KẾT LUẬN
Hoạt động kinh tế của người Việt ở ĐBSCL khá phong
phú, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Với chăn
nuôi gia súc, đối tượng chủ yếu là bò, heo, dê. Với
chăn nuôi gia cầm, đối tượng chủ yếu là gà, vịt. Với
nuôi trồng thủy sản, đối tượng chủ yếu là tôm, cá.
Trong mỗi đối tượng chăn nuôi, nông dân có những
tri thức liên quan đến (1) chọn giống, (2) phương thức
nuôi và (3) phòng và điều trị bệnh.
Trong chăn nuôi gia súc, nông dân lựa chọn những
giống lai giữa giống nội địa và ngoại nhập để tận dụng
ưu thế lai với những tính trạng tốt với phương thức
nuôi sinh thái như cho ăn thức ăn xanh, uống nước
sạch, chất thải để nuôi cá và bón cho cây trồng. Trong
chăn nuôi gia cầm, nông dân cũng có những kinh
nghiệm riêng trong chọn giống dựa vào ngoại hình
(loại lấy thịt và lấy trứng) với phương thức nuôi chăn
thả vườn (đối với gà) hoặc chạy đồng kết hợp trồng
lúa (đối với vịt) để tận dùng nguồn thức ăn trong tự
nhiên cũng như để vật nuôi tích cực vận động. Để
phòng và trị bệnh, theo phương châm “phòng bệnh
hơn trị bệnh” và nguyên lý “cây cỏ quanh ta đều có thể
trị bệnh”, nông dân tích cực vệ sinh môi trường nuôi
bằng vôi sống, phát quang, khai thông cống rãnh và
sử dụng một số loại cây có có vị thuốc để trị bệnh cho
vật nuôi.
Trong nuôi trồng thủy sản, nông dân chọn vật nuôi
theo từng vùng sinh thái mặn, ngọt, lợ. Thức ăn chủ
yếu là nguồn phụ phẩm từ nông nghiệp với phương
thức nuôi kết hợp như mô hình cá-tôm, mô hình lúacá, mô hình lúa-tôm nhằm tận dụng đầu ra của loại
này làm đầu vào cho loại khác vừa tiết kiệm chi phí
vừa bảo vệ môi trường. Việc phòng trị bệnh cũng theo
phương châm và nguyên lý như chăn nuôi, cũng tận
dụng những gì thuộc về thiên nhiên, dựa vào thiên
nhiên để điều trị cho vật nuôi.
Những tri thức bản địa trong chăn nuôi và nuôi trồng
thủy sản của cư dân Việt, mặc dù khó nhận biết và
cũng mất mát khá nhiều theo thời gian nhưng lại có
vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nông dân thích
ứng với những biến đổi môi trường hiện nay và việc
phổ biến lại rộng rãi những tri thức này có thể cải
thiện và giảm thiểu suy thoái môi trường ở đồng bằng
trong tương lai.
12 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tri thức bản địa trong chăn nuôi của người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):802-813
Open Access Full Text Article Bài nghiên cứu
Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, ĐHQG-HCM
Liên hệ
Ngô Thị Thu Trang, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
Email: thutrangnt@hcmussh.edu.vn
Lịch sử
Ngày nhận: 9/04/2020
Ngày chấp nhận: 31/12/2020
Ngày đăng: 15/1/2021
DOI : 10.32508/stdjssh.v4i4.629
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Tri thức bản địa trong chăn nuôi của người Việt ở Đồng bằng sông
Cửu Long
Ngô Thị Thu Trang*
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
TÓM TẮT
Tri thức bản địa là nguồn tài sản vô cùng quý giá trong quá trình thích ứng với tự nhiên tại những
khu vực khác nhau. Cư dân Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long trong suốt quá trình phát triển các
hoạt động chăn nuôi đã tích lũy khá nhiều kinh nghiệm dân gian, đã sáng tạo ra một khối lượng
lớn tri thức bản địa trong đời sống sinh hoạt và sản xuất. Những tri thức này đã hỗ trợ cho người
Việt thích ứng để tồn tại trong suốt mấy trăm năm. Đồng Bằng Sông Cửu Long là vùng đất bị ảnh
hưởng nhiều của thiên tai, dịch bệnh cho thấy nhu cầu về tìm hiểu tri thức bản địa cho thích ứng
sinh kế tại đây là rất cần thiết. Để hiểu rõ về tri thức bản địa trong chăn nuôi của người Việt tại Đồng
bằng sông Cửu Long, tác giả sử dụng chủ yếu là phương pháp khảo sát có sự tham gia với 10 cuộc
phỏng vấn sâu liên quan đến mô hình sản xuất hiện tại, lịch mùa vụ, kinh nghiệm sản xuất, những
tri thức bản địa đã và đang được áp dụng tại địa phương cụ thể tại vùng ngập lũ (An Giang), vùng
nước lợ, mặn (Bến Tre). Từ những kết quả thu thập được, kết hợp với cơ sở lý luận từ dữ liệu thứ
cấp, tác giả tổng hợp, phân tích cho ra những nhận định liên quan đến kết quả chính là tri thức
bản địa của người Việt trong chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản.
Từ khoá: Tri thức bản địa, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, người Việt
MỞĐẦU
Tri thức bản địa là toàn bộ những hiểu biết kinh
nghiệmứng xử của conngười vớimôi trường tự nhiên
và xã hội ở những địa phương, những khu vực cụ thể
được tích lũy, thực hành, chọn lọc và trao truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác. Cư dânViệt ở Đồng bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL) trong suốt quá trình phát
triển các hoạt động trồng trọt đã tích lũy khá nhiều
kinh nghiệm dân gian, đã sáng tạo ra một khối lượng
lớn tri thức bản địa trong đời sống sinh hoạt và sản
xuất. Những tri thức này đã hỗ trợ cho người Việt
thích ứng để tồn tại trong suốt mấy trăm năm. Tuy
vậy, qua thời gian cùng với sự tác động mạnh mẽ của
tri thức khoa học, những tri thức bản địa ngày nay
không còn và không áp dụng nhiều như trước. Trong
bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng mạnh mẽ, việc
tìm hiểu và đánh giá lại đúng giá trị của những tri
thức này, bên cạnh lưu giữ còn đóng góp cho hàm ý
chính sách trong những chiến lược thích ứng với biến
đổi môi trường trong thời gian tới. Với hướng tiếp
cận liên ngành địa lý và nhân học, bằng phương pháp
điền dã dài ngày, những buổi làm việc trực tiếp với
nông hộ, thảo luận nhóm và 10 cuộc phỏng vấn sâu
đã được thực hiện về các vấn đề liên quan đến mô
hình sản xuất hiện tại, kinh nghiệm sản xuất, những
tri thức bảnđịa đã và đang được áp dụng tại vùngngập
lũ với đại diện là An Giang và Bến Tre, tác giả đã hệ
thống lại tri thức bản địa của người Việt về chăn nuôi
để thích ứng tốt hơn với tự nhiên.
DẪNNHẬP
Tri thức bảnđịa là kinhnghiệm thực tế được truyền bá
từ thế hệ này sang thế hệ khác trong quá trình canh
tác và khai thác tự nhiên phục vụ cho đời sống của
cộng đồng. Ở mỗi môi trường sinh thái khác nhau có
những tri thức khác nhau1, bắt nguồn từ sức mạnh
tinh thần, văn hóa và ngôn ngữ của tộc người2, phản
ánh sự am hiểu sâu sắc về môi trường cư trú trong
quá trình lao động sản xuất3, được truyềnmiệng hoặc
thực hành văn hóa4. Từ đó cho thấy tri thức bản địa
phản ánh xu hướng giao lưu và biến đổi văn hóa hay
thích nghi văn hóa giữa các tộc người5.
