KẾT LUẬN
Hoạt động kinh tế của người Việt ở ĐBSCL khá phong
phú, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Với trồng
trọt, người Việt Việt lựa chọn cây lúa là cây trồng
chính, bên cạnh đó là các loại cây ăn quả nhiệt đới
như cam, quýt, chôm chôm, nhãn, vú sữa ; cây công
nghiệp như dừa, đậu nành ; rau màu: dưa leo, bầu,
bí, dưa hấu. Những tri thức bản địa của người Việt
Việt trong trồng trọt tập trung chủ yếu vào (1) sử dụng
và quản lý đất đai, (2) phương thức canh tác và (3)
phòng trừ sâu bệnh hại.
Trong sử dụng và quản lý đất đai, ứng với từng nhóm
đất (đất mặn, đất phèn, đất phù sa) người Việt có
những loại cây trồng tương ứng, có những phương
pháp cải tạo tương ứng. Trong phương thức canh tác,
những lối canh tác luân canh, đa canh được người Việt
áp dụng nhiều để tận dụng nguồn tài nguyên đầu vào
và cũng như giảm thiểu rủi ro khi vụ canh tác chính
mất mùa. Trong phòng trừ sâu bệnh hại, một số người
Việt vẫn còn duy trì và một số người Việt khác tái sử
dụng thiên địch như một phương thức tận dụng thiên
nhiên, dựa vào thiên nhiên trong sản xuất.
Những tri thức bản địa trong trồng trọt của cư dân
Việt, mặc dù khó nhận biết và cũng mất mát khá nhiều
theo thời gian cùng với những biến đổi do tác động
của một số yếu tố nhưng lại có vai trò quan trọng
trong việc hỗ trợ người Việt thích ứng với những biến
đổi môi trường hiện nay và việc phổ biến lại rộng rãi
những tri thức này có thể cải thiện và giảm thiểu suy
thoái môi trường ở đồng bằng trong tương lai.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tri thức bản địa về trồng trọt của người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):613-621
Open Access Full Text Article Bài Nghiên cứu
Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, ĐHQG-HCM
Liên hệ
Ngô Thị Thu Trang, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
Email: thutrangnt@hcmussh.edu.vn
Lịch sử
Ngày nhận: 24/3/2020
Ngày chấp nhận: 31/7/2020
Ngày đăng: 17/10/2020
DOI :10.32508/stdjssh.v4i4.579
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Tri thức bản địa về trồng trọt của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu
Long
Ngô Thị Thu Trang*
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
TÓM TẮT
Tri thức bản địa là toàn bộ những hiểu biết kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường tự
nhiên và xã hội ở những địa phương, những khu vực cụ thể được tích lũy, thực hành, chọn lọc và
trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cư dân Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long trong suốt
quá trình phát triển các hoạt động trồng trọt đã tích lũy khá nhiều kinh nghiệm dân gian, đã sáng
tạo ra một khối lượng lớn tri thức bản địa trong đời sống sinh hoạt và sản xuất. Những tri thức
này đã hỗ trợ cho người Việt thích ứng để tồn tại trong suốt mấy trăm năm. Tuy vậy, qua thời gian
cùng với sự tác động mạnh mẽ của tri thức khoa học, những tri thức bản địa ngày nay không còn
và không áp dụng nhiều như trước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng mạnhmẽ, việc tìm
hiểu và đánh giá lại đúng giá trị của những tri thức này, bên cạnh lưu giữ còn đóng góp cho hàm
ý chính sách trong những chiến lược thích ứng với biến đổi môi trường trong thời gian tới. Với
hướng tiếp cận liên ngành địa lý và nhân học, bằng phương pháp điền dã dài ngày, những buổi
làm việc trực tiếp với nông hộ, thảo luận nhóm và 10 cuộc phỏng vấn sâu đã được thực hiện về
các vấn đề liên quan đến mô hình sản xuất hiện tại, kinh nghiệm sản xuất, những tri thức bản địa
đã và đang được áp dụng tại vùng ngập lũ với đại diện là An Giang và Hậu Giang, tác giả đã hệ
thống lại tri thức bản địa của người Việt về trồng trọtđể thích ứng tốt hơn với tự nhiên.
