KẾT LUẬN
Hệ thống nghị định, chính sách hỗ trợ sản
xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản trong thời
gian qua đã được triển khai thực hiện đồng bộ
trên cả nước, đóng vai trò quan trọng trong thúc
đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp. Chính
sách tái cơ cấu nông nghiệp đã định hướng lại
hình thức, cơ chế phát triển sản xuất nông
nghiệp theo hướng quy mô lớn, liên kết và phát
triển theo chuỗi giá trị. Nhằm mục đích thu hút
đầu tư phát triển nông nghiệp, một loại chính
sách thuế phí, tín dụng, bảo hiểm, liên kết, xúc
tiến thương mại, ứng dụng khoa học công nghệ
ra đời, quy định cụ thể đối tượng, mức độ hỗ trợ
cho sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản.
Việc ban hành nghị định chính sách đã góp
phần đưa nông sản Việt có vị thế trên thị trường
quốc tế và khu vực.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực
hiện, một số chính sách còn bộc lộ nhiều bất cập,
chưa thực sự phù hợp với thực tiễn và gây khó
khăn trong công tác thực thi. Chính sách thuế
chưa có sự gắn kết với chính sách kinh tế khác
trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất nông
nghiệp theo hướng sản xuất lớn, chuyên môn
hóa. Chính sách tín dụng, bảo hiểm phụ thuộc
vào quy mô sản xuất nên đối tượng được thụ
hưởng chưa nhiều. Chính sách khuyến khích
doanh nghiệp đầu tư cho nông nghiệp, mức độ
hỗ trợ còn thấp, chưa đủ sức hấp dẫn đầu tư,
thủ tục còn rườm rà, gây cản trở cho doanh
nghiệp trong việc hợp tác xây dựng vùng nguyên
liệu với nông dân.
Vì vậy, để các chủ trương, chính sách hỗ trợ
phát triển sản xuất nông nghiệp phát huy hiệu
quả đối với sự phát triển sản xuất, chế biến,
xuất khẩu nông sản cần rà roát chỉnh sửa
những điểm chưa hợp lý trong các chính sách
thuế phí, chính sách tín dụng, chính sách
khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và chính
sách bảo hiểm nông nghiệp. Cần đẩy mạnh quá
trình tích tụ ruộng đất; miễm giảm thuế, phí
cho doanh nghiệp đầu tư vào khu trọng tâm,
trọng điểm; tăng khả năng tiếp cận tín dụng với
quy mô lớn và dài hạn hơn; giảm bớt các thủ tục
hành chính rườm rà để thu hút doanh nghiệp
đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Các nghiên
cứu tiếp theo cần hướng về đánh giá hiệu quả
từng chính sách cũng như tác động tổng thể của
các chính sách đến quá trình phát triển nông
nghiệp để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện kịp
thời góp phần đưa chính sách vào cuộc sống.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tổng quan một số chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No. 9: 786-793 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(9): 786-793
www.vnua.edu.vn
786
TỔNG QUAN MỘT SỐ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN
VÀ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN
Đinh Cao Khuê1,2*, Nguyễn Thị Thủy3, Trần Đình Thao2
1Công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao
2Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*Tác giả liên hệ: caokhue.phonui@gmail.com
Ngày nhận bài: 10.08.2020 Ngày chấp nhận đăng: 01.09.2020
TÓM TẮT
Sản xuất, chế biến và xuất khẩu trong những năm gần đây đã đem lại những thành công đáng kể, trong đó xuất
khẩu nông sản được coi là một trong những ngành hàng triển vọng của Việt Nam và đang đạt được những thành
công trên một số thị trường khó tính như Mỹ, EU và Nhật Bản. Đóng góp vào những thành công đó là sự ra đời các
chủ chương, chính sách đúng đắn từ tổng thể như chính sách tái cơ cấu nông nghiệp, chính sách đất đai, đến các
cụ thể như chính sách tín dụng cho nông nghiệp, bảo hiểm nông nghiệp, thu hút đầu tư cho nông nghiệp, chính sách
xuất khẩu nông sản. Bài viết này phản ánh tổng quan một số chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông
sản, đồng thời phân tích mặt tích cực, hạn chế, đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ sản xuất, chế
biến và xuất khẩu nông sản trong thời gian tới.
Từ khóa: Chính sách, hỗ trợ sản xuất, chế biến, tiêu thụ, nông sản.
An Overview of Policies to Support Production, Processing and Export
of Agricultural Products in Vietnam
ABSTRACT
In recent years, production, processing and export have brought remarkable successes, of which agricultural
exports are considered one of the promising sectors of Vietnam. Currently, agricultural exports in Vietnam have
successfully achieved fastidious markets such as USA, EU, and Japan. There have been some factors affecting the
successes of Vietnamese agricultural export sector such as agricultural restructuring policies, land policies for
agriculture sectors, and agricultural insurance, investment policies to the agriculture field, and export agricultural policies.
This article provides an overview of policies to support production, processing and export of agricultural products in
Vietnam. In addition, it also analyzes the limitations of agricultural export sector in Vietnam, and gives some suggestions
to improve these supporting policies on production, processing, and agricultural exports in the future.