Ngược lại với kiến thức hàn lâm chỉ do một hoặc
một nhóm người sáng tạo ra, tri thức bản địa là kinh
nghiệm thực tế, được truyền lại và trải nghiệm từ
thế hệ này sang thế hệ khác6, hình thành một cách
tự nhiên trong quá trình lao động của toàn thể cộng
đồng. Tuy nhiên, mỗi cộng đồng có những thế mạnh
riêng trong từng lĩnh vực. Tri thức bản địa được lưu
giữ bằng trí nhớ bằng truyền miệng và thực hành văn
hóa7. Do vậy tri thức bản địa dễ bị thất truyền3. Tri
thức bản địa có giá trị cao trong việc xây dựng các mô
hình phát triển nông thôn bền vững theo hướngngười
dân tham gia và ít tốn kém7. Do vậy tri thức bản địa
Trích dẫnbài báonày: TrangN T T. Tri thức bảnđịa trong chănnuôi của người Việt ởĐồngbằng sông
Cửu Long. Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.; 4(4):802-813.
802
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):802-813
ngày càng được chú ý trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội8, có giá trị phục vụ các giải pháp phát triển
và là kho báu văn hoá cần được bảo vệ và sử dụng thật
hữu ích9.
ĐBSCL là vùng trọng điểm trong sản xuất nông
nghiệp 10, ngoài cây lúa, ĐBSCL phát triển mạnh với
các loại thủy hải sản có giá trị xuất khẩu cao và các sản
phẩm từ chăn nuôi gia súc, gia cầm9. Các sản phẩm
chăn nuôi ở ĐBSCL là nguồn cung cấp thực phẩm
chính cho khu vực và vùng lân cận, có giá trị xuất khẩu
cao nhất là sản phẩm từ tôm và cá tra, cá basa. Ngoài
những giải pháp về công nghệ, khoa học cho vấn đề
chăn nuôi, nuôi trồng của người Việt tại ĐBSCL thì tri
thức bản địa liên quan đến hầu hết các chiều kích của
hoạt động từ khâu chọn giống, đến chăn nuôi cũng
như những phát hiện và phòng ngừa trong quá trình
chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Trên cơ sở đó, bài
viết được thực hiện nhằmmục đích hệ thống hóa các
tri thức bản địa liên quan đến chăn nuôi tại ĐBSCL đã
và đang được áp dụng bởi nông dân địa phương. Từ
việc phân tích đó, bài viết hướng đến việc đóng góp
cho hàm ý chính sách trong những chiến lược phát
triển bền vững đồng bằng trong thời gian tới.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Mỗi tộc người trong các giai đoạn phát triển khác
nhau đều lưu giữ những kinh nghiệm về về môi
trường cư trú và được gọi là tri thức bản địa 1. Thuật
ngữ tri thức bản địa có liên quan đến một số thuật
ngữ như: tri thức dân gian (folk knowlegde), tri thức
truyền thống (traditional knowledge), tri thức địa
phương (local knowledge) và được sử dụng lần đầu
tiên bởi Howes và Chambers11. Nghiên cứu về tri
thức bản địa qua các thời kỳ với việc định nghĩa tri
thức bản địa là một công việc đầy thách thức 12.
Tri thức địa phương hay còn gọi là tri thức bản địa là
hệ thống tri thức của các cộng đồng dân cư bản địa
ở các quy mô lãnh thổ khác nhau, được hình thành
trong quá trình lịch sử lâu đời, qua kinh nghiệm ứng
xử với môi trường xã hội, được định hình dưới nhiều
dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời
khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành
xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn và điều hòa
các quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người và thiên
nhiên13.
Tri thức bản địa là toàn bộ những hiểu biết của con
người về tự nhiên, xã hội và bản thân, hình thành
và tích luỹ trong quá trình lịch sử lâu dài của cộng
đồng, thông qua trải nghiệm trong quá trình sản xuất,
quan hệ xã hội và thích ứng môi trường. Nó tồn tại
dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này
sang đời khác bằng trí nhớ và thực hành xã hội3 bao
gồm rất nhiều lĩnh vực liên quan đến sản xuất, phong
tục, tập quán, tín ngưỡng, tổ chức cộng đồng hình
thành trong quá trình sống và lao động của cả cộng
đồngđược lưu giữ bằng trí nhớ và lưu truyền bằng
miệng14.
Tri thức bản địa là những hệ thống tri thức và thực
nghiệm được phát triển qua nhiều thế hệ trong một
lĩnh vực cụ thể tớimột nền văn hóa chuyên biệt15 phù
hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội16 và tồn tại
trong từng điều kiện môi trường cụ thể17. Tri thức
này tồn tại và phát triển dưới các điều kiện cụ thể của
những người dân bản địa trong một khu vực địa lý
nhất định16.
Sự phát triển của hệ thống kiến thức bản địa trong tất
cả các khía cạnh của cuộc sống, kể cả việc quản lýmôi
trường tự nhiên, từ lâu đã là một vấn đề sống còn đối
với những con người đã sáng tạo ra chúng. Các hệ
thống kiến thức bản địa cũng có tính động, kiến thức
mới liên tục được bổ sung và cũng sẽ tiếp nhận, sử
dụng, thích nghi với kiến thức bên ngoài nhằm phù
hợp với điều kiện của địa phương18.
Theo Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc3 tri thức bản
địa có một số đặc điểm như sau:
- Tri thức bản địa được hình thành và biến đổi liên tục
qua các thế hệ trong một cộng đồng địa phương nhất
định. Bởi vì, tri thức bản địa là sản phẩm được tạo ra
trong quá trình lao động sản xuất của toàn cộng đồng.
Theo thời gian, những kinh nghiệm truyền thống này
được biến cải để ngày càng hoàn thiện hơn, nghĩa là
có hiệu quả thích ứng cao hơn đối với các thay đổimôi
trường tự nhiên và kinh tế-xã hội.
- Tri thức bản địa có khả năng thích ứng cao với môi
trường riêng của từng địa phương-nơi hình thành và
phát triển tri thức đó. Môi trường tự nhiên ở đây bao
gồm cấu tạo thổ nhưỡng, đất đai khí hậu, thảm thực
vật, các loài động vật, sông ngòi. Những điều kiện tự
nhiên này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế, đến
tổ chức đời sống, đến việc thuần dưỡng các cây trồng
vật nuôi Do được hình thành tại địa phương, hoặc
được du nhập rồi cải biến nhiều lần để phù hợp với
thiên nhiên và tập quán xã hội nên kiến thức bản địa
thích ứng tốt với địa bàn cư trú của cộng đồng. Đây là
đặc điểm quan trọng mà kiến thức kỹ thuật bên ngoài
không có được.
- Tri thức bản địa do toàn thể cộng đồng sáng tạo ra
qua lao động trực tiếp, đúc kết kinh nghiệm về tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngược lại với kiến
thức hàn lâm chỉ do một hoặc một nhóm người sáng
tạo ra, tri thức bản địa hình thành một cách tự nhiên
trong quá trình lao động của toàn thể cộng đồng. tuy
nhiên, mỗi cộng đồng có những thếmạnh riêng trong
từng lĩnh vực.
- Tri thức bản địa được lưu giữ bằng trí nhớ và truyền
bá từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng và
803
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):802-813
thực hành văn hóa. Đây là điểm khác biệt so với kiến
thức khoa học và thường gây khó khăn cho những
người nghiên cứu về tri thức bảnđịa, đặc biệt là những
người ngoài cộng đồng, không cùng văn hóa và ngôn
ngữ.
- Tri thức bản địa luôn gắn liền và hòa hợp với nền văn
hóa và tập tục địa phương; vì vậy, khả năng tiếp thu,
ứng dụng trong cộng đồng là rất dễ dàng. Trong thực
tế, nhiều người dân không chấp nhận thực hiện các
khoa học-kỹ thuật vì không phù hợp với hoàn cảnh
địa phương.