Từ khoá: Tri thức bản địa, sinh kế trồng trọt, người Việt, ĐBSCL
DẪNNHẬP
Tri thức bản địa là những kiến thức mang tính địa
phương thuộc về một cộng đồng tộc người nhất định
trong quá trình thích nghi và khai thác môi trường
tự nhiên. Những tri thức này được truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác trong cộng đồng và cũng có khi
cộng đồng khác tiếp nhận trong quá trình giao lưu văn
hóa. Hình thức truyền đạt chủ yếu là truyền miệng,
thực hành làm theo, ít được ghi chép bằng văn bản.
Những tri thức này là nền tảng để duy trì đời sống vật
chất và tinh thần của cộng đồng liên quan đến hầu hết
các khía cạnh của sản xuất, của chăm sóc sức khỏe,
của sinh hoạt, của giáo dụcTuy vậy, một thực trạng
nghiêm trọng là nhiều tri thức bản địa đang mất dần
và cũng với sựmấtmát này là những kiến thức về cách
sống bền vững.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vùng đất của sự
trù phú về tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện tự
nhiên lẫn kinh tế-xã hội đã được cư dân trong vùng
khai thác và thích ứng1 để thúc đẩy một nền sản xuất
lớn đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực quốc gia và
đáp ứng xuất khẩu. Kể từ thời khai hoang mở cõi
cho đến hôm nay, cư dân đồng bằng, cụ thể là cư dân
Việt đã sáng tạo ra một khối lượng lớn tri thức bản
địa trong đời sống sinh hoạt và sản xuất. Những tri
thức này đã hỗ trợ cho người Việt thích ứng để tồn
tại trong suốt mấy trăm năm. Tuy vậy, qua thời gian
cùng với sự tác động mạnh mẽ của tri thức khoa học,
những tri thức bản địa ngày nay không còn và không
áp dụng nhiều như trước. Đồng thời, hoạt động khai
thác của con người trong những năm qua đã đặt đồng
bằng đứng trước nguy cơ của một cuộc khủng hoảng
sinh thái.
Trên cơ sở đó, bài viết được thực hiện nhằmmục đích
hệ thống hóa các tri thức bản địa liên quan đến trồng
trọt tại ĐBSCL đã và đang được áp dụng bởi nông
dân địa phương. Từ việc phân tích đó, bài viết hướng
đến việc đóng góp cho hàm ý chính sách trong những
chiến lược phát triển bền vững đồng bằng trong thời
gian tới.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Mỗi tộc người trong các giai đoạn phát triển khác
nhau đều lưu giữ những kinh nghiệm về về môi
trường cư trú và được gọi là tri thức bản địa 2. Thuật
ngữ tri thức bản địa có liên quan đến một số thuật
ngữ như: tri thức dân gian (folk knowlegde), tri thức
truyền thống (traditional knowledge), tri thức địa
phương (local knowledge) và được sử dụng lần đầu
tiên bởi Howes và Chambers3. Nghiên cứu về tri thức
Trích dẫn bài báo này: Trang N T T. Tri thức bản địa về trồng trọt của người Việt ở Đồng bằng sông
Cửu Long. Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.; 4(4):613-621.
613
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):613-621
bảnđịa qua các thời kỳ với việc địnhnghĩa tri thức bản
địa là một công việc đầy thách thức 4.
Tri thức địa phương hay còn gọi là tri thức bản địa là
hệ thống tri thức của các cộng đồng dân cư bản địa
ở các quy mô lãnh thổ khác nhau, được hình thành
trong quá trình lịch sử lâu đời, qua kinh nghiệm ứng
xử với môi trường xã hội, được định hình dưới nhiều
dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời
khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành
xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn và điều hòa
các quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người và thiên
nhiên5.
Tri thức bản địa là toàn bộ những hiểu biết của con
người về tự nhiên, xã hội và bản thân, hình thành
và tích luỹ trong quá trình lịch sử lâu dài của cộng
đồng, thông qua trải nghiệm trong quá trình sản xuất,
quan hệ xã hội và thích ứng môi trường. Nó tồn tại
dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này
sang đời khác bằng trí nhớ và thực hành xã hội6 bao
gồm rất nhiều lĩnh vực liên quan đến sản xuất, phong
tục, tập quán, tín ngưỡng, tổ chức cộng đồng hình
thành trong quá trình sống và lao động của cả cộng
đồngđược lưu giữ bằng trí nhớ và lưu truyền bằng
miệng7.
