NHỮNG HẠN CHẾ VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG
NGHIÊN CỨU
Se mang lại nhiều lợi ích và có thể thay thế
các loại kháng sinh trong nuôi một số loài cá và
giáp xác. Tuy nhiên những nghiên cứu về vai
trò của Se còn nhiều hạn chế, hiểu biết về nhu
cầu Se chỉ được biết đến ở một số loài cá nuôi
(cá giò, cá tráp đỏ, cá da trơn Ictalurus
punctatus, cá chẽm, cá chim vây vàng, cá hồi
vân, cá chép Cyprinus carpio L., cá hồi Đại
Tây Dương, cá rô phi, cá trê phi, cá bơn, cá mú
Epinephelus malabaricus, cá tráp đầu vàng, cá
hồi Chinook, cá tuế đầu bẹp, cá striped bass, cá
bluegill, cá diếc) và giáp xác (tôm càng xanh,
tôm thẻ chân trắng, tôm hùm nước ngọt, tôm
hùm nước ngọt) được tổng quan như trên. Vai
trò của Se đối với các đối tượng nuôi thủy sản
ở Việt Nam mới chỉ được nghiên cứu trên cá
chẽm, cá chim vây vàng và cá khoang cổ nemo.
Đến nay, vai trò của Se lên một số đối tượng
nuôi có giá trị kinh tế tại Việt Nam vẫn còn
nhiều hạn chế, Se ảnh hưởng như thế nào đối
với cá bớp, cá chim vây ngắn, cá chẽm mõm
nhọn, tôm sú, cua xanh, tôm hùm xanh hay tôm
hùm bông vẫn chưa được biết đến.
Để đạt được năng suất cao trong nuôi các
đối tượng thủy sản, hiệu quả sử dụng của Se và
các hướng nghiên cứu ưu tiên cần phải được
xác định dựa trên liều lượng, phương thức áp
dụng và vai trò của Se trong nuôi một số loài cá
(cá giò, cá tráp đỏ, cá da trơn Ictalurus
punctatus, cá chẽm, cá chim vây vàng, cá hồi
vân, cá chép Cyprinus carpio L., cá hồi Đại
Tây Dương, cá rô phi Oreochromis niloticus,
cá trê phi Clarias gariepinus, cá bơn Solea
senegalensis, cá mú Epinephelus malabaricus,
cá tráp đầu vàng, cá hồi Chinook, cá tuế đầu
bẹp, cá striped bass, cá bluegill và cá diếc) và
giáp xác (tôm càng xanh, tôm thẻ chân trắng,
tôm hùm nước ngọt Cherax cainii và tôm hùm
nước ngọt Procambarus clarkii) đã được tổng
quan như trên làm cơ sở khoa học ban đầu cho
những nghiên cứu tiếp theo.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tổng quan về việc sử dụng selen (Se) trong nuôi trồng thủy sản, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
214
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 2; 2018: 214-221
DOI: 10.15625/1859-3097/18/2/8949
TỔNG QUAN VỀ VIỆC SỬ DỤNG SELEN (Se)
TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Hồ Sơn Lâm*, Huỳnh Minh Sang
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
*
E-mail: hslamqt@gmail.com
Ngày nhận bài: 30-11-2016 / Ngày chấp nhận đăng: 2-1-2017
TÓM TẮT: Ảnh hưởng của kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản lên môi trường và sức khỏe con
người đã thúc đẩy các nghiên cứu tìm ra các sản phẩm thay thế. Gần đây, các nguyên tố vi lượng ở
dạng hữu cơ đang được quan tâm sử dụng để thay thế kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản. Selen là
một trong những yếu tố vi lượng được quan tâm nhiều nhất. Báo cáo này tổng quan vai trò của Selen
trong nuôi một số loài cá (cá giò Rachycentron canadum L., cá tráp đỏ Pagrus major, cá da trơn
Ictalurus punctatus, cá chẽm Lates calcarifer, cá chim vây vàng Trachinotus blochii, cá hồi vân
Oncorhynchus mykiss, cá chép Cyprinus carpio L., cá hồi Atlantic Salmo salar, cá rô phi Oreochromis
niloticus, cá trê phi Clarias gariepinus, cá bơn Solea senegalensis, cá mú Epinephelus malabaricus, cá
tráp đầu vàng Sparus aurata, cá hồi Chinook Oncorhynchus tshawytscha, cá tuế đầu bẹp Pimephales
promelas, cá striped bass Morone saxatilis, cá bluegill Lepomis macrochirus, cá diếc Carassius
auratus gibelio) và giáp xác (tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii, tôm thẻ chân trắng Penaeus
vannamei, tôm hùm nước ngọt Cherax cainii, tôm hùm nước ngọt Procambarus clarkii). Báo cáo cũng
đề xuất nghiên cứu tiếp theo về ứng dụng của Selen trong nuôi trồng thủy sản.
Từ khóa: Cá, giáp xác, nuôi trồng thủy sản, Selen.
MỞ ĐẦU
Trong nhiều thập kỷ qua, kháng sinh được
sử dụng ở liều thấp nhằm cải thiện tốc độ tăng
trưởng và sức khỏe của các đối tượng nuôi thủy
sản [1]. Tuy nhiên, gia tăng nhu cầu về thực
phẩm an toàn và sự cần thiết bảo vệ môi trường
sinh thái, thì việc sử dụng kháng sinh, yếu tố
tạo ra các mầm bệnh kháng thuốc và làm suy
thoái môi trường, đang được quan tâm [2]. Việc
cấm sử dụng kháng sinh trong nuôi thủy sản ở
một số nước đã khuyến khích các nghiên cứu
tìm ra và áp dụng các chất thay thế kháng sinh
trong nuôi trồng thủy sản [3]. Trong những
năm gần đây, các nguyên tố vi lượng ở dạng
hữu cơ đang được quan tâm sử dụng để thay
thế kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản.