Key words: Policies, supporting production, processing, consumption, agricultural products.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà
nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách
hỗ trợ sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông
nghiệp nói chung và nông sản nói riêng. Các nghị
định, chính sách được ban hành từ tổng thể như
chính sách tái cơ cấu nông nghiệp, chính sách đất
đai đến các chính sách cụ thể như chính sách tín
dụng, bảo hiểm, thu hút đầu tư cho nông
nghiệp Thực tế cho thấy chủ chương, chính sách
đã góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp với
giá trị sản xuất trên 1ha tăng liên tục từ 43,9
triệu đồng năm 2008 đến 91,9 triệu đồng năm
2018. Giá trị đầu tư cho nông nghiệp tăng từ
39.697 tỷ đồng năm 2008 lên 117.172 tỷ đồng
năm 2018 (Tổng cục Thống kê, 2019), chế biến
nông sản với tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng
hàng năm (khoảng 5-7%), góp phần đưa kim
ngạch xuất khẩu năm 2018 đạt mức kỷ lục 40,3
Đinh Cao Khuê, Nguyễn Thị Thủy, Trần Đình Thao
787
tỷ USD, đứng thứ hai Đông Nam Á, thứ 13 trên
thế giới (Cục chế biến và Phát triển thị trường
nông sản, 2019). Xuất khẩu rau quả đứng thứ ba
trong khu vực Asean, sau Philippines và Thái
Lan, các mặt hàng rau quả của Việt Nam đã xuất
khẩu đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ và đã
thâm nhập vào thị trường khó tính như Mỹ, EU,
Nhật Bản. Mặc dù vậy, chính sách hỗ trợ sản
xuất, chế biến, xuất khẩu nông sản cũng bộc lộ
những hạn chế nhất định như các chính sách
khuyến khích xuất khẩu có khá nhiều, song nằm
ở nhiều văn bản, thuộc các lĩnh vực khác nhau và
mức độ, đối tượng hỗ trợ cũng rất đa dạng. Điều
này làm cho quá trình thực thi gặp nhiều khó
khăn, trong khi cải cách thủ tục hành chính,
nhất là trong lĩnh vực thuế và hải quan còn chậm
(The Asia Fountaion, 2017). Trần Công Thắng
(2019) cũng nêu các khó khăn trong chính sách
tín dụng đối với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị
nông sản xuất khẩu như cách tiếp cận nặng về
lãi suất, các thủ tục, điều kiện vay phức tạp, hay
còn nhiều vướng mắc, hạn chế về thế chấp đất
kèm tài sản. Nguyễn Thị Phong Lan (2017) cũng
cho thấy văn bản về quản lý và điều hành xuất
khẩu nông sản của các cơ quan chức năng vẫn
mang tính chất thủ tục hành chính, việc triển
khai trong thực tế còn yếu kém, nhiều kẽ hở.
Theo Nguyễn Trọng Khương & Trương Thị Thu
Trang (2017), Việt Nam chưa có chính sách phù
hợp nhằm hỗ trợ giảm chi phí vận chuyển hay
kinh phí dành cho hoạt động xúc tiến thương mại
ít và có xu hướng giảm mạnh, cách thức triển
khai không đổi mới, hiệu quả thấp. Do đó, việc rà
soát và đánh giá chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
chế biến và xuất khẩu nông sản có ý nghĩa quan
trọng đối với thúc đẩy phát triển nông nghiệp
theo định hướng xuất khẩu của Việt Nam trong
thời gian tới, đặc biệt với các hiệp định thương
mại tự do thế hệ mới như EVFTA. Bài viết này
phản ánh tổng quan một số chính sách, phân tích
mặt tích cực, hạn chế, đưa ra kiến nghị nhằm
hoàn thiện chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến
và xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong thời
gian tới.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu được
sử dụng trong bài viết chủ yếu được kế thừa và
tổng hợp từ các nghiên cứu đã được công bố trên
sách, báo tạp chí, niên giám thống kê và trang
thông tin điện tử chính thức của các bộ, ngành
liên quan. Những nghị định, chính sách, bài viết
tham khảo từ trang Thư viện pháp luật và sử
dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn (desk
review), phương pháp phân tích cấu trúc và
thực hiện chính sách SCP (Structrure Conduct
Performance) để phân tích nội dung, hạn chế
của nghị định, quyết định. Phương pháp so sách
đối chiếu cũng được sử dụng để so sánh đối
chiếu giữa chính sách và thực tế thực thi chính
sách. Ngoài ra, bài viết sử dụng thông tin phỏng
vấn 63 doanh nghiệp nông nghiệp đánh giá về
một số chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến và
xuất khẩu nông sản theo 5 mức độ với điểm số
tăng dần từ 1 đến 5 (không phù hợp, ít phù hợp,
trung bình, phù hợp và rất phù hợp).