Tri thức bản địa là khối kiến thức được tích lũy từ các
tập quán được duy trì và phát triển trong quá trình
tương tác với môi trường tự nhiên. Tri thức này là
cơ sở cho việc ra quyết định về nhiều khía cạnh cơ
bản của cuộc sống hàng ngàysăn bắn, đánh cá, hái
lượm, nông nghiệp và chăn nuôi; chuẩn bị thức ăn,
bảo tồn và phân phối thức ăn, xác định vị trí, lấy nước
và dự trữ nước; đấu tranh chống lại bệnh tật và thương
vong; giải nghĩa các hiện tượng thời tiết và khí tượng;
sản xuất các công cụ và quần áo; xây dựng và bảo
dưỡng nhà ở; định hướng và đi lại trên đất liền và
biển; quản lý các mối quan hệ sinh thái của xã hội và
tự nhiên, thích nghi với các thay đổi về môi trường,
xã hội4.
Tri thức bản địa là những hệ thống tri thức và thực
nghiệm được phát triển qua nhiều thế hệ trong một
lĩnh vực cụ thể tới một nền văn hóa chuyên biệt8 phù
hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội9 và tồn tại
trong từng điều kiện môi trường cụ thể10. Tri thức
này tồn tại và phát triển dưới các điều kiện cụ thể của
những người dân bản địa trong một khu vực địa lý
nhất định11. Theo Bùi Hoài Sơn “trong một quốc gia,
nhiều khi những tộc người thiểu số được gọi là bản
địa. Trên phạmvi toàn cầu, đôi khi người ta gọi những
dân tộc có lịch sử sinh sống lâu đời trên một vùng đất
là dân tộc bản địa. Như vậy, ngườiViệt có thể được coi
là dân bản địa ở phương diện thế giới, nhưng không
được coi là dân tộc bàn địa trong phạm vi quốc gia”12.
Khái niệm “cư dân bản địa” hay “tộc người bản địa”
phải đặt trong những trường hợp cụ thể và tại một
địa bàn cụ thể9.
Sự phát triển của hệ thống kiến thức bản địa trong tất
cả các khía cạnh của cuộc sống, kể cả việc quản lýmôi
trường tự nhiên, từ lâu đã là một vấn đề sống còn đối
với những con người đã sáng tạo ra chúng. Các hệ
thống kiến thức bản địa cũng có tính động, kiến thức
mới liên tục được bổ sung và cũng sẽ tiếp nhận, sử
dụng, thích nghi với kiến thức bên ngoài nhằm phù
hợp với điều kiện của địa phương13.
Theo Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc14 tri thức bản
địa có một số đặc điểm như sau:
- Tri thức bản địa được hình thành và biến đổi liên tục
qua các thế hệ trong một cộng đồng địa phương nhất
định. Bởi vì, tri thức bản địa là sản phẩm được tạo ra
trong quá trình lao động sản xuất của toàn cộng đồng.
Theo thời gian, những kinh nghiệm truyền thống này
được biến cải để ngày càng hoàn thiện hơn, nghĩa là
có hiệu quả thích ứng cao hơn đối với các thay đổimôi
trường tự nhiên và kinh tế-xã hội.
- Tri thức bản địa có khả năng thích ứng cao với môi
trường riêng của từng địa phương-nơi hình thành và
phát triển tri thức đó. Môi trường tự nhiên ở đây bao
gồm cấu tạo thổ nhưỡng, đất đai khí hậu, thảm thực
vật, các loài động vật, sông ngòi. Những điều kiện tự
nhiên này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế, đến
tổ chức đời sống, đến việc thuần dưỡng các cây trồng
vật nuôi Do được hình thành tại địa phương, hoặc
được du nhập rồi cải biến nhiều lần để phù hợp với
thiên nhiên và tập quán xã hội nên kiến thức bản địa
thích ứng tốt với địa bàn cư trú của cộng đồng. Đây là
đặc điểm quan trọng mà kiến thức kỹ thuật bên ngoài
không có được.
