Theo kết quả phân tích, hàm lượng phenol
tổng số của mẫu dịch vỏ thanh long sau cô quay
theo phương pháp TCVN 9745-1, 2013, là 41,41 mg
GAE/100 mL. Điều này chứng tỏ betacyanin trong
dịch chiết vỏ thanh long chứa hợp chất polyphenol,
có khả năng chống oxi hóa. Kết quả này tương
đồng với nghiên cứu của Wo và cs.: tổng hàm
lượng phenol của vỏ là 39,7 ± 5,39 mg GAE/100 g
trọng lượng vỏ tươi. Vỏ quả chứa polyphenol và là
nguồn chất chống oxy hóa tốt. Có thế ứng dụng để
kìm hãm sự phát triển của các tế bào khối u ác tính
[11]. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Naczka và cs.
thì sự khác nhau về hàm lượng phenol ở dịch chiết
phụ thuộc hoàn toàn vào dung môi chiết xuất; các
hợp chất phenol hòa tan trong dung môi hữu cơ tốt
hơn so với nước cất [12]. Trong nghiên cứu trước
đó, nước cất và ethanol đã được khảo sát làm dung
môi chiết betacyanin. Kết quả cho thấy hàm lượng
betacyanin thu được không có sự khác biệt nhiều.
Sử dụng nước cất có thể gây khó khăn trong việc
phân tách các thành phần protein tan trong nước,
nhưng đây là phương pháp đơn giản, chi phí thấp
và đồng thời cũng mang lại hiệu quả như các dung
môi hữu cơ và mục đích của nghiên cứu là thu
nhận betacyanin hướng tới ứng dụng thay thế bột
màu trong thực phẩm. Vì vậy, nước cất được sử
dụng để trích ly betacyanin từ bột vỏ thanh long.
Do đó cũng hạn chế sự hoà tan của phenol từ vỏ
quả dẫn đến làm hàm lượng phenol tổng số không
cao. Điều đó chứng đỏ rằng điều kiện tối ưu tách
chiết betacyanin không phải là điều kiện tối ưu để
tách chiết phenol [13]. Do đó, tùy vào mục đích thu
nhận có thể chọn các loại dung môi khác nhau.
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tối ưu hóa quá trình tách chiết betacyanin từ vỏ quả thanh long (hylocereus undatus) bằng phương pháp vi sóng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 11–20, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5400 11
TỐI ƯU HÓA QUÁ TRÌNH TÁCH CHIẾT BETACYANIN TỪ VỎ QUẢ
THANH LONG (Hylocereus undatus) BẰNG PHƯƠNG PHÁP VI SÓNG
Đào Thị Mỹ Linh*, Nguyễn Thị Quỳnh Mai, Phạm Thị Phương Thùy
Khoa CNSH, Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, 140 Lê Trọng Tấn, P. Tây Thạnh
Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam
* Tác giả liên hệ Đào Thị Mỹ Linh
(Ngày nhận bài: 29-8-2019; Ngày chấp nhận đăng: 13-12-2019)
Tóm tắt. Betacyanin được ứng dụng làm chất màu thực phẩm hoặc mỹ phẩm thay thế chất tạo màu hóa
học. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp tối ưu hóa bề mặt đáp ứng để đánh giá ảnh hưởng đồng
thời của tỉ lệ dung môi:nguyên liệu, thời gian áp dụng vi sóng và pH lên quá trình trích ly betacyanin từ
vỏ quả thanh long. Hàm lượng acid ascorbic bảo quản, phenol tổng số và khả năng khử DPPH của dịch
chiết betacyanin thu nhận ở điều kiện tối ưu đã được đánh giá. Tại điều kiện tối ưu: tỉ lệ dung môi:
nguyên liệu = 53 (v/w); thời gian chiết = 91 (giây) và pH = 5,3, hàm lượng betacyanin thu được là 72,13
(mg/100 g). Dịch chiết được bổ sung acid ascorbic ở nồng độ 0,5% (w/v) có thời gian bảo quản dài nhất.
Khả năng khử gốc tự do DPPH của dịch chiết có giá trị IC50 là 48,02% (v/v); hàm lượng phenol tổng số
là 41,41 mg GAE/ 100 mL.