Khoáng chất và các nguyên tố vi lượng rất cần
thiết cho sinh trưởng bình thường của sinh vật,
trong đó có cá và giáp xác. Selen (Se) là yếu tố
vi lượng cần thiết trong chế độ dinh dưỡng cho
sự sinh trưởng, phát triển và chức năng sinh lý
của cá [4-6]. Se là thành phần của men
glutathione peroxidase [7]. Men glutathione
peroxide tham gia vào quá trình bảo vệ tế bào
chống lại tổn thương oxy hóa tế bào chất bởi
việc xúc tác làm giảm các thành phần hydrogen
peroxide và lipid peroxides [6]. Vai trò quan
trọng nhất của Se là chống oxy hóa. Đặc biệt,
Se dưới dạng selenocysteine liên kết chặt chẽ
với enzyme glutathione peroxidase ở bốn vị trí
hoạt động. Enzyme này đóng vai trò chủ yếu
trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các gốc tự do
và tổn thương oxy hóa. Đồng thời, Se cũng là
một chất oxy hóa rất mạnh và có liên quan đến
quá trình tổng hợp hormone tuyến giáp. Cá có
thể hấp thu Se từ môi trường nước và thức ăn.
Tổng quan về việc sử dụng Selen (Se)
215
Đối với các loài cá sử dụng thức ăn công
nghiệp có thành phần chính là ngũ cốc và các
hạt có dầu như thức ăn cho cá rô phi, cá da
trơn, cá chẽm, dễ dẫn đến trình trạng thiếu
Se [8]. Sự thiếu hụt Se trong thức ăn dẫn tới
việc giảm hàm lượng vitamin E và Se trong mô
cơ, giảm tế bào máu và tăng tỷ lệ phá hủy tế
bào. Tế bào tụy bị tổn thương mạng lưới nội
chất và không bào. Trong gan cá hoạt động của
men glutathione peroxidase thấp, trong khi đó
hoạt động của men glutathione transferase và
pyruvate kinase trong huyết tương tăng lên.
Hoạt động chống oxy hóa của Se cũng làm tăng
chất lượng của thịt của gia súc [9]. Se có nguồn
gốc từ thành phần thức ăn và các hợp chất khác
có chứa Se. Có 2 dạng Se trong tự nhiên gồm
Se vô cơ như Selenite và selenate trong khi đó
selenomethionine, selenium - methyl selen-
omethionine, selenocystine và selenocysteine là
các hợp chất Se hữu cơ (OS). Se hữu cơ có hiệu
quả với chức năng sinh lý tốt hơn Se vô cơ ở
các loài cá như cá da trơn [10] và cá hồi [11].
Dạng hữu cơ thông thường của Se hữu cơ là
selenoyeast và selenomethonine đang được
nghiên cứu sử dụng trong nuôi trồng thủy sản.
Bổ sung Se vào thức ăn đã cải thiện tăng
trưởng [5, 12-20], tỷ lệ sống [5, 8, 15, 17-21]
và khả năng miễn dịch [17-19, 21] của một số
loài cá và giáp xác. Bài báo này tổng quan về
vai trò của Se trong nuôi một số loài cá và giáp
xác, trong đó đề cập đến tăng trưởng, tỷ lệ
sống, sinh lý và khả năng miễn dịch của đối
tượng nuôi.
VAI TRÒ, ỨNG DỤNG VÀ HIỆU QUẢ
CỦA SELEN TRONG NUÔI TRỒNG
THỦY SẢN
Phương thức và liều lượng áp dụng Se trong
nuôi trồng thủy sản. Phương pháp sử dụng Se
phụ thuộc vào đối tượng, giai đoạn và môi
trường nuôi. Trong nuôi thủy sản Se được trộn
vào thức ăn [8, 19-25] hoặc làm giàu thức ăn tự
nhiên (luân trùng) [11, 26, 27]. Se được trộn
vào thức ăn của một số loài cá như cá chẽm
Lates calcarifer [8], cá chim vây vàng
Trachinotus blochii [19, 21], cá hồi vân Salmo
gairdneri [5], cá chép Cyprinus carpio L. [15],
tôm hùm nước ngọt Cherax cainii [18]; tôm
càng xanh Macrobrachium rosenbergii [17] cá
nemo [20] và được làm giàu thức ăn tự nhiên
trong nuôi một số loài cá giai đoạn giống như
cá hồi Đại Tây Dương Gadus morhua [26], cá
tráp đỏ Pagrus major [27].