- Tri thức bản địa do toàn thể cộng đồng sáng tạo ra
qua lao động trực tiếp, đúc kết kinh nghiệm về tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngược lại với kiến
thức hàn lâm chỉ do một hoặc một nhóm người sáng
tạo ra, tri thức bản địa hình thành một cách tự nhiên
trong quá trình lao động của toàn thể cộng đồng. tuy
nhiên, mỗi cộng đồng có những thếmạnh riêng trong
từng lĩnh vực.
- Tri thức bản địa được lưu giữ bằng trí nhớ và truyền
bá từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng và
thực hành văn hóa. Đây là điểm khác biệt so với kiến
thức khoa học và thường gây khó khăn cho những
người nghiên cứu về tri thức bảnđịa, đặc biệt là những
người ngoài cộng đồng, không cùng văn hóa và ngôn
ngữ.
- Tri thức bản địa luôn gắn liền và hòa hợp với nền văn
hóa và tập tục địa phương; vì vậy, khả năng tiếp thu,
ứng dụng trong cộng đồng là rất dễ dàng. Trong thực
tế, nhiều người dân không chấp nhận thực hiện các
614
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):613-621
khoa học-kỹ thuật vì không phù hợp với hoàn cảnh
địa phương.
- Tri thức bản địa có giá trị cao trong việc xây dựng
các mô hình phát triển nông thôn bền vững theo hướng
người dân tham gia và ít tốn kém. Một số nghiên cứu
đã xem tri thức bản địa là cơ sở đề xuất các chương
trình phát triển trong các lĩnh vực của sản xuất và đời
sống ở nông thôn vì tính hiệu quả về tài chính và triển
vọng thành công.
- Tri thức bản địa có tính đa dạng cao. Vì tri thức bản
địa được hình thành trong những điều kiện tự nhiên
khác nhau và được mọi thành viên trong cộng đồng
sáng tạo nên sự khác biệt về giới tính, tuổi tác, nhận
thức, kỹ năng, kinh nghiệm đã làm cho hệ thống tri
thức bản địa của cộng đồng hết sức phong phú.
Tri thức bản địa trong trồng trọt là một trong 05 lĩnh
vực 1) Tri thức về trồng trọt; 2) Tri thức về chăn nuôi;
3) Tri thức về quản lý rừng và tài nguyên cộng đồng;
4) Tri thức về dinh dưỡng và sức khoẻ con người;
5) Tri thức về tổ chức cộng đồng và truyền thụ kinh
nghiệm cho con cháu14. Chung quy, tri thức bản địa
là toàn bộ những hiểu biết kinh nghiệm ứng xử của
con người với môi trường tự nhiên và xã hội ở những
địa phương, những khu vực cụ thể được tích lũy, thực
hành, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác, được bổ sung và phát triển trong đời sống9.
Nhiều nghiên cứu nhận ra rằng, muốn phát triển kinh
tế-xã hội nếu chỉ dựa vào khoa học hiện đại thì không
đủ, mà phải bổ sung bằng các tri thức bản địa và kết
hợp hai loại tri thức đó cho sự phát triển.
LƯỢC SỬNGHIÊN CỨU
Các nghiên cứu về tri thức bản địa ở Việt Nam tập
trung chủ yếu vào các nhómdân tộc thiểu số tại Trung
du miền núi phía Bắc, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên,
Duyên hải miền Trung. Các nghiên cứu về tri thức
bản địa tại ĐBSCL hầu như rất ít, đặc biệt là tri thức
bản địa của người Việt. Một số nghiên cứu tại khu vực
này có thể kể đến như:
Nghiên cứu của Judith Ehlert15 tập trung vào tri thức
địa phương liên quan đến tài nguyên nước bởi vì nước
và lũ lụttheo mùa ở ĐBSCL tạo ra nguồn tài nguyên
quan trọng nhất cho hoạt độngsinh kếdựa vào nông
nghiệp và nuôi trồng thủy sản đa dạng trong khu vực.