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tổng quan một số chính sách hỗ trợ
sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản
3.1.1. Chính sách tái cơ cấu ngành
nông nghiệp
Để nông nghiệp phát triển bền vững, phát
huy được lợi thế cạnh tranh, thì tái cơ cấu
ngành nông nghiệp là một đòi hỏi cấp bách. Đề
án tái cơ cấu ngành nông nghiệp được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
899/QĐ-TT ngày 10/6/2013 đã xác định định
hướng tái cơ cấu đối với hầu hết các lĩnh vực cụ
thể của ngành nông nghiệp. Quyết định số
339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 của Thủ tướng
Chính phủ là một trong những định hướng tái
cơ cấu các ngành sản xuất được đặt ra là kết nối
sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến,
bảo quản và xuất khẩu, tiêu thụ nông sản trên
thị trường, với chuỗi giá trị toàn cầu đối với các
sản phẩm có lợi thế và khả năng cạnh tranh
trên thị trường thế giới.
3.1.2. Chính sách thuế, phí
Năm 2008 với sự ra đời của Nghị quyết 26-
NQ/TW chính sách thuế đối với sản xuất nông
nghiệp thành một thể thống nhất tạo điều kiện
cho phát triển sản xuất nông nghiệp. Nghị định
Tổng quan một số chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản
788
số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013, Thông tư
số 219/2013/TT- BTC hướng dẫn thi hành Nghị
định 209, Chính phủ đã quy định không phải kê
khai, tính nộp thuế GTGT đối với trường hợp
sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa
chế biến. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
(TNDN) số 32/2013/QH13 ngày 19/6/2013, miễn
thuế TNDN từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi,
sản xuất muối của HTX; thu nhập của HTX
hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ở địa bàn
điều kiện kinh tế khó khăn. Điều 4 Luật thuế
thu nhập cá nhân (TNCN) quy định miễn thuế
TNCN đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản
xuất nông nghiệp chưa qua chế biến.
3.1.3. Chính sách thu hút đầu tư vào
nông nghiệp
Nông nghiệp là lĩnh vực nhiều rủi ro, vì vậy
các nhà đầu tư thường thờ ơ với lĩnh vực này, để
thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp, một loạt
chính sách ra đời nhằm thu hút các nhà đầu tư
tham gia vào nông nghiệp. Quyết định số
497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 về Hỗ trợ tín dụng
mua sản phẩm máy móc, thiết bị cơ khí, phương
tiện phục vụ sản xuất và chế biến nông nghiệp.
Nghị định 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 về cơ
chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu
tư vào nông nghiệp, nông thôn như: Miễn, giảm
tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; Hỗ trợ doanh
nghiệp nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng nông
nghiệp công nghệ cao; Hỗ trợ đầu tư cơ sở bảo
quản, chế biến nông sản; sản xuất sản phẩm phụ
trợ. Nghị quyết 53/NQ-CP ngày 17/07/2019 của
Chính phủ về giải pháp khuyến khích đầu tư vào
nông nghiệp hiệu quả, an toàn và bền vững.
3.1.4. Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là một trong những
công cụ quan trọng để phát triển nông nghiệp,
ngày 30/3/1999, Thủ tướng Chính phủ ban hành
Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg về một số chính
sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển
nông nghiệp và nông thôn, đây là chính sách
khởi đầu cho sự hỗ trợ tín dụng phát triển nông
nghiệp nông thôn. Tuy nhiên quá trình triển
khai quyết định bộc lộ một số bất cập, đến ngày
12/4/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng thay thế
Nghị Quyết 67/1999/QĐ-TTg, quy định cụ thể
các đối tượng vay vốn phát triển nông nghiệp,
nông thôn. Nghị định cũng cho phép các tổ chức
tín dụng được cho vay không có tài sản đảm bảo
tối đa đến 50 triệu đồng đối với cá nhân, hộ sản
xuất; tối đa đến 200 triệu đồng đối với hộ kinh
doanh, sản xuất phục vụ nông nghiệp; tối đa
500 triệu đồng đối với HTX, chủ trang trại.
3.1.5. Chính sách bảo hiểm
Sản xuất kinh doanh nông nghiệp phụ
thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, trong khi
đó thị trường bảo hiểm nông nghiệp còn rất
khiêm tốn, để giúp nông dân hạn chế những
tổn thất khi rủi ro xẩy ra, Bộ Tài chính ban
hành Thông tư 121/2011/TT-BTC có hiệu lực từ
ngày 1/10/2011 hướng dẫn Quyết định số
315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 của Thủ tướng
Chính phủ. Nhà nước hỗ trợ 100% phí bảo
hiểm cho hộ nông dân, cá nhân nghèo sản xuất
nông nghiệp; hỗ trợ 80% phí bảo hiểm cho hộ
nông dân, cá nhân cận nghèo sản xuất nông
nghiệp; hỗ trợ 60% phí bảo hiểm cho hộ nông
dân, cá nhân không thuộc hộ nghèo, cận nghèo
sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ 20% phí bảo hiểm
cho tổ chức sản xuất nông nghiệp.