Liều lượng sử dụng Se trong nuôi trồng
thủy sản là một yếu tố quyết định đến hiệu quả
nuôi. Nếu sử dụng Se dưới mức yêu cầu cần
thiết của cơ thể vật nuôi thường không mang lại
hiệu quả của Se, trong khi nếu sử dụng trên
mức cần thiết giá thành sản xuất sẽ cao, lợi
nhuận giảm, thậm chí gây độc cho đối tượng
nuôi. Hàm lượng vượt mức nhu cầu của Se cho
kết quả tiêu cực như giảm tăng trưởng, giảm
hiệu quả sử dụng thức ăn và tăng tỷ lệ chết của
cá. Nhu cầu Se cho hiệu quả sinh trưởng, sinh
lý và miễn dịch phụ thuộc vào từng loài. Gatlin
và Wilson (1984) cho rằng nồng độ bổ sung
0,25 mg Se/kg thức ăn thích hợp cho cá da trơn
(Ictalurus punctatus) [29]. Watanabe và nnk.,
(1997) cho rằng nhu cầu Se của cá dao động từ
0,15 mg Se/kg đến 0,5 mg Se/kg thức ăn [6].
Hàm lượng bổ sung thích hợp nhất cho loài cá
hồi Đại Tây Dương là 0,15 mg Se/kg thức ăn
[30]. Se bổ sung ở mức từ 0,15 đến 0,38 (tốt
nhất là 0,38) mg/kg thức ăn đã được áp dụng
trong nuôi cá hồi vân [5]; 3,67 mg Se/kg thức
ăn trong nuôi cá trê phi (Clarias gariepinus)
[31]; 0,5 g OS/kg thức ăn (5,54 mg Se/kg thức
ăn) trong nuôi cá rô phi (Oreochromis
niloticus) [32]; 0,5 g OS-Selplex/kg thức ăn
(5,54 mg Se/kg thức ăn) trong nuôi cá chẽm
Lates calcarifer [8]; 0,3 g OS-Selplex/kg trong
nuôi cá chim vây vàng Trachinotus blochii [21].
Hiệu quả của Se trong nuôi trồng thủy sản.
Bổ sung Se vào thức ăn giúp cải thiện tăng
trưởng, tỷ lệ sống, sinh lý, miễn dịch, sinh sản
và giảm stress trên nhiều đối tượng nuôi đã
được chứng minh. Gatlin and Wilson (1984)
cho rằng nồng độ bổ sung 0,25 mg Se/kg thức
ăn cho hiệu quả tốt nhất về tăng trưởng và miễn
dịch của cá da trơn (Ictalurus punctatus) [29].
Một nghiên cứu khác cho thấy, Se bổ sung vào
thức ăn cải thiện tỷ lệ sống và làm giảm bệnh
trên cơ của cá hồi Atlantic Salmo salar. Hàm
lượng bổ sung thích hợp nhất cho loài cá này là
0,15 mg/kg, trong 26 tuần nuôi [30]. Hilton và
nnk., (1980) ghi nhận hoạt động cao nhất của
men glutathione peroxidase trong huyết tương
của cá hồi vân khi thức ăn cho cá chứa từ 0,15-
0,38 mg/kg, nồng độ tốt nhất là 0,38 mg Se/kg
thức ăn [5]. Hàm lượng bổ sung Se vào thức ăn
Hồ Sơn Lâm, Huỳnh Minh Sang
216
ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, tăng trưởng, hệ số
chuyển đổi thức ăn của cá giò và hàm lượng bổ
sung thích hợp nhất là 0,8 mg/kg thức ăn [28].
Bell và nnk., (1987) cho rằng Se là nguyên tố
chính trong cơ chế chống lại tổn thương oxy
hóa tế bào của cá hồi Đại Tây Dương [33].
Chiu và nnk., (2010) kết luận rằng Se tăng
cường chức năng miễn dịch và chống oxy hóa
trên tôm càng xanh [17]. Kết quả nghiên cứu
của Mohsen và Mohammed (2008) cho thấy,
bổ sung 0,5 g OS (OS bổ sung từ Sel-Plex®,
All-Tech, Hoa Kỳ)/kg thức ăn (5,54 mg Se/kg)
sẽ làm giảm độc tính của cadmium (Cd), tăng
tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả sử
dụng thức ăn của cá rô phi Oreochromis
niloticus ở sông Nile [32]. Nghiên cứu của
Mohsen và nnk., (2007) về ảnh hưởng của
Selen hữu cơ OS (OS được bổ sung từ Sel-
Plex®, All-Tech, Hoa Kỳ) lên cá trê phi
Clarias gariepinus với 4 hàm lượng OS là 0,0;
0,1; 0,3; 0,5 g OS/kg thức ăn [31]. Kết quả sau
12 tuần thí nghiệm, với hàm lượng 0,3 g OS/kg
thức ăn (3,67 mg Se/kg) sẽ làm tăng tốc độ tăng
trưởng, khả năng chống chịu với độc tính của
kim loại nặng Cu. Nghiên cứu của
Sritunyalucksana và nnk., (2011), đã chứng
minh OS (0,3 ppm SE) giúp cải thiện tỷ lệ
sống, tốc độ tăng trưởng và khả năng chống
chịu với virus gây bệnh hội chứng Taura trên
tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei [34].
Như vậy, Se có vai trò trong việc kích thích hệ
miễn dịch ở động vật thủy sản. Hunt và nnk.,
(2011) đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của
OS với 2 mg/kg, 3 mg/kg, hoặc 4 mg/kg lên cá
hồi vân Oncorhynchus mykiss. Kết quả cho
thấy rằng bổ sung 3 mg Se/kg thức ăn có hiệu
quả nhất cho sự tăng trưởng và gan hoạt động
enzyme chống oxy hóa trong cá hồi vân [23].