- Tri thức bản địa có giá trị cao trong việc xây dựng
các mô hình phát triển nông thôn bền vững theo hướng
người dân tham gia và ít tốn kém. Một số nghiên cứu
đã xem tri thức bản địa là cơ sở đề xuất các chương
trình phát triển trong các lĩnh vực của sản xuất và đời
sống ở nông thôn vì tính hiệu quả về tài chính và triển
vọng thành công.
- Tri thức bản địa có tính đa dạng cao. Vì tri thức bản
địa được hình thành trong những điều kiện tự nhiên
khác nhau và được mọi thành viên trong cộng đồng
sáng tạo nên sự khác biệt về giới tính, tuổi tác, nhận
thức, kỹ năng, kinh nghiệm đã làm cho hệ thống tri
thức bản địa của cộng đồng hết sức phong phú.
Tri thức bản địa trong chăn nuôi là một trong 05 lĩnh
vực 1) Tri thức về trồng trọt; 2) Tri thức về chăn nuôi;
3) Tri thức về quản lý rừng và tài nguyên cộng đồng;
4) Tri thức về dinh dưỡng và sức khoẻ con người;
5) Tri thức về tổ chức cộng đồng và truyền thụ kinh
nghiệm cho con cháu. Chung quy, tri thức bản địa
là toàn bộ những hiểu biết kinh nghiệm ứng xử của
con người với môi trường tự nhiên và xã hội ở những
địa phương, những khu vực cụ thể được tích lũy, thực
hành, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác, được bổ sung và phát triển trong đời sống9.
Nhiều nghiên cứu nhận ra rằng, muốn phát triển kinh
tế-xã hội nếu chỉ dựa vào khoa học hiện đại thì không
đủ, mà phải bổ sung bằng các tri thức bản địa và kết
hợp hai loại tri thức đó cho sự phát triển.
LƯỢC SỬNGHIÊN CỨU
Các nghiên cứu về tri thức bản địa ở Việt Nam tập
trung chủ yếu vào các nhómdân tộc thiểu số tại Trung
du miền núi phía Bắc, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên,
Duyên hải miền Trung. Các nghiên cứu về tri thức
bản địa tại ĐBSCL hầu như rất ít, đặc biệt là tri thức
bản địa của người Việt. Một số nghiên cứu tại khu vực
này có thể kể đến như:
Nghiên cứu của Judith Ehlert19 tập trung vào tri thức
địa phương liên quan đến tài nguyên nước bởi vì nước
và lũ lụt theo mùa ở ĐBSCL tạo ra nguồn tài nguyên
quan trọng nhất cho hoạt động sinh kế dựa vào nông
nghiệp và nuôi trồng thủy sản đa dạng trong khu vực.
Kể từ khi có sự tự do hóa kinh tế vào giữa những năm
1980, đồng bằng sông Cửu Long đã có sự phát triển
kinh tế mạnhmẽ nhờ vào thâm canh nông nghiệp, sự
phong phú nguồn tài nguyên nước ngọt theo mùa và
sự đầu tư lớn cho kiểm soát tưới tiêu và lũ lụt. Dữ liệu
của nghiên cứu được thu thập trongmột năm thực địa
dân tộc học ở hai huyện (ba xã) của TP. CầnThơ. Kết
quả nghiên cứu cho thấy những tri thức bản địa liên
quan đến lũ rất cần thiết để tham gia vào các quyết
định liên quan đến quản lý lũ và tài nguyên nước của
người dân. Mặc dù tri thức khoa học phát triển mạnh
nhưng để đảm bảo phát triển bền vững thì tri thức
bản địa vẫn cần được lưu giữ và trao truyền.
Nghiên cứu của Phạm Xuân Phú, Nguyễn Ngọc Đệ
và Ngô Thụy Bảo Trân20 nhằm tìm hiểu hiện trạng
và mức độ tin cậy ứng dụng kiến thức bản địa thích
nghi với lũ lụt trong sản xuất và đời sống của nông
dân ở tỉnh An Giang.Kết quả nghiên cứu đã tổng hợp
được 39 kiến thức bản địa và khả năng thích ứng với
lũ lụt, dự báo thời tiết trong hoạt động sản xuất nông
nghiệp và đời sống của người dân địa phương ở địa
bàn nghiên cứu vẫn được nông dân duy trì sử dụng
trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, những kiến thức
này chưa được ghi chép cụ thể và lưu trữ phù hợp để
truyền lại cho các hệ sau và chia sẻ rộng rãi trong cộng
đồng. Bên cạnh đó, cũng có một số kiến thức bản địa
của người dân không còn phù hợp với bối cảnh biến
đổi khí hậu hiện nay. Chính vì vậy, các giải pháp bảo
tồn, phát huy, điều chỉnh nhóm kiến thức địa phương
này cũng được nhóm nghiên cứu nêu ra
Nhìn chung, các nghiên cứu về tri thức bản địa tại
ĐBSCL chủ yếu là các tri thức liên quan đến hiện
tượng ngập lũ và ứng phó với ngập lũ là chủ yếu. Các
khía cạnh khác của tri thức bản địa vẫn chưa được
nhiều tác giả đề cập, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất
như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản... Do
vậy, bài viết này được thực hiện nhằm tiếp nối và bổ
sung vào những thiếu hụt này.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu sơ cấp
- Lựa chọn địa bàn nghiên cứu
Theo Lê Anh Tuấn21, ĐBSCL được thành các vùng
sinh thái như vùng ngập lũ bao gồm các tỉnh thuộc
vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười, vùng
nước ngọt gồm các tỉnh ven sông Tiền, sông Hậu,
vùng nước lợ và mặn gồm các tỉnh duyên hải phía
đông, bán đảo Cà Mau. Theo đó, bài viết sẽ tập trung
vào khu vực vùng ngập lũ cho loại hình chăn nuôi với
địa phương điển hình là An Giang (huyện Chợ Mới,
xã Hội An) và khu vực nước lợ, mặn cho loại hình
804
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):802-813
nuôi trồng thủy sản với địa phương điển hình là Bến
Tre (huyện Bình Đại, xã ThớiThuận).
- Phương pháp thu thập
Tại hai địa phương điển cứu là An Giang vào đầu
tháng 7 (ngày 1-10) và Bến Tre vào giữa tháng 7
(ngày 11-19), phương pháp điều tra xã hội với công cụ
phỏng vấn sâu được thực hiện. Nội dung phỏng vấn
liên quan đếnmô hình sản xuất hiện tại, kinh nghiệm
sản xuất, những tri thức bản địa đã và đang được áp
dụng tại địa phương.
- Tiêu chí chọn mẫu
Tại mỗi địa phương sẽ tiến hành phỏng vấn sâu với
các hộ nông dân tiêu biểu tại văn phòngHội nông dân
với số lượng từ 5 hộ/địa phương. Tiêu chí lựa chọn là
những hộ chăn nuôi (bò, heo...), nuôi trồng thủy sản
(cá, tôm). Những nông dân tham gia là những người
có nhiều năm kinh nghiệm trong canh tác (trên 15
năm).
Dữ liệu thứ cấp
Nguồn dữ liệu này được thu thập từ các bài viết đăng
tải trên tập san chuyên ngành, sách chuyên khảo về
nông học, dân tộc học, địa lý học liên quan đến tri
thức bản địa nói chung.