3.1.6. Chính sách ứng dụng khoa học
công nghệ
Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày
19/12/2013 của Chính phủ: Hỗ trợ 70% kinh phí
cho thực hiện đề tài nghiên cứu để tạo ra công
nghệ mới, 30% kinh phí đầu tư mới để thực hiện
sản xuất thử nghiệm ứng dụng công nghệ mới
và quy định mức hỗ trợ cụ thể khi đầu tư cơ sở
chế biến nông sản. Nghị định số 109/2018/NĐ-
CP ngày 29/08/2018 của Chính phủ về nông
nghiệp hữu cơ, quy định về sản xuất, chứng
nhận, ghi nhãn, logo, truy xuất nguồn gốc, kinh
doanh, kiểm tra nhà nước sản phẩm nông
nghiệp hữu cơ trong các lĩnh vực trồng trọt,
chăn nuôi, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản
và chính sách khuyến khích phát triển sản xuất
nông nghiệp hữu cơ.
3.1.7. Chính sách khuyến khích liên kết và
xúc tiến thương mại
Nhằm thúc đẩy liên kết, ngày 25/10/2013,
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
Đinh Cao Khuê, Nguyễn Thị Thủy, Trần Đình Thao
789
62/2013/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích
phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn liền với
tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn.
Chính phủ Việt Nam cũng đã tiến hành đàm
phán và ký kết các thoả thuận hay các hiệp định
với Chính phủ Nhật Bản như: Hiệp định đối tác
kinh tế EPA, Hiệp định thương mại tự do AJCEP
giữa các nước ASEAN và Nhật Bản (hiệu lực từ
năm 2008), Hiệp định VJEFA giữa Việt Nam và
Nhật Bản (có liệu lực từ năm 2009), Hiệp định
đối tác xuyên Thái Bình Dương CPTPP (có hiệu
lực 2019), Hiệp định EVFTA (đã được Nghị viện
châu Âu chính thức thông qua 12/2/2020),
Ngoài ra, Chính phủ cũng đã tiến hành xây dựng
các trung tâm xúc tiến thương mại làm công tác
dự báo thị trường, tổ chức thu thập thông tin và
xử lý thông tin để cung cấp cho các doanh nghiệp
kinh doanh xuất khẩu.
3.1.8. Chính sách khuyến khích xuất khẩu
Xuất khẩu nông sản là định hướng cho phát
triển nông nghiệp Việt Nam, ngày 26/8/1998 Bộ
tài chính đã ban hành Thông tư số
83/1998/TT/BTC quy định việc các doanh nghiệp
xuất khẩu rau quả được phép hoàn thuế tiêu
thụ đặc biệt đối với mặt hàng rau quả xuất
khẩu. Nghị quyết số 83/NQ-CP của Chính phủ,
Nghị định số 133/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung
một số Nghị định trước đó về tín dụng đầu tư,
tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Trong đó có
quy định cụ thể “gia hạn thời gian vay vốn lên
tối đa là 36 tháng đối với khoản vay vốn tín
dụng xuất khẩu”.
3.2. Tác động tích cực và hạn chế của các
chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến và
xuất khẩu nông sản
3.2.1. Đánh giá thực thi một số chính sách
từ các doanh nghiệp nông nghiệp
Trong quá trình thực thi chính sách đã bộc
lộ mặt tích cực và tiêu cực, kết quả đánh giá của
doanh nghiệp nông nghiệp về việc ban hành một
số chính sách hỗ trợ chế biến và xuất khẩu nông
sản cho thấy: tính phù hợp, kịp thời và tính đáp
ứng thực tiễn của chính sách tín dụng còn thấp
trong khi chính sách khoa học công nghệ và
chính sách liên kết được đánh giá cao trong việc
thực thi trong thực tiễn.
Đánh giá các tiêu chí cụ thể về chính cách tín
dụng, các doanh nghiệp cho rằng thủ tục vay vốn,
số tiền vay, thời gian giải ngân và lãi suất vay còn
ở mức điểm tương đối thấp thể hiện ít phù hợp
trong thực thi chính sách. Các chỉ tiêu mức thuế,
miễn giảm thuế khi xuất khẩu nông sản và các
tiêu chí về hỗ trợ khoa học công nghệ và thúc đẩy
liên kết được đánh giá mức độ phù hợp cao.
3.2.2. Tác động tích cực của chính sách
Nông sản Việt Nam được ghi nhận có sự tiến
bộ vượt bậc với giá trị sản xuất trên 1ha, tăng
liên tục từ 43,9 triệu đồng năm 2008 đến 91,9
triệu đồng năm 2018. Đầu tư vào nông nghiệp
tăng cả về số doanh nghiệp và vốn đầu tư, năm
2019 cả nước có 2.756 doanh nghiệp nông nghiệp
được thành lập mới, tăng 25,3% so với năm 2018,
nâng tổng số doanh nghiệp nông nghiệp lên
12.581 (tăng 36,23%), đã có 17 dự án đầu tư xây
dựng nhà máy chế biến nông sản lớn với tổng
mức đầu tư trên 20 nghìn tỉ đồng đi vào hoạt
động. Bên cạnh đó, ngành nông lâm ngư nghiệp
đã thành lập mới 6 liên hiệp HTX và 1.800 HTX
nông nghiệp, nâng tổng số lên 45 liên hiệp HTX
nông nghiệp và 15.300 HTX nông nghiệp trên cả
nước. Tỉ lệ HTX tham gia dịch vụ tiêu thụ nông
sản cho xã viên tăng từ dưới 10% trước đây lên
24,5%. Giá trị đầu tư cho nông nghiệp tăng từ
39.697 tỷ đồng năm 2008 lên 117.172 tỷ đồng
năm 2018 (Niên giám thống kê, 2019).