Từ khóa: betacyanin, bề mặt đáp ứng, DPPH, phenol, vi sóng
Optimization of microwave-assisted extraction of betacyanin
from red dragon fruit peels
Dao Thi My Linh*, Nguyen Thi Quynh Mai, Pham Thi Phuong Thuy
Departement of Biotechnology, Ho Chi Minh City University of Food Industry, 140 Le Trong Tan St.,Tay Thanh Tan
Phu Ward, Ho Chi Minh City, Vietnam
* Correspondence to Dao Thi My Linh
(Received: 29 August 2019; Accepted: 13 December 2019)
Abstract. Betacyanin has been widely used as natural coloring agents and dyes in food and textile
industries to replace conventional toxic chemical pigments. In this study, the extraction of betacyanin
from red dragon fruit peels was optimized using response surface methodology. Betacyanin was
determined as the response to three independent variables, namely the ratio of extraction solvent to
peels, microwave-assisted treatment time, and pH. The effect of acid ascorbic concentration during the
storage of betacyanin extract, the total phenolic content, and DPPH radical scavenging activity were also
investigated. The optimum extraction parameters are as follows: the ratio of extraction solvent to peels
is 53% (v/w); extraction time is 91 s; pH is 5.3, with the betacyanin content being 72.13 mg/100 g peels.
The betacyanin extract supplemented with 0.5% (w/v) ascorbic acid has the longest storage duration.
Total phenolic concentration and DPPH radical scavenging activity (IC50) are 41.41 mg GAE/100 mL
and 48.02 % (v/v), respectively.
Đào Thị Mỹ Linh và CS.
12
Keywords: betacyanin, DPPH, microwave, phenolic, response surface methodology
1 Mở đầu
Trong những năm gần đây, sản lượng thanh
long ở Việt Nam đang tăng lên đáng kể. Các giống
thanh long hiện đang được canh tác gồm thanh
long ruột trắng, ruột đỏ và ruột vàng. Thanh Long
ruột trắng thường được trồng phổ biến ở các tỉnh
nam Trung Bộ và Nam Bộ, nhưng thương hiệu nổi
tiếng nhất là ở Bình Thuận – địa phương có diện
tích thanh long lớn nhất cả nước. Theo thống kê
đến năm 2015, diện tích thanh long của Bình Thuận
là 26.026 ha, tập trung ở các huyện Hàm Thuận
Nam, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình với sản lượng
hàng năm khoảng 500.000 tấn. Phần lớn thanh long
Bình Thuận tập trung cho xuất khẩu (80–85%);
trong đó, xuất khẩu chính ngạch khoảng 2–3%, còn
lại là xuất tiểu ngạch qua Trung Quốc. Châu Á là
thị trường chủ yếu với khối lượng xuất khẩu 6.050
tấn, đạt kim ngạch 4,14 triệu USD; Châu Âu 249
tấn, kim ngạch 554.100 USD; thị trường chủ yếu là
Hà Lan (248 tấn); thị trường Tây Ban Nha và Đức
không đáng kể. Thị trường Châu Mỹ chủ yếu là
Canada với 134 tấn, đạt kim ngạch 235.200 USD.
Thị trường nội địa chỉ tiêu thụ 15–20% sản lượng.
Như vậy, có thể nhận thấy tiềm năng nguyên liệu
thanh long trong nước luôn dồi dào.
Bên cạnh thịt quả thanh long giàu dinh
dưỡng và được quan tâm sử dụng làm đồ uống lên
men, vỏ quả cũng được quan tâm nghiên cứu và
ứng dụng do chứa betacyanin. Betacyanin là dạng
màu tự nhiên, có thể thay thế anthocyanin thương
mại từ củ cải đỏ; đồng thời, betacyanin cũng có giá
trị dược liệu [1] và có tiềm năng tạo ra phụ gia màu
cho thực phẩm và ngành hóa mỹ phẩm [2].
Betacyanin thường được thu nhận từ các loại củ,
quả có màu đỏ như củ dền, thanh long đỏ, củ cải
đỏ Việc tận dụng vỏ thanh long để chiết
betacyanin ứng dụng làm thuốc nhuộm trong
nhiều lĩnh vực góp phần sử dụng được nguồn
nguyên liệu rẻ tiền, đồng thời giải quyết được phụ
phẩm từ quá trình chế biến thanh long.
2 Vật liệu và phương pháp
2.1 Đối tượng
Nghiên cứu thực hiện trên những quả thanh
long ruột trắng (Hylocereus undatus), thu mua tại xã
Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
Quả được chọn không có sâu bệnh, cùng độ chín
sinh lý. Màu vỏ quả được xác định bằng phương
pháp so màu vật rắn. Vỏ quả có giá trị độ màu (h°)
từ 4°11 đến 7°28, độ bão hòa màu (C) từ 28,02 đến
30,41; độ sáng (L) từ 31,73 đến 33,98 được chọn để
lấy vỏ.
2.2 Vật liệu
Hóa chất dùng trong quá trình chiết xuất và
thu nhận bột betacyanin: nước cất 2 lần, acid
ascorbic, acid citric, sodium bicarbonate (Trung
Quốc), 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl (DPPH có
nguồn gốc từ Sigma-Aldrich).