Phương pháp xử lý dữ liệu
Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp sau khi thu thập sẽ được
phân tích, tổng hợp để bổ sung các nội dung khảo sát
theo từng hợp phần của bài viết.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Trong hoạt động kinh tế của mình, người Việt ở
ĐBSCL thể hiện “tính đa nguyên trong hoạt động
kinh tế“22. Môi trường tự nhiên có nhiều ưu đãi nên
hoạt động chăn nuôi ở ĐBSCL khá phát triển. Các
loại vật nuôi và phương thức nuôi ở đây cũng vì thế
mà đa dạng và phong phú. Tuy vậy, để hiểu rõ về tri
thức bản địa trong lĩnh vực này của nông dân, bài viết
sẽ tập trung vào ba nhóm chính là chăn nuôi gia súc
(đại diện là bò, heo) và chăn nuôi gia cầm (đại diện
gà, vịt) và nuôi trồng thủy sản (đại diện là tôm, cá).
TRI THỨC VỀ CHĂNNUÔI GIA SÚC
Tri thức về giống vật nuôi
Chăn nuôi bò
Một trong những yếu tố quyết định thành công sinh
kế chăn nuôi bò của nông dân là việc lựa chọn giống
bò (cả lấy thịt và lấy sữa). Với kinh nghiệmnhiều năm
chăn nuôi, về giống, nông dân cho biết để nuôi bò đạt
hiệu quả cao thì không nên chọn giống bò nội (bò
vàng) mà chọn giống bò lai Sind hoặc bò Italia màu
trắng; về hình dáng bên ngoài nên chọn những con
bò có vóc dáng như Hình 1.
Chăn nuôi heo
Người xưa có câu “mua heo chọn nái, mua gái chọn
dòng”, áp dụng điều đó, nông dân ở ĐBSCL cũng có
những kinh nghiệm riêng trong việc chọn giống heo
để chăn nuôi.
Đối với việc chọn giống: hiện nay có rất nhiều giống
heo cả nội lẫn ngoại nhập với những ưu và nhược
điểm riêng. Nông dân chủ yếu sử dụng giống lai ngoại
nhập như Yorkshire có da màu lông trắng, vóc dáng
cao to, đòn dài, tai đứng, mõm cong hay Landrace
cũng da lông màu trắng, nhưng thân mỏng, cổ dài,
vai hẹp, tai cụp xuống che cả mắt Nông dân cũng
cho biết “coi nái mẹ rồi nhìn lại heo con coi coi có
gì lạ không, coi không kỹ mà nghe lời chủ chuồng là
mình bị thiệt”a.
Đối với việc chọn dáng: nông dân cho biết nên chọn
những con heo có vóc dáng to cao, cân đối, các bộ
phận hài hòa, liên kết tốt. Nếu chọn heo đẻ nái, ngoài
việc chọn các bộ phận bên ngoài ra cần phải xem kỹ
bộ vú và bộ phận sinh dục. Cách chọn heo đực cũng
vậy. Một số đặc điểmdáng heo tốt được thể hiện trong
Hình 2.
Tri thức về phương thức nuôi
Ở các tỉnh bị ngập lũ vùng thượng nguồn châu thổ
như An Giang, ĐồngTháp, nhiều hộ gia đình cất nhà
sàn để cư trú. Bên dưới vừa tận dụng để nông cụ, vừa
tận dụng nuôi bò/heo trong những tháng mùa khô.
Còn trong mùa lũ, nhiều nông dân đóng bè chuối trải
rơm trộn với đất sình lấy từ sông rạch rồi cho gia súc
lên đó. Kết thúcmùa lũ, nông dân sẽ tháo dỡ bè chuối
khi đó đã được phủ một ít chất thải của gia súc làm
phân hữu cơ bón cho cây trồng. Nông dân gọi đây là
cách “cư trú dã chiến”
Ở ĐBSCL, ngoài kiểu nuôi truyền thống, nông dân
cũng phát triển hướng nuôi sinh thái. Thực tế khảo
sát chỉ ra rằng, nông hộ chăn nuôi theo hình thức sinh
thái chú trọng hơn các yếu tố về môi trường, hướng
đến quy luật chăn nuôi tự nhiên như: cho ăn thức ăn
xanh, cho uống nước sạch, tái sử dụng phế phẩm để
trồng trọt hoặc nuôi cá nhằm bảo vệ môi trường. Sau
đây là một số so sánh giữa phương thức nuôi truyền
thống và sinh thái thể hiện trang Bảng 1.
Tri thức về phương thức phòng và điều trị
bệnh tật
Trong chăn nuôi nói chung, nông dân luôn tâm niệm
“phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Bên cạnh việc tiêm
phòng vaccine, nông dân cũng tận dụng những cây cỏ
có vị thuốc xung quanh để tăng cường sức đề kháng
hoặc chữa bệnh cho vật nuôi:
aPhỏng vấn sâu nông dân An Giang (nam, 60 tuổi, nuôi heo)
805
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):802-813
Hình 1: Đặc điểm bò tốt (hình dáng bên ngoài)a
aNguồn: Tác giả
Hình 2: Đặc điểm heo tốt (hình dáng bên ngoài)a
aNguồn: Tác giả
806
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):802-813
Bảng 1: Một số so sánh giữa phương thức nuôi truyền thống và sinh thái
Phương thức chăn nuôi Nuôi truyền thống Nuôi sinh thái
Chuồng trại, khu vực nuôi Chỉ xây chuồng ởnơi thuận tiện, chưa chú trọng
các yếu tố kỹ thuật hướng sáng, hướng gió
Xa nhà, hạn chế nhiều người lui tới.
Được xây dựng thoáng mát, rộng rãi.
Nguồn nước Chỉ sử dụng nước máy, nước giếng cho uống.
Nước tắm thì tận dụng nguồn nước từ ao, sông
Dùng nước sạch cho gia súc, gia cầm
uống. Nước tắm cũng là nguồn nước
sạch. Nước được sử dụng là nước máy
hoặc nước giếng
Xử lý phân Không tái sử dụng, thải trực tiếp ra bên ngoài
môi trường (trên mặt đất không thu gom, ra ao
hồ, kênh sông...)
Thu gom phân thải gia súc, gia cầm và
ủ thành phân bón cho cây trồng hoặc
dùng làm thức ăn cho cá.
Vệ sinh Vệ sinh khu vực chăn nuôi thường xuyên nhưng
không có thực hiện sát trùng khu vực chăn nuôi
Thường xuyên vệ sinh khu vực và
quanh khu vực chăn nuôi, có thực hiện
sát trùng khu vực chăn nuôi định kỳ.
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát 07/2018
Một số bài thuốc dành trị bệnh cho gia súc được nông
dân lưu lại để khi cần dùng như sau:
- Trị bệnh đóng dấu thì 1 nắm bồ công anh, 1 nắm vòi
voi, một ít tía tô, sắn dây nấu với 5 chén nước sắc còn
1 chén rồi trộn với thức ăn hoặc cho heo uống trực
tiếp.
- Trị bệnh tiêu chảy thì một nhúm lá hẹ, ngải cú, lá sả,
lá xoài, rau diếp cá, lá tràm, lá đu đủ, gừng tươi, tỏi
nấu với 3 chén nước sắc còn 1 chén rồi cho heo uống
trực tiếp.
- Trị bệnh thương hàn thì một nhúm kim ngân, ngải
cứu, lá lốt, lá sả, lá sen, cây chó đẻ, lá tràm, kinh giới,
gừng tươi nấu với 3 chén nước sắc còn 1 chén rồi cho
uống trực tiếp.
- Trị bệnh tụ huyết trùng thì một nhúm lá diếp cá, rau
ngót, cỏ mực, tỏi, cam thảo nấu 2 chén nước sắc còn
1 chén rồi cho uống trực tiếp.
- Trị bệnh táo bón thì lấy khoai lang cả củ lẫn lá nấu
chín cho ăn hai ba ngày liền hoặc lá tầm mại giã nát
rồi hòa với một chén nước ấm rồi cho uống khoảng 2
lần trong ngày liên tục cho đến khi hết táo bón.