Kể từ khi có sự tự do hóa kinh tế vào giữa những năm
1980, đồng bằng sông Cửu Long đã có sự phát triển
kinhtế mạnh mẽ nhờvào thâm canh nông nghiệp, sự
phong phú nguồn tài nguyên nước ngọt theo mùa và
sự đầu tư lớn cho kiểm soát tưới tiêu và lũ lụt. Dữ liệu
của nghiên cứu được thu thập trongmột năm thực địa
dân tộc học ở hai huyện (ba xã) của TP. CầnThơ. Kết
quả nghiên cứu cho thấy những tri thức bản địa liên
quan đến lũ rất cần thiết để tham gia vào các quyết
định liên quan đến quản lý lũ và tài nguyên nước của
người dân. Mặc dù tri thức khoa học phát triển mạnh
nhưng để đảm bảo phát triển bền vững thì tri thức
bản địa vẫn cần được lưu giữ và trao truyền.
Nghiên cứu của Phạm Xuân Phú, Nguyễn Ngọc Đệ
và Ngô Thụy Bảo Trân16 nhằm tìm hiểu hiện trạng
và mức độ tin cậy ứng dụng kiến thức bản địa thích
nghi với lũ lụt trong sản xuất và đời sống của nông
dân ở tỉnh An Giang.Kết quả nghiên cứu đã tổng hợp
được 39 kiến thức bản địa và khả năng thích ứng với
lũ lụt, dự báo thời tiết trong hoạt động sản xuất nông
nghiệp và đời sống của người dân địa phương ở địa
bàn nghiên cứu vẫn được nông dân duy trì sử dụng
trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, những kiến thức
này chưa được ghi chép cụ thể và lưu trữ phù hợp để
truyền lại cho các hệ sau và chia sẻ rộng rãi trong cộng
đồng. Bên cạnh đó, cũng có một số kiến thức bản địa
của người dân không còn phù hợp với bối cảnh biến
đổi khí hậu hiện nay. Chính vì vậy, các giải pháp bảo
tồn, phát huy, điều chỉnh nhóm kiến thức địa phương
này cũng được nhóm nghiên cứu nêu ra.
Nhìn chung, các nghiên cứu về tri thức bản địa tại
ĐBSCL chủ yếu là các tri thức liên quan đến hiện
tượng ngập lũ và ứng phó với ngập lũ là chủ yếu. Các
khía cạnh khác của tri thức bản địa vẫn chưa được
nhiều tác giả đề cập, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất
như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản... Do
vậy, bài viết này được thực hiện nhằm tiếp nối và bổ
sung vào những thiếu hụt này.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu sơ cấp
- Lựa chọn địa bàn nghiên cứu
Theo Lê Anh Tuấn17, ĐBSCL được thành các vùng
sinh thái như vùng ngập lũ bao gồm các tỉnh thuộc
vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười, vùng
nước ngọt gồm các tỉnh ven sông Tiền, sông Hậu,
vùng nước lợ và mặn gồm các tỉnh duyên hải phía
đông, bán đảo Cà Mau. Theo đó, bài viết sẽ tập trung
vào khu vực vùng ngập lũ và địa phương điển hình
là An Giang (TX. Tân Châu, xã Vĩnh Xương) và Hậu
Giang (huyện Phụng Hiệp, xã Phụng Hiệp).
- Phương pháp thu thập
Tại hai địa phương điển cứu là An Giang vào đầu
tháng 7 (ngày 1-10) và Hậu Giang vào cuối tháng 7
(ngày 20-30), phương pháp điều tra xã hội với công cụ
phỏng vấn sâu được thực hiện. Nội dung phỏng vấn
liên quan đếnmô hình sản xuất hiện tại, kinh nghiệm
sản xuất, những tri thức bản địa đã và đang được áp
dụng tại địa phương.
- Tiêu chí chọn mẫu
615
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):613-621
Tại mỗi địa phương sẽ tiến hành phỏng vấn sâu với
các hộ nông dântiêu biểu tại văn phòng Hội nông dân
với số lượng từ5 hộ/địa phương. Tiêu chí lựa chọn
là những hộ trồng trọt (lúa, hoa màu, cây ăn trái...).
Những nông dân tham gia là những người có nhiều
năm kinh nghiệm trong canh tác (trên 15 năm).
Dữ liệu thứ cấp
Nguồn dữ liệu này được thu thập từ các bài viết đăng
tải trên tập san chuyên ngành, sách chuyên khảo về
nông học, dân tộc học, địa lý học
Phương pháp xử lý dữ liệu
Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp sau khi thu thập sẽ được
phân tích, tổng hợp để bổ sung các nội dung khảo sát
theo từng hợp phần của bài viết.