Quá trình xử lý vi sóng được thực hiện với
thiết bị Electrolux EMM2021GW. Máy ly tâm
Hermle Z216M được sử dụng để ly tâm loại bỏ bã,
thu dịch chiết chứa betacyanin và thiết bị cô quay
chân không EYELA N1110 được sử dụng để cô đặc
dung dịch chứa betacyanin. Máy đo quang phổ
Optima SP3000 Nano được sử dụng để đo độ màu
xác định hàm lượng betacyanin, phenol tổng số.
pH được đo trên thiết bị pH InoLab pH 7110.
2.3 Phương pháp
Tối ưu hóa các điều kiện tách chiết betacyanin
bằng phương pháp quy hoạch thực nghiệm
Quá trình xử lý và khảo sát từng yếu tố ảnh
hưởng tới trích ly dịch betacyanin từ vỏ quả thanh
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 11–20, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5400 13
long được công bố trong nghiên cứu trước [3]. Tiếp
theo, quá trình tối ưu hóa được thực hiện bằng
phương pháp bề mặt đáp ứng nhằm đánh giá ảnh
hưởng đồng thời của các yếu tố tác động lên quá
trình trích ly betacyanin từ vỏ quả thanh long. Các
yếu tố được lựa chọn khảo sát là tỉ lệ dung môi:
nguyên liệu (X1), thời gian xử lý vi sóng (X2) và pH
(X3) tại 3 mức (Bảng 1) dựa trên kết quả thực
nghiệm yếu tố đơn, xác định giá trị biên của các
yếu tố chiết [3]. Ma trận thực nghiệm để tối ưu
được thiết kế theo mô hình Box-Behnken [4]. Mô
hình bao gồm 15 thí nghiệm, trong đó có 3 thí
nghiệm lặp lại ở tâm (Bảng 2). Thí nghiệm lặp lại 3
lần đối với mỗi nghiệm thức. Hàm mục tiêu (Y) là
hàm lượng betacyanin sau khi tách chiết (mg/100
g). Phương trình hồi quy được thể hiện như sau:
Y = b0 +b1X1 + b2X2 + b3X3 + b12X1X2 + b13X1X3 + b23X2X3
+ b11X12+ b22X22 + b33X32 + . Trong đó X1, X2, X3 lần
lượt là các yếu tố tỉ lệ dung môi và nguyên liệu,
thời gian xử lý vi sóng, pH của dung môi chiết; b1,
b2, b3 là các hệ số bậc 1; b11, b22, b33 là các hệ số bậc 2;
b12, b23, b13 là các hệ số tương tác của từng cặp yếu
tố X1X2, X1X 3, X2X 3; b0 là hệ số tự do; là sai số ngẫu
nhiên của mô hình hồi quy. Xử lý kết quả thực
nghiệm bằng phần mềm Modde 5.0 để xác định
phương trình hồi quy, độ tin cậy của mô hình hồi
quy, đồng thời tìm ra điều kiện tối ưu để quá trình
trích ly betacyanin đạt giá trị cao nhất.
Khảo sát sự ảnh hưởng của acid ascorbic đến sự
ổn định của chất màu betacyanin theo thời gian
Dịch chiết betacyanin sau quá trình ly tâm
được mang đi cô quay chân không đến khi độ Brix
bằng 2. Chuẩn bị 5 lọ thủy tinh nâu; hút 20 mL dịch
màu betacyanin sau cô quay lần lượt cho vào 5 lọ.
Lần lượt bổ sung acid ascorbic ở các nồng độ 0;
0,25; 0,5; 0,75; 1% (w/v) và khuấy đều đến khi tan
hoàn toàn. Theo dõi hàm lượng betacyanin theo
thời gian 0, 1, 2, 3, 4 tuần.
Bảng 1. Giá trị mã hóa và các mức của ma trận tối ưu
Yếu tố khảo sát Ký hiệu
Giá trị khảo sát
–1 0 1
Tỉ lệ dung môi:nguyên liệu (v/w) X1 40 50 60
Thời gian xử lý vi sóng (giây) X2 80 90 100
pH dung môi chiết X3 4,5 5,0 5,5
Bảng 2. Một số chỉ tiêu của vỏ tươi và bột vỏ thanh long
Chỉ tiêu Vỏ thanh long tươi Bột vỏ thanh long
Màu sắc
h° 4°11–7°28 18°33–19°33
C 28,02–30,41 17,78–19,92
L 31,73–33,98 47,42–51,25
Độ ẩm (%) 91,83–92,78 4,31–4,64
Đào Thị Mỹ Linh và CS.
