các chất cấm trong thời gian tới.
5. Kết luận
Sử dụng chất tạo nạc mà phổ biến là
Salbutamol, Clenbuterol trong chăn nuôi hiện
nay đang là vấn đề nóng của nước ta. Lợn ăn thức
ăn có chứa các chất này sẽ tăng trọng nhanh, tỉ
lệ nạc cao, thịt có màu đỏ tươi. Tuy nhiên thịt
lợn chứa dư lượng Salbutamol, Clenbuterol gây
ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người tiêu dùng như
làm tăng huyết áp, tim đập nhanh, nhức đầu, tay
chân run, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa... Mặc dù
vậy, một số người chăn nuôi và các thương lái,
vì lợi nhuận đã bất chấp sức khỏe của người tiêu
dùng, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, gây
hoang mang trong dư luận. Trong nghiên cứu
này, chúng tôi đã tìm thấy được sự có mặt của
các chất Clenbuterol, Salbutamol tồn dư trong
thức ăn, nước tiểu và thân thịt heo trên địa bàn
thành phố Kon Tum. Điều này đã dấy lên một
hồi chuông báo động về tình trạng vệ sinh thú
y, về an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố
Kon Tum không đảm bảo. Vì vậy, để đảm bảo
sức khỏe cho người dân, lấy lại niềm tin của
người tiêu dùng vào ngành chăn nuôi lợn cũng
như đảm bảo tính công bằng cho những người
chăn nuôi chân chính, việc nghiên cứu phát
triển quy trình phân tích, kiểm tra hàm lượng
Salbutamol, Clenbuterol có trong thức ăn chăn
nuôi và các đối tượng chăn nuôi, thực phẩm... là
cần được nghiên cứu chuyên sâu và đưa ra giải
pháp hiệu quả để khắc phục tình trạng tồn dư
hoá chất trong sản phẩm chăn nuôi, bảo vệ sức
khoẻ người tiêu dùng./.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tinh_hinh_su_dung_cac_chat_cam_clenbuterol_salbutamol_thuoc.pdf