- Trị chướng bụng đầy hơi thì dùng 1-2 củ tỏi, 1 củ
gừng giã nhuyễn rồi pha với nước ấm cho heo uống
hoặc hòa với rượu trắng xoa vào hai bên thành bụng
heo.
TRI THỨC VỀ CHĂNNUÔI GIA CẦM
Tri thức về giống vật nuôi
Giống gà/vịt nông dân sử dụng giống địa phương,
giống ngoại nhập và giống lai. Con giống lấy từ nhiều
nguồn khác nhau nhưng chủ yếu là nông dân tự phối
giống như theo chia sẻ “tụi tui mua bầy gà bầy vịt nhỏ
về nuôi cho lớn rồi lựa con nào tốt mã thì làm giống,
cho con trống đạp con mái rồi đẻ trứng rồi ấp nở, tụi
tui rầy giống bằng cách đó”b.
Chăn nuôi gà
Gà lấy thịt thì chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo,
gà Tam Hoàng, gà Nòi, gà Lương Phượng
Gà lấy trứng thì chọn những giống gà có khả năng đẻ
nhiều gà mía, gà Tàu Vàng, gà BT1, gà Ri
Một số đặc điểm lựa chọn gà lấy trứng/thịt được nông
dân áp dụng như mô tả trong Hình 3.
Chăn nuôi vịt
Tại ĐBSCL, nông dân nuôi vịt chủ yếu lựa chọn các
giống nổi bật như như vịt Bầu, vịt Cỏ, vịt Bắc Kinh.
Một số đặc điểm lựa chọn vịt con để nuôi lớn và vịt để
lấy trứng và thịt được mô tả trong Hình 4.
Tri thức về phương thức nuôi
Chăn nuôi gà
Phương thức nuôi phổ biến ở ĐBSCL là nuôi thả gà
vườn. Nông dân sử dụng mảnh vườn sau nhà để
nuôi gà, kết hợp trồng thêm một số cây ăn quả vừa
tận dụng diện tích sản xuất, vừa tạo bóng mát cho gà
nuôi. Nông dân chia sẻ “nuôi gà kiểu này nó vận động
thường xuyên, rồi tự kiếm ăn thêm bên ngoài nên thịt
nó chắc mà mình cũng đỡ tốn tiền thức ăn”c.Việc gà
thường xuyên được phơi nắng với nhiệt độ vừa phải
trong vườn giúp gà khỏe mạnh, đẹp mã, đồng thời,
cát sỏi trong vườn cũng giúp gà tiêu hóa tốt hơn.Các
chất thải từ gà được sử dụng làm thức ăn cho cá hoặc
bón cho cây (phân xanh, phân chuồng) nên không cần
phải đầu tư hệ thống xử lý chất thải, tương đối sinh
thái, thân thiện với môi trường không gây ô nhiễm.
bPhỏng vấn sâu nông dân ở An Giang (nam, 55 tuổi, nuôi gà thả
vườn)
cPhỏng vấn sâu nông dân ở An Giang (nam, 55 tuổi, nuôi gà thả
vườn)
807
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):802-813
Hình 3: Đặc điểm gà nuôi lấy trứng/thịta
aNguồn: Tác giả
Hình 4: Đặc điểm vịt nuôi lấy trứng/thịta
aNguồn: Tác giả
808
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):802-813
Chăn nuôi vịt
Chăn nuôi kết hợp vịt-lúa hoặc vịt-lúa-cá đã được áp
dụng từ lâu ở vùngĐBSCL nhờ vào lợi thế nhiều sông
rạch, ao hồ. Đây là một hình thức nuôi sinh thái, thân
thiện với môi trường. Giai đoạn đầu, nông dân cho
vịt con nuôi kết hợp trong ruộng lúa đang sinh trưởng
cho đến khi lúa bắt đầu trổ bông, “nếu chăn thả theo
cách này thì mình có thể lấy sâu rầy làm thức ăn cho
vịt con, tụi nó lội đồng đạp chết cỏ dại mà không cần
phải tốn tiềnmua thức ăn và thuốc trừ sâu, trừ cỏ, một
công đôi ba lời”d. Sau khi thu hoạch lúa, “tụi tui thả
vịt vào ruộng lúa để vịt ăn mấy hạt thóc còn sót lúc
gặt, có cả cua óc này nọ nữa, nuôi kiểu này tụi nómập
lắm, chắc thịt nữa”e.
Phương thức chăn nuôi kiểu này giúp nông dân giảm
được mức đầu tư các loại thuốc hóa học bảo vệ thực
vật độc hại đối với môi trường và sinh vật. Ngoài ra,
vịt thả ngoài ruộng tiết kiệm được chi phí chuồng trại,
chất độn chuồng và lao động vệ sinh chăm sóc so với
nuôi nhốt. Vịt sống trong môi trường chăn thả có
kiểm soát nên ít bị nhiễm các loại bệnh gia cầm, do
không có cơ hội tiếp xúc và lây lan cho nhau nên tỷ lệ
hao hụt do bệnh thấp.
Tri thức về phương thức phòng và điều trị
bệnh tật
Để phòng bệnh, nông dân thường xuyên dọn vệ sinh
chuồng trại, rải vôi sống quanh chuồng để diệt mầm
bệnh.Để trị bệnh, bên cạnh sử dụng thuốc và vaccine
thú y, nông dân cũng cho gà ăn một số loại cây cỏ có
vị thuốc (cây thuốc nam). Cây thuốc nam rất phong
phú, dễ tìm kiếm, có thể thấy trong cuộc sống hằng
ngày và một số loại cây được dùng làm thực phẩm
trong các bữa ăn.
Qua khảo sát, nông dân sử dụng cây thuốc nam để
phòng và trị những bệnh liên quan đến đường hô hấp
và tiêu hóa của gà/vịt như sau:
Tỏi là vị thuốc nam rất quen thuộc với nông dân, tỏi
ngâm rượu thường được dùng trị bệnh cho gia cầm.
Sả cũng là một trong những vị thuốc nam được sử
dụng trong điều trị các bệnh liên quan đến hô hấp
và tiêu hóa của gia cầm. Lá hẹ, củ hẹ, gừng cũng
được sử dụng nhiều trong chữa bệnh gia cầm.Ngoài
các nguyên liệu trên thì lá trầu không cũng được sử
dụng trong điều trị tiêu chảy, rửa vết thương, các vết
phỏng, rộp.
Trị bệnh dịch tả thì dùng gừng khô, gừng tươi, lá bạc
hà, tỏi, hành, hẹ nấu chung với 2-3 chén nước sắc
dPhỏng vấn sâu nông dân An Giang (nam, 56 tuổi, nuôi vịt chạy
đồng)
ePhỏng vấn sâu nông dân An Giang (nam, 56 tuổi, nuôi vịt chạy
đồng)
còn 1 chén trộn với thức ăn hoặc cho bơm vào miệng
gà/vịt.
Trị bệnh toi gà/toi vịt (tụ huyết trùng) thì lấy 3 cục
than gỗ cỡ ngón tay, gừng sống đập dập, tỏi giã
nhuyễn, tiêu hột giã nhuyễn trộn chungnấu với 3 chén
nước sắc còn 1 chén trộn với thức ăn hoặc cho uống
trực tiếp. Ngoài ra, gà/vịt bị toi có thể dùng lá ngải
cứu và hương nhu phơi khô rồi đốt xông đầu hướng
gió cho bầy gia cầm và xông thuốc nhiều lần trong
thời gian có dịch cũng cho hiệu quả tốt.