14
Khả năng khử gốc tự do DPPH
Dựa theo phương pháp của Sharma và cộng
sự [5], đồng thời điều chỉnh một số điểm trên quy
trình (không làm thay đổi bản chất phương pháp):
Hút 5 mL dịch chiết betacyanin tại các nồng độ 100,
80, 60, 40, 20, 0% (v/v) vào các ống nghiệm. Bổ sung
5 mL dung dịch DPPH nồng độ 80 μg/mL vào mỗi
ống nghiệm trên. Ủ 30 phút trong điều kiện không
có ánh sáng. Tiến hành đo mật độ quang (OD) tại
bước sóng 517 nm. Một thí nghiệm song song được
thực hiện với đối chứng là methanol. Tỉ lệ phần
trăm hoạt tính kháng oxy hóa được xác định theo
công thức sau:
Tỉ lệ khử gốc tự do
DPPH (%) =
𝑶𝑫𝐂 − 𝑶𝑫𝐦
𝑶𝑫𝐂
× 𝟏𝟎𝟎
trong đó ODm là giá trị mật độ quang của mẫu dịch
chiết; ODC là giá trị mật độ quang của mẫu đối
chứng.
Từ tỉ lệ % hoạt tính khử gốc tự do DPPH, xây
dựng phương trình tương quan tuyến tính, từ đó
xác định giá trị IC50 (là nồng độ mà tại đó bắt 50%
gốc tự do DPPH) để làm cơ sở so sánh khả năng
kháng oxy hóa giữa các mẫu. Mẫu nào có giá trị
IC50 càng thấp thì hoạt tính kháng oxy hóa càng
cao.
Hàm lượng phenol tổng
Phân tích tại trung tâm Công nghệ Việt Đức
Trường ĐH Công nghiệp thực phẩm thành phố Hồ
Chí Minh dựa theo tiêu chuẩn TCVN 9745–1:2013.
Phenol từ phần mẫu thử của bột betacyanin được
chiết bằng metanol 70% ở 70 °C. Hàm lượng phenol
trong dịch chiết được xác định bằng đo màu với
thuốc thử Folin-Ciocalteu. Thuốc thử này chứa
chất oxi hóa là axit phospho-vonframic. Trong quá
trình khử, các nhóm hydroxy phenol dễ bị oxi hóa.
Chất oxi hóa này sinh ra màu xanh có độ hấp thụ
cực đại ở bước sóng 765 nm. Mật độ quang được
đo trên máy đo quang phổ UV-Vis SP 3000 Nano.
Xác định hàm lượng betacyanin
Hàm lượng betacyanin được xác định bằng
phương pháp quang phổ. Độ hấp thụ của dịch
chiết betacyanin được đo ở 538 nm và xác định
hàm lượng betacyanin bằng định luật Lambert-
Beer. Hàm lượng betacyanin (BC) tính theo mg/100
g chất khô [6].
Phương pháp so màu vật rắn
Màu sắc của bột betacyanin được đo bằng
máy so màu vật rắn CR-400/CR-410 Konica
Minolta. Xác định các giá trị L, h° và C.
ℎ° = [𝑎𝑟𝑐𝑡𝑎𝑛−1(𝑏/𝑎)] ; 𝐶 = √𝒂𝟐 + 𝒃𝟐
trong đó h° (heu) là góc độ để xác định tông màu
(0° hoặc 360° là tông màu đỏ; 90° là tông màu vàng;
180° là tông màu xanh lá; 270° là tông màu xanh
lam); C (Chroma) là độ bão hòa của màu (đậm hoặc
nhạt); L (Lightness) là độ sáng hay tối của màu; a là
trị số của tông màu đỏ; b là trị số của tông màu
vàng.
2.4 Xử lý số liệu
Tất cả các thí nghiệm được lặp lại 3 lần, các
số liệu được ghi nhận và xử lý bằng phần mềm
Microsoft Excel 2016. Đánh giá sự khác biệt có ý
nghĩa giữa các mẫu thí nghiệm được thực hiện
bằng phương pháp thống kê ANOVA và kiểm
định LSD với độ tin cậy 95% bằng phần mềm thống
kê Statgraphic XVI, vẽ đồ thị bằng phần mềm
Origin 8.5.1.
3 Kết quả và thảo luận
Thanh long tươi được rửa sạch. Phần thịt
quả được tách riêng và sử dụng cho nghiên cứu
khác; phần vỏ đã loại tai xanh, cắt nhỏ 3 × 3 cm có
độ ẩm trên 91,83%; sau đó được sấy khô ở 70 °C
trong 16 giờ, độ ẩm đạt dưới 5%. Vỏ khô được xay
bằng máy xay bột khô và rây qua kích thước lỗ 0,4
mm. Bột thu được có giá trị độ màu (h° từ 18°33
đến 19°33, C từ 17,78 đến 19,92; L từ 47,42 đến
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 11–20, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5400 15
51,25) được bảo quản trong túi nhôm ở 4 °C trong
thời gian 1–3 ngày trước khi sử dụng.