Trong 10 năm qua, công nghiệp chế biến
nông sản của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng
hàng năm đạt khoảng 5-7%, góp phần đưa kim
ngạch xuất khẩu năm 2018 đạt mức kỷ lục 40,3
tỷ USD, đứng thứ hai Đông Nam Á, thứ 13 trên
thế giới với 10 nhóm mặt hàng nông, lâm, thủy
sản có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ đô la Mỹ.
Về sản phẩm rau quả, Việt Nam trở thành nước
xuất khẩu rau quả đứng thứ ba trong khu vực
Asean, sau Philippines và Thái Lan; các mặt
hàng rau quả của Việt Nam đã xuất khẩu đến
nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ (Cục Chế biến
và Phát triển thị trường nông sản, 2019). Nhờ
triển khai đồng bộ các chính sách tín dụng đã
đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp, chính sách thuế đã có những
điểm mới nhằm thúc đẩy đầu tư vào địa bàn
kinh tế khó khăn để tiêu thụ sản phẩm nông
Tổng quan một số chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản
790
sản, ưu đãi để thúc đẩy đầu tư vào kết cấu hạ
tầng nông thôn, ưu đãi để dồn điền đổi thửa
từng bước phát triển nông nghiệp theo hướng
sản xuất hàng hoá. Các chương trình xúc tiến
xuất khẩu và xúc tiến thương mại đã hỗ trợ kịp
thời cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu
các mặt hàng nông sản của Việt Nam ra thị trường
thế giới. Điều này được thể hiện ở bảng 1 và 2.
3.2.3. Những hạn chế của chính sách
Chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến, xuất
khẩu nông sản đã mang lại nhiều tác động tích
cực cho phát triển nông sản Việt Nam. Tuy
nhiên, hiện còn nhiều rào cản kìm hãm sự phát
triển nông nghiệp nói chung và nông sản nói
riêng. Chính sách tập trung tích tụ đất nông
nghiệp như mức thuế và phí liên quan đến
chuyển nhượng đất nông nghiệp bị áp chung
như các bất động sản khác; doanh nghiệp tư
nhân trong nước không được giao đất có thu tiền
sử dụng đất nông nghiệp mà chỉ được thuê đất
để đầu tư sản xuất nông nghiệp; hộ nhận
chuyển nhượng đất lúa phải là hộ nông nghiệp
(Phan Thị Thu Hà, 2019).
Bảng 1. Đánh giá của các doanh nghiệp về việc ban hành một số chính sách hỗ trợ sản xuất,
chế biến và xuất khẩu nông sản theo thang đo likert 5 mức độ
Chỉ tiêu
Nhóm chính sách
Chính sách thuế, phí Chính sách tín dụng Chính sách KHCN Chính sách liên kết
Tính phù hợp 4,5 4,3 4,6 4,7
Tính kịp thời 4,0 3,5 4,1 4,3
Tính đáp ứng 3,8 3,6 4,0 4,1
Bảng 2. Đánh giá của các doanh nghiệp về một số chính sách hỗ trợ sản xuất,
chế biến và xuất khẩu nông sản (% ý kiến)
Chỉ tiêu
Mức độ đánh giá
1 2 3 4 5
Chính sách tín dụng
Thủ tục vay 25,97 19,16 20,13 14,61 20,13
Số tiền vay 24,03 24,35 19,81 14,29 17,53
Thời gian vay 19,81 18,18 27,92 19,81 14,29
Thời gian được giải ngân 24,68 25,32 13,31 11,36 25,32
Lãi suất vay 25,32 15,58 18,51 16,23 24,35
Chính sách thuế, phí
Mức thuế xuất khẩu nông sản 6,82 11,04 31,17 26,95 24,03
Phí làm thủ tục xuất khẩu 5,19 20,78 28,90 32,14 12,99
Miễn giảm thuế phí xuất khẩu 12,66 21,10 29,87 28,90 7,47
Chính sách khoa học công nghệ
Hỗ trợ chứng nhận, công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm 8,77 9,74 25,97 48,05 7,47
Hỗ trợ nâng cao thiết bị bảo quản chế biến 15,58 18,51 41,88 18,83 5,19
Hỗ trợ các kỹ thuật mới 8,44 17,21 31,49 28,25 14,61
Nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới cho hộ nông dân ở vùng nguyên liệu 11,69 21,10 24,35 29,87 12,99
Chính sách liên kết
Lợi ích trong liên kết 4,87 11,04 28,25 36,69 19,16
Vai trò của địa phương trong các mối liên kết 7,47 10,06 28,25 30,52 23,70
Hỗ trợ của Nhà nước trong xây dựng vùng nguyên liên 11,69 27,27 20,45 18,18 22,40
Đinh Cao Khuê, Nguyễn Thị Thủy, Trần Đình Thao
791
Chính sách hỗ trợ cho phát triển nông
nghiệp thủ tục còn rườm rà, gây khó khăn cho
người được hỗ trợ như cả nước chỉ có 35 HTX
được vay gần 70 tỷ đồng vốn từ ngân hàng
thương mại không có tài sản bảo đảm, còn
không ít HTX muốn vay thì các thành viên HTX
phải thế chấp bằng sổ đỏ của gia đình mình nên
chưa bảo đảm nguồn vốn cho HTX hoạt động
(Đào Lan Phương, 2012).