Kết quả trên tương tự với nghiên cứu của
ibeiro và nnk., (2012), thực hiện trên cá bơn
giống Solea senegalensis. Kết quả nghiên cứu
cho thấy Se không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống
(94,7 - 97,7%) của cá bơn giống Solea
senegalensis [35]. Nghiên cứu của Lin and
Shiau (2005) cũng chỉ ra rằng Se làm giàu
không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống (91 - 100%)
của cá mú giống Epinephelus malabaricus [24].
Ngược lại, theo nghiên cứu của Hamre và nnk.,
(2008) thì Se giúp cải thiện tỷ lệ sống của cá
tuyết Đại Tây Dương (tỷ lệ sống tăng 32% so
với lô đối chứng) [26]. Reda và nnk., (2014) đã
tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của Se lên
cá tráp đầu vàng Sparus aurata giai đoạn
giống. Thí nghiệm được tiến hành với 5 mức bổ
sung SE (1,73; 3,91; 6,41; 8,47 và 11,65 mg
Se/kg thức ăn). Kết quả cho thấy, tỷ lệ sống của
cá được cải thiện đáng kẻ ở lô bổ sung 11,65
mg Se/kg thức ăn so với các lô còn lại [36].
Trần Đức Diễn và nnk., (2013) đã tiến hành
nghiên cứu ảnh hưởng của OS lên tăng trưởng,
tỷ lệ sống, thành phần sinh hóa, các chỉ số
huyết học và khả năng kháng lại tác nhân gây
bệnh Vibrio parahaemolyticus trên cá chẽm
Lates calcarifer (Bloch 1790) [8]. Thí nghiệm
được tiến hành trong 50 ngày, với các nghiệm
thức bổ sung 0,0; 0,3; 0,5; 0,7 g OS/kg thức ăn.
Kết quả thí nghiệm cho thấy hàm lượng OS
thích hợp bổ sung vào thức ăn cho cá chẽm là
0,5 g OS/kg thức ăn, bổ sung OS đã cải thiện
tốc độ tăng trưởng, làm tăng hàm lượng protein
thô, giảm độ ẩm trong cơ thịt cá, tăng số lượng
hồng cầu tổng số và tăng khả năng chống chịu
khi tiếp xúc với vi khuần Vibrio
parahaemolyticus ở mật độ 106 CFU/ml. im
và nnk., (2014) đã nghiên cứu ảnh hưởng của
luân trùng được làm giàu bằng Selen lên tăng
trưởng của cá tráp đỏ Pagrus major giai đoạn
giống. Cá thí nghiệm được nuôi từ lúc nở (tỷ lệ
nở 98%) đến 20 ngày sau khi nở với hai thức
ăn khác nhau: Luân trùng không làm giàu Se
(0,0 µg Se/g, đối chứng) và luân trùng làm giàu
bằng Se (2,2 µg Se/g) với mật độ 10 con luân
trùng/ml. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiều
dài toàn thân, chiều dài chuẩn, chiều dài đầu,
đường kính mắt cá tráp đỏ Pagrus major lần
lượt đạt 6,06; 5,74; 1,46; 0,57 và 0,50 mm ở
nghiệm thức cho ăn luân trùng được làm giàu
bằng Se thay vì 5,53; 5,26; 1,28 và 0,50 mm ở
nghiệm thức đối chứng [27]. Điều này cho thấy
Se cải thiện tăng trưởng của cá tráp đỏ Pagrus
major giai đoạn giống, tuy nhiên không có sự
sai khác có ý nghĩa về tỷ lệ giống giữa lô làm
giàu luân trùng bằng Se và lô đối chứng.
Nghiên cứu của Sang và nnk., (2015) về ảnh
hưởng của OS lên tăng trưởng, tỷ lệ sống, điều
kiện sinh lý và huyết học của cá chim vây vàng
(Trachinotus blochii) (trọng lượng trung bình
2,30 ± 0,28) với chế độ ăn bổ sung OS-Selplex
(Selplex, Alltech, Hoa Kỳ) ở các mức 0; 0,1;
0,2; 0,3 và 0,4 g/kg trong 8 tuần. Kết quả
Tổng quan về việc sử dụng Selen (Se)
217
nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ sống đạt kết quả cao
nhất ở lô cho ăn 0,3 g/kg OS-Selplex. Trong
khi đó, tăng trưởng, protein trong cơ và lipid
trong gan ở các lô có bổ sung OS-Selplex cao
hơn so với lô đối chứng. Độ ẩm trong cơ ở các
nghiệm thức cho ăn 0,2, 0,3 và 0,4 g/kg OS-
Selplex thấp hơn các nghiệm thức còn lại. Tỷ lệ
phần trăm thể tích hồng cầu so với thể tích máu
(Ht) của cá cho ăn 0,3 và 0,4 g/kg OS-Selplex
cao hơn so với nghiệm thức còn lại. Tỷ lệ của
monocyte ở nghiệm thức cho ăn 0,2 và 0,3 g/kg
OS-Selplex cao hơn các lô còn lại. Kết quả cho
thấy rằng thức ăn được bổ sung 0,3 g/kg OS-
Selplex giúp cải thiện trưởng và sức khỏe của
cá chim vây vàng [20].
Trong nuôi trồng thủy sản, Se đã được sử
dụng như chất bổ sung để cải thiện tăng trưởng
và sức khỏe của các đối tượng nuôi. Lợi ích của
việc bổ sung Se vào thức ăn lên tăng trưởng,
sinh lý và miễn dịch của một số đối tượng nuôi
thủy sản được thể hiện ở bảng 1.