KẾT QUẢNGHIÊN CỨU
Tri thức về sử dụng và quản lý đất đai cho
trồng trọt
Đất đai ở ĐBSCL tương đối đa dạng, là kết quả của
quá trình tương tác giữa đá mẹ, khí hậu và thủy văn.
Nhìn chung, ở đây có các nhóm đất phù sa, nhóm đất
phèn, nhóm đất mặn, nhóm đất cát và theo kinh
nghiệm của người Việt thì việc phân loại cũng tương
tự như kiến thức trong thổ nhưỡng học.
Nhóm đất phèn là nhóm đất có diện tích lớn nhất ở
ĐBSCL, phân bố chủ yếu tại Tứ giác Long Xuyên và
Đồng Tháp Mười 18. Người Việt cho biết ở khu vực
ngập nước thường xuyên (tình trạng yếm khí) đất rất
dễ bị phèn hóa, “loại đất chua này khó canh tác lắm,
muốn mần lúa là phải làm đất kỹ dữ lắm không thôi
là lúa chết hết”a.
Nhóm đất phù salà nhóm đất có diện tích lớn thứ hai
ở ĐBSCL, phân bố dọc sông Tiền và sôngHậu18. Đây
là nhómđấtmàumỡ nhất, người Việt thường sử dụng
để trồng lúa. Theo người Việt cho biết “đất này rất tốt
mùa nước lên nó còn tốt thêm, chỉ cần cày sơ sơ rồi
mần lúa thôi chứ cũng không làm gì nhiều”b.
Nhóm đất mặn có diện tích đứng thứ ba sau đất phèn
và đất phù sa. Loại đất này chịu ảnh hưởng của xâm
nhập mặn trong mùa khô, thường được người Việt
sử dụng nuôi tôm và mùa mưa độ mặn giảm xuống
người Việt sẽ canh tác lúa.
Đối với việc nhận biết các loại đất tốt, đất khá tốt và
đất xấu, một số người Việt tham gia khảo sát cũng cho
biết như sau: Đất tốt trong kinh nghiệm của người
người Việt là “những đất nào mà có màu nâu sẫm, ít
có váng vàng thì đất đó mới tốt có thể trồng lúa nhiều
aPhỏng vấn sâunông dân ở An Giang (nam, 55 tuổi, trồng lúa)
bPhỏng vấn sâu nông dân ở An Giang (nam, 55 tuổi, trồng lúa)
vụ”c. Người Việt gọi loại đất này là đất bồi (nghĩa là
đất được bồi phù sa). Căn cứ vào các nhóm đất đã
phân tích ở trên thì đây là nhóm đất phù sa, phân
bố ở trung tâm đồng bằng. Đất khá tốt trong kinh
nghiệm của người Việt là những đất nào ít chua (tần
suất ngập lũ tương đối ít, không thường xuyên trong
tình trạng yếm khí), ít mặn (tần suất ngập triều tương
đối ít, có nước ngọt để tưới tiêu) và đất cát giồng. Còn
loại đất xấu thì người Việt cho rằng “loại đất nào mà
phèn nhiều, mặn nhiều khó cải tạo, trồng cây gì cũng
chết thì đó là đất xấu, nếu mua ruộng mà trúng mấy
mảnh như vậy là tiêu luôn”d.
Ởmột số khu vực tại AnGiang, HậuGiang, khi “tháng
bảy kiến bò” thì người Việt biết mùa lũ sắp đến, tận
dụng nước tràn vào ruộng vừa có tác dụng dọn sạch
những rơm rạ còn sót lại vừa bồi thêm phù sa cho
đất thêm màu mỡ. Theo người Việt cho biết “năm
nào nước càng sẫm màu thì năm đó phù sa về càng
nhiều”e. Song, đất phèn mới là loại đất chiếm diện
tích lớn nhất ở đồng bằng nên người Việt buộc phải
thích nghi và có những biện pháp cải tạo loại đất này
để canh tác, cụ thể là trồng lúa.
Theo chia sẻ củanông dân thì “tụi tôi sẽ đào đường
mương dẫn nước sông vào ruộng và giữ ở đó để ém
phèn ở tầm chừng sáu tấc đến một thướcf để hông có
hại lúa”g. Sau khi gặt lúa, nếu ruộng bị khô, người Việt
cày ải để cắt đứt mao dẫn, phèn vẫn bị giữ ở lớp dưới.