TRI THỨC BẢNĐỊA VỀ NUÔI TRỒNG
THỦY SẢN
Tri thức về giống vật nuôi
Nuôi tôm
Ở ĐBSCL, nông dân lựa chọn một số giống tôm như
tôm thẻ chân trắng, tôm sú, tôm càng xanh để nuôi
trồng. Nông dân có một số kinh nghiệm để nhận
dạng chung những con tôm khỏe mạnh như sau:Tôm
có kích thước đồng đều, có 06 đốt ở bụng, có đuôi,
râu hình chữ V, có màu sắc tươi sáng, đầu thân bằng
phẳng. Tôm bơi linh hoạt, bơi ngược dòng, ăn tạp,
chân ngực bắt giữ mồi tốt. “Mình dùng tay gõ nhẹ
nhẹ vô thành thau mà thấy tôm nhảy là tôm khỏe còn
không khỏe thì thấy nó lờ đờ sắp nổi thuyền”f.
Nuôi cá
Ở ĐBSCL, bên cạnh nghề nuôi tôm, nghề nuôi cá
cũng khá phát triển. Nông dân nuôi lựa chọn cá da
trơn (cá tra, cá basa) và cá da vảy (chép, trắm cỏ,
rô phi) để nuôi trồng. Nông dân có một số kinh
nghiệmđểnhậndạng chungnhững con cá khỏemạnh
như sau: Cá có kích thước đồng đều, không dị tật,
không bị xây sát, hoạt động nhanh nhẹn, bơi theo đàn,
phản ứng nhanh với tiếng động, ánh sáng, màu sắc
sáng đẹp.
Tri thức về phương thức nuôi
Nuôi tôm
Trước khi thả giống nông dân vệ sinh ao nuôi cẩn thận
bằng cách thả vôi sống quanh ao nuôi. Dùng lưới sợi
mảnh đan dày lọc nước cho vào bể lắng nhằm loại
bỏ rác, ấu trùng, cua, còng, ốc, côn trùng, cá tạp
để lắng trong vòng khoảng một tuần đến mười ngày
rồi mới dẫn nước vào ao nuôi. Nông dân thường thả
tôm giống xuống ao nuôi vào lúc sáng sớm hoặc chiều
mát, để tôm thích nghi với môi trường dễ dàng hơn.
Khi thả thì chọn đầu hướng gió để thả tôm giúp tôm
phân tán khắp ao và tránh làm đục nước ở khu vực
thả giống. Nông dân cho biết “tôm sau khi thả xuống
fPhỏng vấn sâu nông dân ở Bến Tre (nam, 59 tuổi, nuôi tôm-lúa)
809
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):802-813
ao, nếu mà bơi chìm xuống đáy ao, không bám theo
mí nước, không nổi trên mặt nước thì con đó khỏe”g.
Nếu mưa to, nông dân rút bớt nước tầng mặt để độ
mặn trong ao không giảm làm chết tôm.Sau cơn mưa
thì nông dân bón vôi quanh ao nuôi để hạ phèn từ quá
trình rửa trôi và xì phèn từ đáy ao.
Trong quá trình canh tác và nuôi trồng, để thích ứng
và tận dụng cả những thuận lợi và bất lợi của tự nhiên,
nông dân dã có những mô hình nuôi trồng “thuận
sinh thái” có thể kể đến như sau:
Mô hình nuôi tôm càng xanh nước mặn: Xâm nhập
mặn diễn ra quanh năm và có xu hướngmở rộng diện
tích ở khu vực ven biển vùng ĐBSCL nên nông dân
đã phát triển mô hình nuôi tôm càng xanh nước mặn
như một lối thích ứng với biến đổi môi trường và tận
dụng cơ hội từ sự biến đổi đó. Khi nuôi tôm càng xanh
nước mặn nông dân cải tạo ao nuôi rất kỹ lưỡng như
tháo cạn nước, nạo vét bùn, diệt tạp, tu sửa lại bờ,
cống, phơi đáy và bón vôi...rồi tiến hành thả tôm.
Môhìnhnuôi cá rô phi ghép với tômnước lợ: môhình
này đã và đang được rất nhiều bà con áp dụng để tận
dụng diện tích, giảm thiểu dịch bệnh gây thiệt hại cho
tôm. Việc đa dạng hóa đối tượng nuôi cũng góp phần
tăng thêm thu nhập, mang lại hướng đi mới bền vững
hiệu quả cho người nuôi.Nông dân biết cá rô phi ăn
tạp, chúng ăn các loại thực vật, mùn bã hữu cơ, các
thức ăn dư thừa nên giúp làm sạch nước ao nuôi. Khi
nuôi quảng canh, cá rô phi sẽ ăn các loại động thực
vật ở tầng mặt, trong khi đó tôm ăn đa số ở tầng đáy
bao gồm xác tảo chết và phân cá rô phi. Đối với ao
nuôi thâm canh cho ăn thức ăn viên, cá rô phi sẽ ăn
thức ăn viên tuy nhiên đa số thức ăn sẽ chìm xuống
đáy ao cung cấp chính cho tôm. Cá rô phi còn có thể
ăn các con tôm yếu, tôm chết làm giảm khả năng lây
lan dịch bệnh trong ao nuôi như đốm trắng, bệnh tôm
chết sớm... Cá rô phi cũng ăn các loài giáp xác nhỏ, đa
số các loài này có mang mầm bệnh gây hại cho tôm.
Nuôi cá
Nôngdân thường thả cá vào buổi sáng sớmhoặc chiều
mát vì muốn tránh tình trạng sốc nhiệt làm cá chết.
Cá chết lúc mới thả nuôi được cho là điềm rủi cho
cả vụ nuôi. Trước khi thả, nông dân “tắm cá” bằng
nước muối pha cực loãng để loại trừ bệnh tật cho cá.
Ở ĐBSCL, một số hình thức nuôi trồng phổ biến như
nuôi cá bè, nuôi cá ao, nuôi cá trên ruộng lúa. Đối với
mỗi hình thức nuôi nông dân có những kinh nghiệm
riêng.
Nuôi cá bè: Nông dân lựa chọn những loại gỗ tốt, chịu
nước, lâu mục, không có chất đắng như sao, căm xe,
gPhỏng vấn sâu nông dân Bến Tre (nam, 63 tuổi, nuôi tôm thâm
canh)
cà chất, chò, vên để đóng bè. Bè được đóng theo
dạng khối hộp chữ nhật, gồm khung bè, mặt bè, hông
bè, đầu bè, đáy bè, phần nổi và neo bè. Phần nổi
(phao nâng bè) có thể làm bằng thùng phuy, thùng gỗ,
hộp sắt, thùng nhựa.Bè được đặt nổi và neo cố định
tại một vị trí thuận lợi trên sông, không ảnh hưởng
giao thông, gần bờ, dọc theo dòng nước chảy thẳng,
điều hòa và liên tục. Nước sông nơi đặt bè không bị
ảnh hưởng trực tiếp nước phèn, mặn và không thay
đổi đột ngột. Nguồn nước lưu thông sạch, không ô
nhiễm, xa các cống nước thải. Tránh nơi luồng nước
ngầm, bồi tụ, xói lở, nơi có nhiều rong cỏ, nơi dòng
nước có quá nhiều phù sa. Để làm sạch bè cá, nông
dân cho vôi vào các bịch vải nhỏ, treo vào bè, ở đầu
dòng chảy để nước sông hòa tan vôi tỏa ra khắp bè.