Hiệu quả của Se được tăng lên khi bổ sung
Se kết hợp với nguyên tố khác trong thức ăn.
Bell và nnk., (1985) báo cáo rằng việc kết hợp
bổ sung Se ở mức 0,9 mg/kg và tocopherol (chất
có đặc tính của vitamin E) ở mức 41 mg/kg có
hiệu quả ngăn chặn sự thiếu hụt Se trong cơ thể
của cá hồi [33 . Poston và nnk., (1976) cho rằng,
kết hợp bổ sung Se và vitamin E có thể ngăn
chặn bệnh về cơ ảnh hưởng đến sự vận động của
cá hồi Atlantic. Tỷ lệ chết của cá hồi giống cũng
được cải thiện khi bổ sung thức ăn có chứa
0,1 mg Se/kg và 500 IU vitamin E/kg thức ăn
[30 . Fjoelstad và Heyeraas (1985), cũng cho
rằng Se và vitamin E có thể là các nguyên tố
giúp ngăn chặn bệnh Hitra ở cá hồi nuôi [37]. Ở
cá da trơn (Channel Catfish), việc bổ sung
0,25 mg Se và 30 mg/kg vitamin E/kg thức ăn
cho hiệu quả tăng trưởng và hoạt động của men
glutathione peroxidase tốt nhất [29].
Tuy nhiên, nếu bổ sung quá liều Se không
những tốn kém chi phí sản xuất, thậm chí gây
độc cho đối tượng nuôi. Là nguyên tố vi lượng,
nếu hàm lượng bổ sung vượt quá mức nhu cần
thì Se có thể gây độc cho cá đối tượng cá nuôi
[6 . Hàm lượng vượt mức nhu cầu của Se cho
kết quả tiêu cực như giảm tăng trưởng, giảm
hiệu quả sử dụng thức ăn và tăng tỷ lệ chết của
cá. Mức bổ sung từ 13 - 15 mg/kg thương gây
độc đối với các loài cá nuôi [5, 29]. Chế độ bổ
sung Se cũng ảnh hưởng đến đối tượng nuôi,
việc cho ăn bổ sung ở mức 3 mg Se/kg thức ăn
trong thời gian dài cũng ảnh hưởng xấu đến cá
hồi [5]. Cá hồi được nuôi bằng thức ăn bổ sung
10 mg/kg thường có hiện tượng tích tụ canxi
trong thận [22]. Nồng độ Se cao trong khẩu
phần ăn không ảnh hưởng đến tăng trưởng ở cá
chép Cyprinus carpio, nhưng lại gây ra sự tích
tụ Se đáng kể trong thận, gan và cơ cá [38].
Bảng 1. Hàm lượng và hiệu quả của Se trên một số đối tượng nuôi thủy sản
Đối tượng
Hàm lượng
Se (µg/g)
Hiệu quả
Tài liệu
tham khảo
Cá hồi vân (Salmo gairdneri) 13 Tỷ lệ sống và tăng trưởng [5]
Cá hồi chinook (Oncorhynchus tshawytscha) 18,2 Tăng trưởng [13]
Cá tuế đầu bẹp (Pimephales promelas) 20 Tăng trưởng [12]
Cá striped bass (Morone saxatilis) 39 Tỷ lệ sống [39]
Cá bluegill (Lepomis macrochirus) 13 Sinh sản [40]
Cá razorback sucker (Xyrauchen texanus) 472 Tăng trưởng [14]
Cá bonytail (Gila elegans) 236 Tăng trưởng [14]
Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) 0,5
Tăng trưởng, tỷ lệ sống, miễn dịch và
khả năng kháng lại vi khuẩn
[17]
Cá trê phi (Clarias gariepinus) 0,1-0,5 Tăng trưởng và sinh lý [31]
Tôm hùm nước ngọt (Procambarus clarkii) 0,3 Tăng trưởng và men chống oxy hóa [25]
Cá diếc (Carassius auratus gibelio) 0,55 Tăng trưởng [16]
Cá chép, (Cyprinus carpio L.) 0,03 Tăng trưởng và tỷ lệ sống [15]
Tôm hùm nước ngọt (Cherax cainii) 0,2 Tăng trưởng, tỷ lệ sống và miễn dịch [18]
Cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellaris) 0,5
Tăng trưởng, tỷ lệ sống và khả năng
chịu sốc độ mặn
[20]
Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) 0,3
Tăng khả năng miễn dịch và kháng lại vi
khuẩn Nocardia sp.
[21]
Hồ Sơn Lâm, Huỳnh Minh Sang
218
NHỮNG HẠN CHẾ VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG
NGHIÊN CỨU
Se mang lại nhiều lợi ích và có thể thay thế
các loại kháng sinh trong nuôi một số loài cá và
giáp xác. Tuy nhiên những nghiên cứu về vai
trò của Se còn nhiều hạn chế, hiểu biết về nhu
cầu Se chỉ được biết đến ở một số loài cá nuôi
(cá giò, cá tráp đỏ, cá da trơn Ictalurus
punctatus, cá chẽm, cá chim vây vàng, cá hồi
vân, cá chép Cyprinus carpio L., cá hồi Đại
Tây Dương, cá rô phi, cá trê phi, cá bơn, cá mú
Epinephelus malabaricus, cá tráp đầu vàng, cá
hồi Chinook, cá tuế đầu bẹp, cá striped bass, cá
bluegill, cá diếc) và giáp xác (tôm càng xanh,
tôm thẻ chân trắng, tôm hùm nước ngọt, tôm
hùm nước ngọt) được tổng quan như trên. Vai
trò của Se đối với các đối tượng nuôi thủy sản
ở Việt Nam mới chỉ được nghiên cứu trên cá
chẽm, cá chim vây vàng và cá khoang cổ nemo.