Ở những vùng phèn không trồng được lúa nước, chỉ
trồng được hoa màu, người người Việt lên liếp để lớp
đất trên liếp được cách ly với đất sinh phèn ở dưới,
đồng thời đào mương để lấy nước tưới cho cây trồng
trên liếp.
Ở khu vực ven sông Hậu (An Giang, Hậu Giang), vụ
đông-xuânngườiViệt sạ ngầmbằng cách khi nước rút
còn chừng hơn một tấc thì sẽ sạ giống đã ủ nẩy mầm
để khoảng 20 ngày sau cây mạ vươn khỏi mặt nước
nhờ vậy mà người Việt tiết kiệm được nhiều chi phí
cải tạo đất. Sang vụ hè-thu, người Việt chuyển sang
sạ khô bằng cách sắp đến mùa mua thì đốt sạch cò
dại, bừa một lần, cày hai lần rồi sạ khô và bừa lấp, hạt
sẽ nảy mầm vào đợt mua đầu mùa đến khi mà “lóng
phèn”h thì cây đã được 1-2 tháng tuổi đủ sức chống
chịu độc tố.
NgườiViệt quan niệm “đất có thổ công, sông có hà bá”
nênmọi việc sản xuất đều khấn lạy thổ công, sơn trạch
c Phỏng vấn sâu nông dân ở An Giang (nam, 59 tuổi, trồng lúa-
màu-cây ăn trái)
dPhỏng vấn sâu nông dân ở Hậu Giang (nam, 62 tuổi, trồng lúa)
ePhỏng vấn sâu nông dân ở An Giang (nam, 54 tuổi, trồng lúa).
fNghĩa là từ 60-100cm
gPhỏng vấn sâu nông dân ở Hậu Giang (nam, 46 tuổi, trồng lúa-
màu).
h“Lóng phèn” là hiện tượng tăng đột ngột các độc chất, gây nguy
hiểm cho cây trồng vào đầu mùa mưa ở vùng đát phèn.
616
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):613-621
để cầu mong một vụ mùa bội thu. Tuy vậy, khác với
người Khmer sợ việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu
sẽ làm ô uế đất đai, xúc phạm đến thần Đất thì người
Việt trong giai đoạn sản xuất hiện nay lại sử dụng khá
nhiều các loại phân hóa học và thuốc trừ sâu để bảo
vệ mảnh ruộng trước sự tấn công của nhiều loại sâu
bọ dịch bệnh.
Đối với việc sở hữu đất đai thì người Việt sở hữu theo
hình thức tư hữu nghĩa là mỗi gia đình sẽ cómột diện
tích đất nhất định được cấp sổ đỏ (nông dân gọi là
bằng phán) từ chính quyền địa phương. Quyền canh
tác thuộc về quyết định của mỗi gia đình, tuy nhiên
trên thực tế những mảnh ruộng gần nhau đều canh
tác cây trồng giống nhau ví dụ nếu xung quanh đều
trồng lúa thì nông hộ còn lại cũng sẽ trồng lúa. Điều
này phản ánh tính cố kết cộng đồng, như theo chia sẻ
“bây giờ người ta trồng lúa thì mình cũng trồng lúa
thôi chú, ai sao thì mình vậy đi”i.
Tri thức về phương thức canh tác
Khác với tộc người ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên,
người Việt ở ĐBSCL do chủ động được nước tưới và
có kiến thức về sử dụng phân bón nên họ không có
lối canh tác luân canh, trồng luân khoảnhmà định cư
định canh. Cây lúa là cây trồng chính của người Việt
với kiểu canh tác một vụ, hai vụ và ba vụ. Lối canh
tác này mặc dù mang đến sản lượng lớn lương thực
nhưng lại làm đất đai bạc màu, không có thời gian
nghỉ ngơi và phục hồi độ phì nhiêu.
Một số hình thức cấy lúa của người Việt Việt ở
ĐBSCL:
Lúa cấy một lần được áp dụng phổ biến ở vùng dưới
của châu thổ, chiếm 2/3 diện tích của ĐBSCL. Tùy
thuộc độ cao thấp của ruộng, mực nước trong mùa
canh tác mà người người Việt gieo giống lúa sớm, lúa
trung hay lúa muộn. Thường mạ gieo vào đầu mùa
mưa và thu hoạch vào tháng X với giống lúa sớm và
tháng I cho giống lùa muộn.