Nuôi cá ao: Một số nông dân có ruộng đất, trước đây
trồng lúa hoặc trồng vườn nhưng chuyển đổi sang đào
ao để nuôi cá. Trước khi đào ao, nông dân chọn vị
trí tốt để đảm bảo đất không bị chua, không có mạch
nước ngầm độc hại gây chết cá. Trước khi thả giống,
nông dân vệ sinh ao nuôi cẩn thận bằng cách tát cạn
ao, dọn sạch cỏ, tu sửa bờ, đăng cống, vét bùn nếu
lượng bùn quá nhiều, bón vôi khắp đáy ao để diệt cá
tạp và các mầm bệnh. Nông dân cắt cỏ hoặc lá xanh
được băm nhỏ rải đều khắp đáy ao, vùi vào bùn hoặc
bó thành các bó nhỏ. Dùng lưới sợi mảnh đan dày
lọc nước cho vào bể lắng nhằm loại bỏ rác, ấu trùng,
cua, còng, ốc, côn trùng, cá tạp để lắng trong vòng
khoảng một tuần đến mười ngày rồi mới dẫn nước
vào ao nuôi, sau đó vớt sạch bã xác phân xanh rồi mới
thả cá. Hàng ngày, nông dân thường xuyên quan sát,
kiểm tra ao để kịp thời phát hiện hiện tượng như sạt
lở bờ ao, lỗ mọi, hang hốc cua, chuột đào, cống bị rò
rỉ, hư hỏng... để kịp thời xử lý.
Một mô hình nuôi cá theo hướng sinh thái khá phổ
biến ở ĐBSCL là mô hình nuôi cá trên ruộng lúa.
Hình thức nuôi này cũng tương tự như mô hình con
tôm ôm cây lúa. Nông dân sẽ thả cá giống tương ứng
với mùa vụ lúa.Mực nước trong ruộng phụ thuộc vào
giai đoạn phát triển của lúa. Khi lúa lớn đến đâu, nâng
mực nước cao nhất có thể để cá lên ruộng lúa tìmmồi.
Sau khi thu hoạch lúa, nếu thấy cá chưa đủ kích cỡ,
thì nông dân sẽ bơm nước thêm vào ruộng, để cá lên
trảng ăn những hạt lúa rơi rụng, kết hợp với bổ sung
thêm thức ăn (thức ăn chủ yếu là ốc bươu vàng) chờ cá
lớn thêm sẽ thu hoạch.Mô hình này ngoài việc kiếm
thêm thu nhập, còn nhờ cá diệt được mầm mống sâu
bệnh và để lại phân, phù sa trên đồng có lợi cho vụ
sau.
Mô hình nuôi cá trong ruộng lúa góp phần thay đổi
tập quán độc canh cây lúa của nông dân. Không chỉ
hạn chế được dịch bệnh trên lúa, mô hình nuôi cá còn
nhắc nhở nông dân hạn chế dùng thuốc hóa học, giảm
810
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):802-813
ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, nuôi cá trong ruộng
lúa sẽ làm đất luôn tơi xốp. Lượng phân cá thải trên
ruộng lúa làm giảm chi phí phân bón và góp phần làm
tăng năng suất lúa trong vụ nuôi.
Tri thức về phòng và chữa bệnh trên vật
nuôi
Cũng như chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cũng chú
trọng phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.
Việc nuôi thủy sản trong môi trường nước luôn tiềm
ẩn những nguy cơ gây bệnh, dịch bệnh khi bùng phát
sẽ nhanh và khó kiểm soát hơn. Do đó, cách tốt nhất
là trước khi nuôi, nông dân sẽ vệ sinh ao nuôi thật
sạch, diệtmọimầmbệnh và nguy cơ có thể ảnh hưởng
đến vụ nuôi. Trong quá trình nuôi cho đến lúc thu
hoạch, nông dân cũng thường xuyên kiểm tra ao nuôi
để phát hiện những dấu hiệu bất thường và kịp thời
xử lý như theo chia sẻ “Gia đình tôi mở rộng diện tích
ao lắng đến nay là lần thứ 3 rồi, diện tích ngày càng
mở rộng, tôi sử dụng nguồn nước sau khi nuôi để lắng
lại cho kỳ nuôi mới, qua đó thấy hiệu quả hơn vì hiện
tại nguồn nước ở đây bị ô nhiễm nhiều từ ảnh hưởng
của cống đập Ba Lai”h.
Một số bệnh thường gặp ở tôm cá và cách dân gian
trong phòng ngừa của nông dân bên cạnh thuốc thú y
là sử dụng cây cỏ quanh nhà. Với đặc tính chữa bệnh,
những loại cây có này có tác dụng không thua kém so
với những loại thuốc đặc trị trên thị trường. Để trị
bệnh gan tụy, nông dân dùng lá mật gấu và cây chó
đẻ, đun sôi lấy nước trộn vào thức ăn cho tôm cá ăn
định kỳ.Để trị bệnh đường ruột, nông dân dùng trái
cao kiểng và lámù u cho vào nồi đun sôi lấy nước trộn
vào thức ăn cho tôm cá ăn định kỳ.Để tăng cường sức
kháng sinh của tôm cá, nông dân lấy tỏi băm nhuyễn
trộn vào thức ăn cho tôm cá ăn định kỳ. Nông dân
cũng cho biết “Nếu tui nhìn thấy chim sà xuống gắp
thức ăn ở những khu nuôi tôm của tui thì tui phải cho
tháo tôm bán ngay để không bị mất giá”i.
KẾT LUẬN
Hoạt động kinh tế của ngườiViệt ởĐBSCL khá phong
phú, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Với chăn
nuôi gia súc, đối tượng chủ yếu là bò, heo, dê. Với
chăn nuôi gia cầm, đối tượng chủ yếu là gà, vịt. Với
nuôi trồng thủy sản, đối tượng chủ yếu là tôm, cá.
Trong mỗi đối tượng chăn nuôi, nông dân có những
tri thức liên quan đến (1) chọn giống, (2) phương thức
nuôi và (3) phòng và điều trị bệnh.
hPhỏng vấn sâu nông dân Bến Tre (nam, 53 tuổi, nuôi tôm thâm
canh)
iPhỏng vấn sâu nông dân Bến Tre (nam, 62 tuổi, nuôi tôm công
nghiệp)
Trong chăn nuôi gia súc, nông dân lựa chọn những
giống lai giữa giống nội địa và ngoại nhập để tận dụng
ưu thế lai với những tính trạng tốt với phương thức
nuôi sinh thái như cho ăn thức ăn xanh, uống nước
sạch, chất thải để nuôi cá và bón cho cây trồng. Trong
chăn nuôi gia cầm, nông dân cũng có những kinh
nghiệm riêng trong chọn giống dựa vào ngoại hình
(loại lấy thịt và lấy trứng) với phương thức nuôi chăn
thả vườn (đối với gà) hoặc chạy đồng kết hợp trồng
lúa (đối với vịt) để tận dùng nguồn thức ăn trong tự
nhiên cũng như để vật nuôi tích cực vận động. Để
phòng và trị bệnh, theo phương châm “phòng bệnh
hơn trị bệnh” và nguyên lý “cây cỏ quanh ta đều có thể
trị bệnh”, nông dân tích cực vệ sinh môi trường nuôi
bằng vôi sống, phát quang, khai thông cống rãnhvà
sử dụng một số loại cây có có vị thuốc để trị bệnh cho
vật nuôi.
Trong nuôi trồng thủy sản, nông dân chọn vật nuôi
theo từng vùng sinh thái mặn, ngọt, lợ. Thức ăn chủ
yếu là nguồn phụ phẩm từ nông nghiệp với phương
thức nuôi kết hợp nhưmô hình cá-tôm, mô hình lúa-
cá, mô hình lúa-tômnhằm tận dụng đầu ra của loại
này làm đầu vào cho loại khác vừa tiết kiệm chi phí
vừa bảo vệmôi trường. Việc phòng trị bệnh cũng theo
phương châm và nguyên lý như chăn nuôi, cũng tận
dụng những gì thuộc về thiên nhiên, dựa vào thiên
nhiên để điều trị cho vật nuôi.