Đến nay, vai trò của Se lên một số đối tượng
nuôi có giá trị kinh tế tại Việt Nam vẫn còn
nhiều hạn chế, Se ảnh hưởng như thế nào đối
với cá bớp, cá chim vây ngắn, cá chẽm mõm
nhọn, tôm sú, cua xanh, tôm hùm xanh hay tôm
hùm bông vẫn chưa được biết đến.
Để đạt được năng suất cao trong nuôi các
đối tượng thủy sản, hiệu quả sử dụng của Se và
các hướng nghiên cứu ưu tiên cần phải được
xác định dựa trên liều lượng, phương thức áp
dụng và vai trò của Se trong nuôi một số loài cá
(cá giò, cá tráp đỏ, cá da trơn Ictalurus
punctatus, cá chẽm, cá chim vây vàng, cá hồi
vân, cá chép Cyprinus carpio L., cá hồi Đại
Tây Dương, cá rô phi Oreochromis niloticus,
cá trê phi Clarias gariepinus, cá bơn Solea
senegalensis, cá mú Epinephelus malabaricus,
cá tráp đầu vàng, cá hồi Chinook, cá tuế đầu
bẹp, cá striped bass, cá bluegill và cá diếc) và
giáp xác (tôm càng xanh, tôm thẻ chân trắng,
tôm hùm nước ngọt Cherax cainii và tôm hùm
nước ngọt Procambarus clarkii) đã được tổng
quan như trên làm cơ sở khoa học ban đầu cho
những nghiên cứu tiếp theo.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Bổ sung Se vào thức ăn giúp cải thiện tăng
trưởng, tỷ lệ sống, sinh lý, miễn dịch, sinh sản
và giảm stress của một số loài cá và giáp xác đã
được nghiên cứu.
Đối với đa số các loài thủy sản đã được
nghiên cứu, Se được xử dụng liên tục trong
suốt quá trình nuôi, điều này có thể làm tăng
giá thành sản phẩm và giảm hiện quả sử dụng
Se. Vì thế, nghiên cứu về liệu trình sử dụng
trong chu kỳ nuôi với mỗi đối tượng nuôi nên
được tiến hành.
Hiện nay, nghề nuôi và buôn bán cá cảnh
đang ngày càng phát triển, tuy nhiên vai trò của
Se trên các đối tượng nuôi cảnh vẫn chưa được
biết đến. Vì thế cần có những nghiên cứu về vai
trò của Se lên các đối tượng nuôi cảnh từ đó có
thể nâng cao sức khỏe, cải thiện tỷ lệ sống của đối
tượng nuôi, từ đó góp phần làm giảm áp lực khai
thác, bảo vệ nguồn lợi các loài sinh vật cảnh.
Lời cảm ơn: Nhóm tác giả xin chân thành cảm
ơn đề tài quỹ NAFOSTED mã số 106-NN.05-
2013.06 đã hỗ trợ tài chính để chúng tôi hoàn
thành bài báo này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Rosen, G. D., 1996. The nutritional effects
of tetracyclines in broiler feeds. In XX
World’s Poult. congress.(New Delhi, India
WPSA) (pp. 141-146).
2. Huỳnh Minh Sang và Trần Văn Bằng,
2013. Tổng quan về việc sử dụng
mannanoligosaccharides trong nuôi trồng
thủy sản. Kỷ yếu Hội nghị quốc tế Biển
Đông 2012. Tr. 269-278.
3. Genc, M. A., Aktas, M., Genc, E., and
Yilmaz, E., 2007. Effects of dietary
mannan oligosaccharide on growth, body
composition and hepatopancreas histology
of Penaeus semisulcatus (de Haan 1844).
Aquaculture Nutrition, 13(2), 156-161.
4. Bell, J. G., Cowey, C. B., Adron, J. W., and
Shanks, A. M., 1985. Some effects of
vitamin E and selenium deprivation on
tissue enzyme levels and indices of tissue
peroxidation in rainbow trout (Salmo
gairdneri). British Journal of Nutrition,
53(1), 149-157.
5. Hilton, J. W., Hodson, P. V., and Slinger,
S. J., 1980. The requirement and toxicity of
selenium in rainbow trout (Salmo
gairdneri). The Journal of Nutrition,
110(12), 2527-2535.
Tổng quan về việc sử dụng Selen (Se)
219
6. Watanabe, T., Kiron, V., and Satoh, S.,
1997. Trace minerals in fish nutrition.
Aquaculture, 151(1-4), 185-207.
7. Rotruck, J. T., Pope, A. L., Ganther, H. E.,
Swanson, A. B., Hafeman, D. G., and
Hoekstra, W., 1973. Selenium: Biochemical
role as a component of glutathione
peroxidase. Science, 179(4073), 588-590.
8. Trần Đức Diễn, Huỳnh Minh Sang và Lê
Minh Hoàng, 2013. Ảnh hưởng của selen
hữu cơ lên sinh trưởng, tỷ lệ sống, thành
phần sinh hóa và khả năng miễn dịch của cá
chẽm (Lates calcarifer Bloch 1790). Tạp
chí Khoa học và Công nghệ Nhiệt đới, 112,
40-50.