3.1 Tối ưu hóa các yếu tố ảnh hưởng tới quá
trình tách chiết betacyanin
Điều kiện tách chiết và kết quả tách chiết
betacyanin từ vỏ thanh long trắng được trình bày
trong Bảng 2.
Để xây dựng mô tả toán học dưới dạng
phương trình hồi quy, cần phải tiến hành xác định
các hệ số của phương trình. Bảng 4 trình bày kết
quả phân tích phương sai ANOVA ảnh hưởng của
các nhân tố chiết đến hàm mục tiêu. Dựa trên kết
quả từ xử lý số liệu, các hệ số b không có ý nghĩa (p
> 0,05) được loại bỏ và phương trình hồi quy (với
X1, X2, X3 là biến mã) thực nghiệm đạt được như
sau:
Y = 70,57 + 2,793 × X1 + 1,606 × X2 + 3,596 × X3 – 5,998
× X12 – 4,615 × X32 + 3,523 × X1 × X3
Kết quả kiểm tra tính tương thích của
phương trình hồi quy với thực nghiệm (Bảng 4) cho
thấy: hệ số xác định của hàm mục tiêu là R2 = 0,969,
chứng tỏ mô hình tối ưu là đáng tin cậy [4]. Giá trị
p của mô hình là 0,003 (<0,05), cho thấy mô hình hồi
quy rất có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95 % [4].
Ngoài ra, trong phần đánh giá Lack of fit, giá trị p
là 0,138 (>0,05), cho thấy mô hình hoàn toàn phù
hợp với các kết quả quan sát [14]. Các hệ số của
phương trình hồi quy cho thấy các nhân tố khảo sát
có ảnh hưởng mạnh đến quá trình tách chiết
betacyanin. Trong đó X1, X3 có nhiều ảnh hưởng
phức tạp khi 2 nhân tố này có tương tác với nhau
và vừa ảnh hưởng tích cực (+) và tiêu cực (–) đến
hàm mục tiêu. X2 ít ảnh hưởng hơn 2 nhân tố còn
lại khi không có tương tác và hệ số b2 khá thấp
(+1,60625). Điều này chứng tỏ thời gian xử lý vi
sóng càng dài thì hiệu quả thu nhận betacyanin
tăng. Tuy nhiên, như đã phân tích về vai trò của X1
và X3 trong phương trình hồi quy, khi tỷ lệ dung
môi:nguyên liệu và pH tăng thì hiệu quả thu nhận
betacyanin tăng, nhưng khi 2 nhân tố này đạt đến
một giới hạn nhất định thì hiệu quả thu nhận
betacyanin sẽ có xu hướng giảm. Phân tích này rất
phù hợp với bản chất của quá trình trong thực tế.
Hình 1 và Hình 2 cũng thể hiện rõ điều này và dễ
dàng nhận thấy có sự xuất hiện miền tối ưu trong
các đồ thị trên. Hiệu quả thu nhận betacyanin tốt
nhất được xác định thông qua chức năng tối ưu hóa
trong phần mềm MODDE 5.0. (Hình 3).
Bảng 3. Thiết kế thực nghiệm theo mô hình Box-Behnken và kết quả tối ưu
Thứ tự thí
nghiệm
Biến mã hóa Biến thực Hàm lượng betacyanin Y
(mg/100 g)
X1 X2 X3 (X1) (X2) (X3)
1 –1 –1 0 40 80 5,0 55,51
2 1 –1 0 60 80 5,0 65,02
3 –1 1 0 40 100 5,0 64,22
4 1 1 0 60 100 5,0 65,66
5 –1 0 –1 40 90 4,5 58,08
6 1 0 –1 60 90 4,5 56,73
7 –1 0 1 40 90 5,5 56,14
8 1 0 1 60 90 5,5 68,88
9 0 –1 –1 50 80 4,5 58,02
Đào Thị Mỹ Linh và CS.
16
Thứ tự thí
nghiệm
Biến mã hóa Biến thực Hàm lượng betacyanin Y
(mg/100 g)
X1 X2 X3 (X1) (X2) (X3)
10 0 1 –1 50 100 4,5 60,67
11 0 –1 1 50 80 5,5 68,20
12 0 1 1 50 100 5,5 69,05
13 0 0 0 50 90 5,0 71,42
14 0 0 0 50 90 5,0 69,78
15 0 0 0 50 90 5,0 70,51
Bảng 4. Phân tích anova của mô hình hồi quy
F p
Phân tích hồi quy 17,6164 0,003
Phân tích “Lack of Fit” 6,42738 0,138
Hình 1. Đồ thị minh họa sự phụ thuộc của hàm mục tiêu Y vào yếu tố khảo sát
Hình 2. Đồ thị minh họa đường đồng mức
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 11–20, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5400 17
Hình 3. Tìm điều kiện tối ưu hóa cho quá trình tách chiết betacyanin trong MODDE 5.0
Kết quả tối ưu cho thấy, khi tổ hợp cả 3 yếu
tố thí nghiệm, hàm lượng betacyanin thu được cao
nhất là 72,13 (mg/100 g) với điều kiện trích ly tỉ lệ
dung môi:nguyên liệu là 53 (w/v), thời gian chiết là
91 giây, pH là 5,3.