Những tri thức bản địa trong chăn nuôi và nuôi trồng
thủy sản của cư dân Việt, mặc dù khó nhận biết và
cũng mất mát khá nhiều theo thời gian nhưng lại có
vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nông dân thích
ứng với những biến đổi môi trường hiện nay và việc
phổ biến lại rộng rãi những tri thức này có thể cải
thiện và giảm thiểu suy thoái môi trường ở đồng bằng
trong tương lai.
LỜI CÁMƠN
Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) trong khuôn khổ
đề tài mã C2018-18b-10
TUYÊN BỐ XUNGĐỘT LỢI ÍCH
Bản thảo này không có xung đột lợi ích.
TUYÊN BỐĐÓNGGÓP CỦA TÁC GIẢ
Đồng Bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng nhiều của
hạn hán, xâm nhập mặn và dịch bệnh từ chăn nuôi,
nơi quy tụ tộc người Việt với phương thức chăn nuôi
lâu đời và suất khẩu thủy sản vào bậc nhất của đất
nước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu những năn gần
đây, việc nghiên cứu những kinh nghiệm địa phương
cho canh tác, sản suất rất cần thiết. Bài báo cho kết
quả về tri thức bản địa của người Việt trong chăn nuôi
811
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):802-813
và nuôi trồng thủy sản đáp ứng cho nhu cầu hiện tại.
Khi người Việt càng gặp nhiều khó khăn trong chăn
nuôi và nuôi trồng thủy sản do dịch bệnh họ càng chú
ý phát huy tri thức bản địa để thích ứng.
TÀI LIỆU THAMKHẢO
1. Emery AR, Patten L. Guidelines for Environmental Assess-
ments and Traditional Knowledge. A Report from the Centre
for Traditional Knowledge to theWorld Council of Indigenous
People, Ottawa, Canada. 1997;.
2. Lệ NV, Thu HN, Lan NTP. Tri thức bản địa của các tộc người
thiểu số ở Đông Nam Bộ trong tiến trình phát triển xã hội ở
Việt Nam. Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật. 2016;.
3. Tý HX, Cúc LT. Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong
nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiê. Hà Nội: Nhà
xuất bản nông nghiệp. 1998;p. 13.
4. Lệ NV, Thu HN. Tri thức bản địa của các tộc người thiểu số
tại chỗ ở Đắc Nông. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.HCM.
2017;.
5. Hoan PQ. Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam; in trong: Dân tộc học Việt Nam thế kỷ XX và những
năm đầu thế kỷ XXI. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
2003;p. 87.
6. ThịnhND. Tri thứcdângianvàphát triển. Tạp chí Vănhóanghệ
thuật. 1995;9:70 –72.
7. Giang VT. Tri thức bản địa. Tạp Chí Khoa Học Xã Hội Việt Nam.
2012;(6):55–66.
8. Bình T. Tri thức địa phương - tiềm lực phát triển đất nước. Báo
Nhân dân . 1999;.
9. Sen VV, Dốp PV. Văn hóa vùng, văn hóa tộc người và sự
phát triển kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long.
VNH3.TB16.117 . 2010;.
10. Mai NN, Nam MV. Hiệu quả chăn nuôi gia cầm ở Đồng Bằng
Sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ. ; . 2010;p.
34–43.
11. Howes M, Chambers R. Indigenous technical knowledge:
Analysis, implications and issues. IDS Bulletin. 1979;10(2):5–
11. Available from: https://doi.org/10.1111/j.1759-5436.1979.
mp10002002.x.
12. Mcelwee P. Việt Nam có ”tri thức bản địa” không? Hội thảo
Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: những
cách tiếp cận nhân học. Quyển 1. TP.HCM: NXB. Đại học quốc
gia TP.HCM. 2010;.
13. Thịnh ND. Thế giới quan bản địa. Tạp chí Văn hóa dân gian.
2004;(4):3–15.
14. Warren DM. Using indigenous knowledge in agricultural de-
velopment. World Bank Discussion. 1991;.
15. Khánh TC, Ơn TV. Tri thức bản địa trong chăm sóc sức khỏe.
Hội thảo ”Tri thức bản địa”. 2005;.
16. ThiệuND. Một số vấn đề văn hóa với sự phát triển ở Việt Nam -
Lào - Campuchia. HàNội: Nhà xuất bảnKhoahọc xãhội. 1999;.
17. Mạnh NH. Tri thức bản địa trong việc canh tác nương rẫy của
người Sila, huyệnMườngTè, tỉnh Lai Châu (TrườnghợpXãCan
Hổ). Hội văn nghệ dân gian Việt Nam. 2016;.
18. Grenier L. Working with indigenous knowledge: A guide
for researchers. Canada: The International Development Re-
search Centre (IDRC). 1998;.
19. Ehlert J. Living with flood local knowledge in the Mekong
Delta, Vietnam. Doctor thesis. The University of Bonn. Inter-
national graduate school for development research. 2011;.
20. Phú PX, Đệ NN, Trân NTB. Kiến thức bản địa: Hiện trạng, ứng
dụng trong sản xuất và đời sống ở tỉnh An Giang. Tạp chí
Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 2019;55(1):68–78. Avail-
able from: https://doi.org/10.22144/ctu.jsi.2019.113.
21. Tuấn LA. ĐBSCL: Từ sống chung với lũ đến sống chung với
biến đổi khí hậu. Hội thảo Quốc tế về Giải pháp Thích nghi với
Biến đổi Khí hậu vùngĐồngbằng SôngCửu Long, KiênGiang.
2010;.
22. Lệ NV. Tri thức bản địa của các tộc người thiểu số - nhìn từ
nguồn lực phát triển (Trườnghợp vùngĐôngNamBộ). Kỷ yếu
Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ tư;.
812
Science & Technology Development Journal – Social Sciences & Humanities, 4(4):802-813
Open Access Full Text Article Research Article
The University of Social Sciences and
Humanities, VNU-HCM
Correspondence
Ngo Thi Thu Trang, The University of
Social Sciences and Humanities,
VNU-HCM
Email: thutrangnt@hcmussh.edu.vn
History
Received: 9/04/2020
Accepted: 31/12/2020
Published: 15/1/2021
DOI : 10.32508/stdjssh.v4i4.629
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Indigenous knowledge in Vietnamese animal husbandry in the
Mekong Delta
Ngo Thi Thu Trang*
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
ABSTRACT
Indigenous knowledge is an extremely valuable asset in the process of adapting to nature in dif-
ferent areas. Vietnamese residents in the Mekong Delta during the development of cultivation
activities have accumulated a lot of folk experiences, creating a large amount of indigenous knowl-
edge in daily life and farming production. This knowledge has supported the Vietnamese people
to adapt to exist for several hundred years. The Mekong Delta is a land affected by natural disasters
and epidemics, showing that the need to learn about indigenous knowledge for livelihood adap-
tation overthere is very necessary. To understand the indigenous knowledge in Vietnamese animal
husbandry in the Mekong Delta, the author mainly uses a participatory survey method with 10 in-
depth interviews related to current production models, seasonal calendar, production experience,
etc. and to indigenous knowledgewhich has been and is being locally applied in the floodplain (An
Giang), brackish and saltywaters (Ben Tre). From the collected results, combinedwith the grounded
theory from secondary data, the author does the synthesizing and analyzing to produce comments
related to the result which is the indigenous knowledge of the Vietnamese in animal husbandry,
cattle, poultry, and aquaculture.
Key words: Indigenous knowledge, animal husbandry, aquaculture, Vietnamese
Cite this article : Trang N T T. Indigenous knowledge in Vietnamese animal husbandry in the Mekong
Delta. Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.; 4(4):802-813.
813
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tri_thuc_ban_dia_trong_chan_nuoi_cua_nguoi_viet_o_dong_bang.pdf