Các chính sách bảo hiểm nông nghiệp còn
nhiều bất cập như được tham gia, thanh toán bảo
hiểm, hộ nông dân, chủ trang trại phải thỏa mãn
điều kiện về quy mô sản xuất, mức độ thiệt hại
Quyết định 315/QĐ-TTg ban hành chính sách
hợp tác công tư, tuy nhiên chương trình này được
coi là một chính sách xã hội, không nhằm mục
đích thương mại để hỗ trợ cho người nông dân và
doanh nghiệp nông nghiệp chủ động khắc phục,
bù đắp thiệt hại tài chính do hậu quả của thiên
tai, dịch bệnh gây ra (Bảng 2).
Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu
tư cho nông nghiệp, mức độ hỗ trợ cho doanh
nghiệp còn thấp, chưa đủ sức hấp dẫn đầu tư và
chưa bảo vệ được doanh nghiệp nông nghiệp
Việt Nam trước sức cạnh tranh của doanh
nghiệp nước ngoài. Nghị định số 210/NĐ-CP về
khoa học công nghệ khi thực thi còn gặp khó
khăn về thủ tục hành chính (16 bước, khoảng 40
văn bản có liên quan), điều 8 của Nghị định
chưa phù hợp với Luật Đất đai 2013.
3.3. Giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ
sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản
3.3.1. Đẩy mạnh quá trình tích tụ ruộng đất
Khuyến khích nông dân, doanh nghiệp tích
tụ đất nông nghiệp phục vụ sản xuất quy mô
lớn, tăng hiệu quả sản xuất nông sản: Xây dựng
và hoàn thiện cơ chế, chính sách tích tụ, tập
trung đất nông nghiệp; Sửa đổi, bổ sung Luật
Đất đai năm 2013 theo hướng bỏ hoặc nới lỏng
hạn chế mức nhận quyền chuyển nhượng quyền
sử dụng đất nông nghiệp để khuyến khích việc
tích tụ ruộng đất cho phát triển nông nghiệp
quy mô lớn. Nhà nước nên quy định chỉ sử dụng
một hình thức là thuê đất; bãi bỏ quy định về
thời hạn giao đất, cho thuê đất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, xóa bỏ sự phân biệt về quyền cho
các chủ thể sử dụng đất; thay thế quyền chuyển
đổi và quyền chuyển nhượng bằng quyền mua
bán; công bố rộng rãi thông tin về từng thửa đất
trên internet; thí điểm bãi bỏ hoặc mở rộng hạn
điền trước khi chính thức sửa đổi Luật Đất đai.
3.3.2. Miễn giảm thuế, phí
Chính phủ nên xem xét lại chính sách thuế,
nên bỏ thuế xuất khẩu hàng nông sản, thuế
nhập khẩu công nghệ ứng dụng cho nông
nghiệp; xem xét miễn thuế cho các doanh
nghiệp đầu tư vào các ngành khu vực trọng tâm,
trọng điểm, miễm giảm thuế cho các hạng mục
Nhà nước khuyến khích. Cần ưu đãi thuế nhiều
hơn cho doanh nghiệp sản xuất các yếu tố đầu
vào cho nền nông nghiệp sạch, thân thiện với
môi trường, các doanh nghiệp chế biến nông sản
và sử dụng nhiều lao động ở khu vực nông thôn.
Cần có chính sách ưu đãi thuế nhằm thúc đẩy
sự liên kết của “4 nhà”, qua đó, thúc đẩy đưa
tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp và phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm nông nghiệp. Nên miễn thuế TNDN
xuống 10% cho doanh nghiệp kinh doanh trong
lĩnh vực chế biến, tiêu thụ trái cây, quy định
thuế GTGT bằng 0% đối với doanh nghiệp chế
biến, đóng gói và tiêu thụ trái cây có đăng ký
thương hiệu.
3.3.3. Đẩy mạnh tín dụng nông thôn
Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý để
phát triển cung ứng đồng bộ các sản phẩm dịch
vụ tài chính mới nhằm tăng khả năng tiếp cận
tín dụng với quy mô lớn và dài hạn hơn cho
nông dân, trang trại, HTX và doanh nghiệp
trong nông nghiệp; xây dựng cơ chế chính sách
kết hợp chặt chẽ giữa các chương trình cho vay
và bảo hiểm nông nghiệp theo chuỗi giá trị nông
nghiệp. Cần sửa đổi, bổ sung Nghị định
55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về chính sách
tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông
thôn theo hướng nâng mức cho vay tối đa không
có tài sản bảo đảm đối với cá nhân, hộ gia đình,
mở rộng đối tượng hưởng chính sách tín dụng
đối với lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, cho
phép sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay của
Tổng quan một số chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản
792
các dự án, phương án ứng dụng công nghệ cao
trong nông nghiệp làm tài sản bảo đảm. Cần
đơn giản hóa các thủ tục và điều kiện vay vốn.