3.2 Đánh giá một số tính chất của dịch
betacyanin
Ảnh hưởng của các nồng độ acid ascorbic khác
nhau đến độ bền màu của dịch chiết betacyanin
Kết quả cho thấy tỉ lệ bổ sung acid ascorbic
0,5% (w/v) sẽ bảo quản dịch chiết betacyanin tốt
nhất. Việc sử dụng các chất chống oxi hóa như acid
ascorbic hoặc acid iso-ascorbic với nồng độ từ 0,1%
đến 1,0% giúp ổn định betacyanin trong quả thanh
long [7]. Khi có các tác nhân oxi hóa, acid ascorbic
thay thế betacyanin phản ứng trước, do đó làm
nguyên vẹn hoặc hạn chế phản ứng oxi hóa của
hợp chất màu [8]. Phản ứng thủy phân betacynin
có tính thuận nghịch. Khi thêm acid ascorbic, iso-
ascorbic, meta-phosphoric hoặc acid gluconic vào
dung dịch betanin bị thủy phân thì betacyanin
được tái tạo trở lại và dung dịch sẽ có màu sắc như
ban đầu [9]. Do đó, trong 7 ngày đầu tiên hàm
lượng betacyanin có thể tăng lên như kết quả thí
nghiệm, sau đó thì giảm xuống theo thời gian do
trong quá trình bảo quản, chất màu betacyanin sẽ
dần bị phân hủy. Tuy nhiên, nồng độ acid ascorbic
quá cao sẽ làm cho hàm lượng betacyanin giảm
xuống (1,0%), điều này có thể được giải thích là do
acid ascorbic là một chất lưỡng tính vừa mang tính
Hình 4. Ảnh hưởng của nồng độ acid ascorbic đến hàm
lượng betacyanin theo thời gian
khử, vừa mang tính oxi hóa, nhưng tính khử mạnh
hơn. Khi tác nhân oxi hóa phản ứng hết thì acid
ascorbic sẽ trở thành một chất khử betacyanin làm
giảm hàm lượng betacyanin.
Một số nghiên cứu trước đây cũng có xu
hướng bổ sung acid ascorbic đến một nồng độ
thích hợp; hàm lượng betacynin sẽ tăng và qua
mức đó sẽ giảm [8, 10].
Hàm lượng phenol tổng số (TPC) và đánh giá
khả năng khử gốc tự do DPPH
Trong các cây họ xương rồng, các sắc tố quan
trọng nhất là betacyanin và betaxanthin. Betalain,
bao gồm betacyanin màu đỏ tím và màu vàng
Đào Thị Mỹ Linh và CS.
18
betaxanthin, là các sắc tố hòa tan trong nước tạo
nên màu sắc trong hoa và trái cây. Các betacyanin
được biết đến trong Hylocereus polyrhizus là
betanin. Ngoài ra, các hợp chất polyphenol, thiol,
carotenoid, tocopherol và glucosinolate, thường
thấy trong trái cây, rau và ngũ cốc, có tác dụng bảo
vệ chống lại stress oxy hóa trong cơ thể và duy trì
sự cân bằng giữa các chất oxy hóa và chất chống
oxy hóa để cải thiện sức khỏe con người. Có rất
nhiều những nỗ lực nghiên cứu về hóa học của
betalain ở H. polyrhizus. Tuy nhiên, có rất ít thông
tin về các hợp chất phenol có hoạt động chống oxy
hóa. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định tổng
hàm lượng phenol, khả năng chống oxy hóa và xác
định xem vỏ quả thanh long từ nguồn phụ phẩm
các chất thải từ sản xuất nước trái cây có thể được
sử dụng để thay thế cho các nguồn chất chống oxy
hóa khác nhau trong việc cải thiện sức khỏe con
người [11].
Để xác định khả năng khử gốc tự do
DPPH, dịch chiết betacyanin được pha loãng tại
các nồng độ 10, 20, 40, 60, 80, 100% (v/v) vào các
ống nghiệm. Kết quả ghi nhận được về tỉ lệ hoạt
tính khử gốc tự do DPPH của dịch chiết được trình
bày ở Bảng 5.