9. Gatellier, P., Mercier, Y., and Renerre, M.,
2004. Effect of diet finishing mode (pasture
or mixed diet) on antioxidant status of
Charolais bovine meat. Meat Science,
67(3), 385-394.
10. Wang, C., and Lovell, R. T., 1997. Organic
selenium sources, selenomethionine and
selenoyeast, have higher bioavailability
than an inorganic selenium source, sodium
selenite, in diets for channel catfish
(Ictalurus punctatus). Aquaculture, 152(1-
4), 223-234.
11. Lorentzen, M., Maage, A., and Julshamn,
K., 1994. Effects of dietary selenite or
selenomethionine on tissue selenium levels
of Atlantic salmon (Salmo salar).
Aquaculture, 121(4), 359-367.
12. Ogle, R. S., and Knight, A. W., 1989.
Effects of elevated foodborne selenium on
growth and reproduction of the fathead
minnow (Pimephales promelas). Archives
of Environmental Contamination and
Toxicology, 18(6), 795-803.
13. Hamilton, S. J., and Buhl, K. J., 1990.
Safety assessment of selected inorganic
elements to fry of chinook salmon
(Oncorhynchus tshawytscha).
Ecotoxicology and Environmental Safety,
20(3), 307-324.
14. Hamilton, S. J., Buhl, K. J., Bullard, F. A.,
and Little, E. E., 2000. Chronic toxicity and
hazard assessment of an inorganic mixture
simulating irrigation drainwater to
razorback sucker and bonytail.
Environmental Toxicology, 15(1), 48-64.
15. Alina, R. A., Sara, A., Barbu, A., and
Molnar, F., 2009. The influence of organic
selenium on the growth and survival
performances of the common carp
(Cyprinus carpio L.), galitian and lausitz
variety, juveniles. Bull. UASVM Anim. Sci.
Biotech, 66, 1-2.
16. Zhou, X., Wang, Y., Gu, Q., and Li, W.,
2009. Effects of different dietary selenium
sources (selenium nanoparticle and
selenomethionine) on growth performance,
muscle composition and glutathione
peroxidase enzyme activity of crucian carp
(Carassius auratus gibelio). Aquaculture,
291(1-2), 78-81.
17. Chiu, S. T., Hsieh, S. L., Yeh, S. P., Jian, S.
J., Cheng, W., and Liu, C. H., 2010. The
increase of immunity and disease resistance
of the giant freshwater prawn,
Macrobrachium rosenbergii by feeding
with selenium enriched-diet. Fish &
Shellfish Immunology, 29(4), 623-629.
18. Nugroho, R., and Fotedar, R., 2013. Effects
of dietary organic selenium on immune
responses, total selenium accumulation and
digestive system health of marron, Cherax
cainii (Austin, 2002). Aquaculture
Research, 1-11.
19. Sang, H. M., Thuy, N. T. T., and Hoang, D.
H., 2015. Effects of Dietary Organic
Selenium on Growth, Survival,
Physiological and Hematology Conditions
of Snub-Nose Dart (Trachinotus blochii
Lacepide, 1801). The Israeli Journal of
Aquaculture-Bamidgeh.
20. Hồ Sơn Lâm và Phạm Thị Anh, 2016. Ảnh
hưởng của Selenium hữu cơ lên tăng
trưởng, tỷ lệ sống và khả năng chịu sốc độ
mặn của cá khoang cổ (Amphiprion
ocellaris Cuvier, 1830). Tạp ch Khoa học
Trường Đại học C n Thơ, 43, 89-96.
21. Sang, H. M., Thuy, N. T. T., and Lam, H.
S., 2016. Effects of Organic Selenium (OS)
on Survival, Physiological and
Immunological Response of Snub-Nosed
Dart (Trachinotus blochii Lacepide, 1801)
Fingerlings When Challenged with
Bacterial Infection and Copper Exposure.
The Israeli Journal of Aquaculture-
Bamidgeh.
Hồ Sơn Lâm, Huỳnh Minh Sang
220
22. Hilton, J. W., Hodson, P. V., and Slinger,
S. J., 1982. Absorption, distribution, half-
life and possible routes of elimination of
dietary selenium in juvenile rainbow trout
(Salmo gairdneri). Comparative
biochemistry and physiology. C:
Comparative pharmacology, 71(1), 49-55.
23. Hunt, A. O., Berkoz, M., Ozkan, F., Yalin,
S., Ercen, Z., Erdogan, E., and Gunduz, S.
G., 2011. Effects of organic selenium on
growth, muscle composition, and
antioxidant system in rainbow trout. Israeli
Journal of Aquaculture-Bamidgeh, 63(562),
10 p.
24. Lin, Y. H., and Shiau, S. Y., 2005. Dietary
selenium requirements of juvenile grouper,
Epinephelus malabaricus. Aquaculture,
250(1-2), 356-363.
25. Dörr, A. J. M., Pacini, N., Abete, M. C.,
Prearo, M., and Elia, A. C., 2008. Effects of
a selenium-enriched diet on antioxidant
response in adult crayfish (Procambarus
clarkii). Chemosphere, 73(7), 1090-1095.
26. Hamre, K., Mollan, T. A., Sæle, Ø., and
Erstad, B., 2008. Rotifers enriched with
iodine and selenium increase survival in
Atlantic cod (Gadus morhua) larvae.
Aquaculture, 284(1-4), 190-195.