3.3.4. Tăng cường khuyến khích đầu tư vào
nông nghiệp
Nghị định số 57/2018/NĐ-CP, nghị quyết số
53/NQ-CP được xem là yếu tố quan trọng nhất,
thu hút doanh nghiệp đầu tư mạnh vào sản
xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.
Tuy nhiên, khi thực hiện còn có nhiều vướng
mắc trong việc ban hành các quy định đặc thù
của địa phương về hỗ trợ doanh nghiệp, vì vậy
nhanh chóng ban hành các văn bản này sẽ tăng
cường thu hút đầu tư cho nông nghiệp. Do vậy,
cần nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu
cho doanh nghiệp thông qua xúc tiến thương
mại địa phương, triển khai hoạt động hỗ trợ
thiết thực cho các doanh nghiệp và hiệp hội
ngành hàng xuất khẩu theo hướng phát triển
xuất khẩu gắn với xây dựng thương hiệu ngành
hàng, mở rộng thị trường xuất khẩu trong bối
cảnh công nghiệp 4.0.
3.3.5. Phát triển bảo hiểm nông nghiệp
Cần phát triển thị trường bảo hiểm nông
nghiệp để phòng ngừa rủi ro có hiệu quả, xoá bỏ
tâm lý e ngại của các nhà đầu tư đối với mức độ
rủi ro trong sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, cần
ưu tiên triển khai các chương trình bảo hiểm, hỗ
trợ phí bảo hiểm cho các hộ nông dân trong
vùng chuyên canh, có liên kết với doanh nghiệp.
4. KẾT LUẬN
Hệ thống nghị định, chính sách hỗ trợ sản
xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản trong thời
gian qua đã được triển khai thực hiện đồng bộ
trên cả nước, đóng vai trò quan trọng trong thúc
đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp. Chính
sách tái cơ cấu nông nghiệp đã định hướng lại
hình thức, cơ chế phát triển sản xuất nông
nghiệp theo hướng quy mô lớn, liên kết và phát
triển theo chuỗi giá trị. Nhằm mục đích thu hút
đầu tư phát triển nông nghiệp, một loại chính
sách thuế phí, tín dụng, bảo hiểm, liên kết, xúc
tiến thương mại, ứng dụng khoa học công nghệ
ra đời, quy định cụ thể đối tượng, mức độ hỗ trợ
cho sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản.
Việc ban hành nghị định chính sách đã góp
phần đưa nông sản Việt có vị thế trên thị trường
quốc tế và khu vực.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực
hiện, một số chính sách còn bộc lộ nhiều bất cập,
chưa thực sự phù hợp với thực tiễn và gây khó
khăn trong công tác thực thi. Chính sách thuế
chưa có sự gắn kết với chính sách kinh tế khác
trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất nông
nghiệp theo hướng sản xuất lớn, chuyên môn
hóa. Chính sách tín dụng, bảo hiểm phụ thuộc
vào quy mô sản xuất nên đối tượng được thụ
hưởng chưa nhiều. Chính sách khuyến khích
doanh nghiệp đầu tư cho nông nghiệp, mức độ
hỗ trợ còn thấp, chưa đủ sức hấp dẫn đầu tư,
thủ tục còn rườm rà, gây cản trở cho doanh
nghiệp trong việc hợp tác xây dựng vùng nguyên
liệu với nông dân.
Vì vậy, để các chủ trương, chính sách hỗ trợ
phát triển sản xuất nông nghiệp phát huy hiệu
quả đối với sự phát triển sản xuất, chế biến,
xuất khẩu nông sản cần rà roát chỉnh sửa
những điểm chưa hợp lý trong các chính sách
thuế phí, chính sách tín dụng, chính sách
khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và chính
sách bảo hiểm nông nghiệp. Cần đẩy mạnh quá
trình tích tụ ruộng đất; miễm giảm thuế, phí
cho doanh nghiệp đầu tư vào khu trọng tâm,
trọng điểm; tăng khả năng tiếp cận tín dụng với
quy mô lớn và dài hạn hơn; giảm bớt các thủ tục
hành chính rườm rà để thu hút doanh nghiệp
đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Các nghiên
cứu tiếp theo cần hướng về đánh giá hiệu quả
từng chính sách cũng như tác động tổng thể của
các chính sách đến quá trình phát triển nông
nghiệp để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện kịp
thời góp phần đưa chính sách vào cuộc sống.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Tài chính (2015). Thông tư số 96/2015/TT-BTC:
Hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp tại nghị
định 12/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế
và sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư
78/2014/TT-BTC, thông tư 119/2014/TT-BTC,
thông tư 151/2014/TT-BTC do Bộ trưởng Bộ Tài
chính ban hành.