Như vậy, theo sự tăng dần nồng độ từ 20
đến 100% (v/v), tỉ lệ hoạt tính khử gốc tự do DPPH
của dịch chiết tăng dần. Điều đó chứng tỏ, khả
năng kháng oxy hóa của cao chiết tăng tỉ lệ thuận
theo chiều tăng nồng độ. Với nồng độ 100% (v/v),
tỉ lệ khả năng khử gốc tự do ở dịch chiết betacyanin
là 88,34%. Phương trình hồi quy đơn giản thể hiện
mối tương quan giữa tỉ lệ hoạt tính khử gốc tự do
DPPH và các nồng độ dịch chiết betacyanin là: y =
0,88 × x + 7,74 (R2 = 0,97) (Hình 5).
Với phương trình trên, giá trị IC50 (nồng độ
ức chế) của hoạt tính khử gốc tự do DPPH của dịch
chiết đã được xác định khi nồng độ dịch chiết là
48,02% (v/v). Nghiên cứu của Wu và cs. [11] trên
đối tượng là thanh long đỏ (Red pitaya, Hylocereus
polyrhizus) cho biết nồng độ của betacyanin là 13,8
± 0,85 mg/100 g. Hoạt tính chống oxy hóa, đo bằng
phương pháp DPPH, có giá trị EC50 (nồng độ hiệu
quả) là 118 ± 4,12 μmol vitamin C/g chiết xuất từ
vỏ khô [11]. Kết quả của nghiên cứu có nồng độ
chất ức chế của dịch chiết cao. Điều này có thể giải
thích do sự khác nhau trong quá trình trích ly dịch
chiết từ betacyanin bởi nước, còn nghiên cứu của
Wu và cs. là tách chiết trong aceton lạnh 80%.
Bảng 5. Tỉ lệ hoạt tính khử gốc tự do DPPH của dịch
chiết betacyanin
Nồng độ dịch chiết
(% v/v)
Tỉ lệ khử gốc tự do DPPH
(%)
10 15,37 ± 1,07a
20 28,58 ± 1,06b
40 48,78 ± 0,62c
60 66,32 ± 0,25d
80 78,41 ± 0,43e
100 88,34 ± 0,30f
Ghi chú: Các ký tự a, b, c, d, e chỉ sự sai khác có ý nghĩa
về mặt thống kê (p < 0,05).
Hình 5. Mối quan hệ giữa nồng độ dịch chiết và khả
năng khử gốc tự do DPPH
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 11–20, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5400 19
Theo kết quả phân tích, hàm lượng phenol
tổng số của mẫu dịch vỏ thanh long sau cô quay
theo phương pháp TCVN 9745-1, 2013, là 41,41 mg
GAE/100 mL. Điều này chứng tỏ betacyanin trong
dịch chiết vỏ thanh long chứa hợp chất polyphenol,
có khả năng chống oxi hóa. Kết quả này tương
đồng với nghiên cứu của Wo và cs.: tổng hàm
lượng phenol của vỏ là 39,7 ± 5,39 mg GAE/100 g
trọng lượng vỏ tươi. Vỏ quả chứa polyphenol và là
nguồn chất chống oxy hóa tốt. Có thế ứng dụng để
kìm hãm sự phát triển của các tế bào khối u ác tính
[11]. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Naczka và cs.
thì sự khác nhau về hàm lượng phenol ở dịch chiết
phụ thuộc hoàn toàn vào dung môi chiết xuất; các
hợp chất phenol hòa tan trong dung môi hữu cơ tốt
hơn so với nước cất [12]. Trong nghiên cứu trước
đó, nước cất và ethanol đã được khảo sát làm dung
môi chiết betacyanin. Kết quả cho thấy hàm lượng
betacyanin thu được không có sự khác biệt nhiều.
Sử dụng nước cất có thể gây khó khăn trong việc
phân tách các thành phần protein tan trong nước,
nhưng đây là phương pháp đơn giản, chi phí thấp
và đồng thời cũng mang lại hiệu quả như các dung
môi hữu cơ và mục đích của nghiên cứu là thu
nhận betacyanin hướng tới ứng dụng thay thế bột
màu trong thực phẩm. Vì vậy, nước cất được sử
dụng để trích ly betacyanin từ bột vỏ thanh long.
Do đó cũng hạn chế sự hoà tan của phenol từ vỏ
quả dẫn đến làm hàm lượng phenol tổng số không
cao. Điều đó chứng đỏ rằng điều kiện tối ưu tách
chiết betacyanin không phải là điều kiện tối ưu để
tách chiết phenol [13]. Do đó, tùy vào mục đích thu
nhận có thể chọn các loại dung môi khác nhau.