27. Kim, H. J., Sakakura, Y., Maruyama, I.,
Nakamura, T., Takiyama, K., Fujiki, H.,
and Hagiwara, A., 2014. Feeding effect of
selenium enriched rotifers on larval growth
and development in Red Sea bream Pagrus
major. Aquaculture, 432, 273-277.
28. Liu, K., Wang, X. J., Ai, Q., Mai, K., and
Zhang, W., 2010. Dietary selenium
requirement for juvenile cobia,
Rachycentron canadum L. Aquaculture
Research, 41(10), e594-e601.
29. Gatlin III, D. M., and Wilson, R. P., 1984.
Dietary selenium requirement of fingerling
channel catfish. The Journal of Nutrition,
114(3), 627-633.
30. Poston, H. A., and Combs Jr, G. F., 1979.
Interrelationships between requirements for
dietary selenium, vitamin E, and L-ascorbic
acid by Atlantic salmon (Salmo salar) fed a
semipurified diet. Fish Health News, 8(4),
vi-vii.
31. Abdel-Tawwab, M., Mousa, M. A., and
Abbass, F. E., 2007. Growth performance
and physiological response of African
catfish, Clarias gariepinus (B.) fed organic
selenium prior to the exposure to
environmental copper toxicity.
Aquaculture, 272(1-4), 335-345.
32. Abdel-Tawwab, M., and Wafeek, M., 2010.
Response of Nile tilapia, Oreochromis
niloticus (L.) to environmental cadmium
toxicity during organic selenium
supplementation. Journal of the World
Aquaculture Society, 41(1), 106-114.
33. Bell, J. G., Cowey, C. B., Adron, J. W., and
Pirie, B. J. S., 1987. Some effects of
selenium deficiency on enzyme activities
and indices of tissue peroxidation in
Atlantic salmon parr (Salmo salar).
Aquaculture, 65(1), 43-54.
34. Sritunyalucksana, K., Intaraprasong, A.,
Sa-Nguanrut, P., Filer, K., and Fegan, D. F.
(2011). Organic selenium supplementation
promotes shrimp growth and disease
resistance to Taura syndrome virus.
Scienceasia, 37, 24-30.
35. Ribeiro, A. R. A., Ribeiro, L., Sæle, Ø.,
Hamre, K., Dinis, M. T., and Moren, M.,
2012. Selenium supplementation changes
glutathione peroxidase activity and thyroid
hormone production in Senegalese sole
(Solea senegalensis) larvae. Aquaculture
Nutrition, 18(5), 559-567.
36. Saleh, R., Betancor, M. B., Roo, J.,
Montero, D., Zamorano, M. J., and
Izquierdo, M., 2014. Selenium levels in
early weaning diets for gilthead seabream
larvae. Aquaculture, 426, 256-263.
37. Fjoelstad, M., and Heyeraas, A. L., 1985.
Muscular and myocardial degeneration in
cultured Atlantic salmon, Salmo salar L.,
suffering from ‘Hitra disease’. Journal of
Fish Diseases, 8(4), 367-372.
38. Elia, A. C., Prearo, M., Pacini, N., Dörr, A.
J. M., and Abete, M. C., 2011. Effects of
selenium diets on growth, accumulation
and antioxidant response in juvenile carp.
Ecotoxicology and Environmental Safety,
74(2), 166-173.
39. Coughlan, D. J., and Velte, J. S., 1989.
Dietary toxicity of selenium-contaminated
Tổng quan về việc sử dụng Selen (Se)
221
red shiners to striped bass. Transactions of
the American Fisheries Society, 118(4),
400-408.
40. Woock, S. E., Garrett, W. R., Partin, W. E.,
and Bryson, W. T., 1987. Decreased
survival and teratogenesis during laboratory
selenium exposures to bluegill, Lepomis
macrochirus. Bulletin of Environmental
Contamination and Toxicology, 39(6), 998-
1005.
AN OVERVIEW ON THE USE OF THE SELENIUM (Se)
IN AQUACULTURE
Ho Son Lam, Huynh Minh Sang
Institute of Oceanography, VAST
ABSTRACT: Effects of antibiotics usage in aquaculture on environment and human health has
prompted the search for alternative products. Recently, the microelements in organic form have
been used as alternative to antibiotics in aquaculture. Se is one of the microelements that have
received heightened attention. This report reviews the role of Se in the culture of fishes (cobia
Rachycentron canadum L., red sea bream Pagrus major, fingerling channel catfish Ictalurus
punctatus, seabass Lates calcarifer, snubnose dart Trachinotus blochii, rainbow trout Oncorhynchus
mykiss, common carp Cyprinus carpio L., Atlantic salmon parr Salmo salar, nile tilapia
Oreochromis niloticus, african catfish Clarias gariepinus, Senegalese sole Solea senegalensis,
grouper Epinephelus malabaricus, gilthead seabream Sparus aurata, Chinook salmon
Oncorhynchus tshawytscha, fathead minnow Pimephales promelas, striped bass Morone saxatilis,
bluegill Lepomis macrochirus, crucian carp Carassius auratus gibelio) and crustacean (giant
freshwater prawn Macrobrachium rosenbergii, white shrimp Penaeus vannamei, marron Cherax
cainii, crayfish Procambarus clarkii). Suggestion for further research on the application of Se in
aquaculture is also included.
Keywords: Fish, crustacean, aquaculture, Selenium.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tong_quan_ve_viec_su_dung_selen_se_trong_nuoi_trong_thuy_san.pdf