Đinh Cao Khuê, Nguyễn Thị Thủy, Trần Đình Thao
793
Bộ Tài chính (2011). Thông tư số 121/2011/TT-BTC:
Hướng dẫn một số điều của quyết định số 315/QĐ-
TTG ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về
thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn
2011-2013.
Bộ Tài chính (2011). Thông tư số 99/2011/TT-BTC:
Hướng dẫn quản lý tài chính đối với việc thực hiện
thí điểm bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
Bộ Tài chính (2011). Thông tư số 219/2013/TT-BTC:
Hướng dẫn thi hành luật thuế giá trị gia tăng và
nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
HÀNH MỘT số điều luật thuế giá trị gia tăng.
Chính Phủ (2010). Nghị định số 41/2010/NĐ-CP: Về
chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông
nghiệp, nông thôn.
Chính phủ (2013). Nghị định số 209/2013/NĐ-CP: Quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
luật thuế giá trị gia tăng.
Chính phủ (2013). Nghị định số 210/2013/NĐ-CP: Về
chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào
nông nghiệp, nông thôn.
Chính phủ (2015). Nghị định 55/2015/NĐ-CP: Sửa đổi,
bổ sung một số điều của nghị định số 55/2015/NĐ-
CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của chính phủ về
chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông
nghiệp, nông thôn.
Chính phủ (2015). Nghị định 118/2015/NĐ-CP: Quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
luật đầu tư.
Chính phủ (2018). Nghị định số 109/2018/NĐ-CP: Về
nông nghiệp hữu cơ.
Chính phủ (2018). Nghị định số 57/2018/NĐ-CP : Về
cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu
tư vào nông nghiệp, nông thôn.
Chính phủ (2018). Nghị định số 58/2018/NĐ-CP: Về
bảo hiểm nông nghiệp.
Chính phủ (2019). Nghị quyết số 53/NQ-CP: Về giải
pháp khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư
vào nông nghiệp hiệu quả, an toàn và bền vững.
Chính phủ (2002). Quyết định số 110/2002/QĐ-TTg:
Về việc lập, sử dụng và quản lý qũy bảo hiểm xuất
khẩu ngành hàng.
Chính phủ (2013). Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg: Về
chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên
kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng
cánh đồng lớn.
Chính phủ (2013). Quyết định số 339/QĐ-TTg: Phê
duyệt đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với
chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng
cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh
giai đoạn 2013-2020.
Chính phủ (2011). Quyết định số 315/QĐ-TTg: Về việc
thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn
2011-2013.
Chính phủ (2017). Nghị quyết số 30/ NQ-CP: Phiên
họp chính phủ thường kỳ tháng 02 năm 2017.
Chính phủ (2019). Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg
ngày 26/6/2019: về thực hiện chính sách hỗ trợ bảo
hiểm nông nghiệp.
Cục chế biến và phát triển thị trường nông sản (2019).
Báo cáo tổng kết năm 2019
Đào Lan Phương (2012). Chính sách tài chính đối với
sự phát triển của nông nghiệp, nông dân và nông
thôn Việt Nam, thực trạng và giải pháp. Tạp chí
Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp. 1.
Hiệp hội Rau quả (2019). Báo cáo tổng kết năm 2019
Lê Xuân Trường (2012) Chính sách thuế với “tam
nông”: cơ sở lý luận và thực tiễn Việt Nam. Tạp
chí Tài chính. 8.
Nguyễn Trọng Khương, Trương Thị Thu Trang
(2017). Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất
khẩu nông sản của Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp. 14(342).
Nguyễn Thị Phong Lan (2017). Quản lý nhà nước đối
với xuất khẩu nông sản ở Việt Nam trong hội nhập
quốc tế. Luận án tiến sỹ. Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh.
Phan Thị Thu Hà (2019). Tích tụ đất trong nông nghiệp
- thực trạng và các kiến nghị chính sách. Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp. 15.
Quốc hội (2013). Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu số
107/2016/QH13 ngày 06/04/2016.
Quốc hội (2013). Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày
29/11/2013.
The Asia Foundation (2011). Báo cáo năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp xuất khẩu trong ba ngành
may mặc, thủy sản và điện tử ở Việt nam. Truy cập
từ https://asiafoundation.org/resources/pdfs/
TAFExportCompetitivefinal.pdf, ngày 01/8/2020.
Trần Công Thắng (2019). Doanh nghiệp Việt Nam
tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Truy cập từ
https://www.ifc.org/wps/wcm/connect/72f0e23b-8
ba0-4105-8c62-4d0f65378a80/3-2-Thang-Vietnam
-to-join-the-global- SCF-VI.pdf?MOD=AJPERES
&CVID= mVwGT53, ngày 01/8/2020.
Tổng cục Thống kê (2019). Niên giám Thống kê Việt
Nam. Nhà xuất bản Thống kê.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tong_quan_mot_so_chinh_sach_ho_tro_san_xuat_che_bien_va_xuat.pdf