4 Kết luận
Với các kết quả thực nghiệm thu được,
nghiên cứu xác định được sự tương tác của các yếu
tố tỉ lệ dung môi:nguyên liệu, thời gian chiết, pH ở
điều kiện tối ưu lần lượt là 53% (v/w), 91 giây và
5,3 cho dịch chiết có hàm lượng betacyanin là 72,13
mg/100 g. Dịch chiết betacyanin được bảo quản tốt
nhất khi có acid ascorbic 0,5% (w/v), có hoạt tính
khử gốc tự do DPPH và chứa hợp chất dạng
phenol. Nghiên cứu là tiền đề cho quá trình thu
nhận betacyanin dạng bột hướng tới có thể bảo
quản lâu và ứng dụng trong bột màu thực phẩm và
son dưỡng môi có màu.
Thông tin tài trợ
Nghiên cứu này do trường Đại học Công
nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh bảo
trợ và cấp kinh phí theo Hợp đồng số 93/HĐ-DCT.
Lời cảm ơn
Chân thành cảm ơn Khoa Công nghệ Sinh
học, bạn nhóm sinh viên 05 DHSH Trần Hạ Nghi,
Huỳnh Thị Duyên, Dương Thị Diễm My, Lê Hoàng
Yến Vy đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành nghiên
cứu này.
Tài liệu tham khảo
1. Celli GB, Brooks MS. Impact of extraction and
processing conditions on betalains and comparison
of properties with anthocyanins — A current
review. Food Research International. 2017;100:501-
509.
2. Moßhammer M, Stintzing F, Carle R. Colour studies
on fruit juice blends from Opuntia and Hylocereus
cacti and betalain-containing model solutions
derived therefrom. Food Research International.
2005;38(8-9):975-981.
3. Đào Thị Mỹ Linh, Nguyễn Thị Quỳnh Mai, Huỳnh
Thị Duyên và Trần Hạ Nghi. Nghiên cứu quá trình
tạo bột màu betacyanin thu nhận từ vỏ quả thanh
long (Hylocereus undatus). Tạp chí Khoa học Công
nghệ và Thực phẩm. 2018;17(1):21-31.
4. Nguyễn Cảnh. Quy hoạch thực nghiệm, Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; 2016.
5. Sharma S, Hullatti KK, Kumar S, Brijesh KK.
Comparative antioxidant activity of Cuscuta reflexa
and Cassytha filiformis. Journal of Pharmacy
Research. 2012;1:441-443.
6. Ramli NS, Ismail P, Rahmat A. Influence of
Conventional and Ultrasonic-Assisted Extraction on
Phenolic Contents, Betacyanin Contents, and
Antioxidant Capacity of Red Dragon Fruit
Đào Thị Mỹ Linh và CS.
20
(Hylocereus polyrhizus). The Scientific World
Journal. 2014;2014:1-7.
7. Woo K, Ngou F, Ngo L, Soong W, Tang P. Stability
of Betalain Pigment from Red Dragon Fruit
(Hylocereus polyrhizus). American Journal of Food
Technology. 2011;6(2):140-148.
8. Wong Y, Siow L. Effects of heat, pH, antioxidant,
agitation and light on betacyanin stability using red-
fleshed dragon fruit (Hylocereus polyrhizus) juice
and concentrate as models. Journal of Food Science
and Technology. 2014;52(5):3086-3092.
9. Bilyk A, Howard M. Reversibility of thermal
degradation of betacyanines under the influence of
isoascorbic acid. Journal of Agricultural and Food
Chemistry. 1982;30(5):906-908.
10. Phan Thị Thanh Quế, Nguyễn Thị Thu Thủy, Tống
Thị Ánh Ngọc, Lê Duy Nghĩa. Ảnh hưởng của điều
kiện chế biến và bảo quản đến sự ổn định màu
betacyanin trong nước ép thịt quả thanh long ruột
đỏ (Hylocereus polyrhizus). Tạp chı ́ Khoa học
Trường Đại học Cần Thơ. 2017;51:16–23.
11. Wu L, Hsu H, Chen Y, Chiu C, Lin Y, Ho JA.
Antioxidant and antiproliferative activities of red
pitaya. Food Chemistry. 2006 03;95(2):319-327.
12. Naczk M, Shahidi F. Extraction and analysis of
phenolics in food. Journal of Chromatography A.
2004 Oct 29;1054(1-2):95-111.
13. Pichayajittipong P, Thaiudom S. Optimum
Condition of Beta-Cyanin Colorant Production from
Red Dragon Fruit (Hylocercus polyrhizus) Peels
using Response Surface Methodology. Chiang Mai
University Journal of Natural Sciences.
2014;13(1):483–496.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
toi_uu_hoa_qua_trinh_tach_chiet_betacyanin_tu_vo_qua_thanh_l.pdf