Lúa cấy hai lần được áp dụng ở vùng trung châu thổ,
trên địa bàn các tỉnhHậuGiang, Vĩnh Long, TràVinh,
nơi ruộng lúa thấp, không có điều kiện tiêu nước. Vào
đầu mùa mưa người Việt gieo mạ trên những ruộng
mạ chiếm khoảng 2% diện tích ruộng lúa. Mạ được
chăm sóc tại đây trong vòng 40-50 ngày. Khi ruộng
mạ thứ nhất bị ngập, mạ được chuyển đến ruộng mạ
thứ hai ở cao hơn, chiếm khoảng 20% diện tích ruộng
lúa. Mạ được nuôi ở đây khoảng 50-60 ngày cho đến
khi thân dài khoảng 0,7m thì đem cấy vào ruộng lúa.
Ởmột vài vùng khác người ta còn cấy lúa ba lần. Việc
cấy hai hoặc ba lần cốt làm chậm lại quá trình phát
triển của cây lúa trên nhữngmảnh đất cực kì giàu chất
iPhỏng vấn sâu nông dân ở An Giang (nam, 55 tuổi, trồng lúa).
hữu cơ, khắc phục tình trạng cây lúa nhiều lá ít hạt.
Cách cấy lúa hai lần là điểm độc đáo của đồng bằng
sông Cửu Long, trên thế giới không có nơi nào có.
Khi đốt ruộng để dọn vệ sinh cũng như cải thiện độ
phì nhiêu cho đất nhờ vào tro của rơm rạ, người Việt
Việt cũng có nhiều bài học kinh nghiệm. Thường
những đám ruộng sẽ được đốt vào sáng sớm khi mặt
trời chưa lên và sương còn đọng trên cây cối, đốt
ngược chiều gió từ bìa ruộng vào trong để rơm rạ cháy
từ từ, âm ỉ, không lan sang những mảnh ruộng khác.
Dựa vào kinh nghiệm thực tiễn người dân có thể biết
được lượng phù sa trên ruộng do lũ mang tới để tính
lượng phân bón cầndùng cho vụmùa tiếp theo. Ngoài
ra, kết quả tiên đoán mưa nhiều hay mưa ít còn được
kiểm chứng bằng các thông tin khác, như lũ kiến đen
tha trứng dời tổ từ đưới đất lên cao là có nguy cơ mưa
to nước ngập lâu; tháng Tưmà cá rô đồngmang trứng
thè lè là năm nay mưa sớm; hay nước đổ về từ thượng
nguồn trong tháng Bảy mà phù sa đỏ au là năm đó có
nguy cơ lụt lớn.
NgườiViệt có tục đặt bàn thờÔngThiên trước nhà với
vật phẩm cúng tế là gạo, nước và muối. Nước để cúng
là nước mưa trên rời rơi xuống chưa được chứa trong
bất kỳ thứ gì trước khi cho vào hũ và không được đậy
nắp. Dựa vào lượng nước có trong cái hũ sành này
mà người Việt tiên đoán cho thời tiết sắp tới. Nếu
mới đầu mùa mưa mà đã đầy nước thì năm đó sẽ có
mưa nhiều, nguy cơ gây ra ngập lụt là rất cao. Ngược
lại, nếu mới vào mùa khô mà hũ sành đã cạn nước,
thì mùa khô năm đó hạn hán sẽ xảy ra. Lượng nước
trong cái hũ sành làmột trong các cơ sở thông tin đáng
tin cậy nhất để người ta dự đoán là sắp tới sẽ có mưa
nhiều hay mưa ít. Sở dĩ gọi là đáng tin cậy nhất là vì
thông tin đó được tập hợp lại của rất nhiều gia đình
trong xóm. Rồi chúng được bàn bạc, so sánh giữa nhà
này với nhà kia, giữa nămnay với các nămđãqua, giữa
người già với người trẻ, nên nó đã giúp họ tiên đoán
được hiện tượng thay đổi thời tiết trong năm.Ví như
năm nào mưa nhiều thì nước sẽ ngập sâu, nên chọn
giống cao giàn; còn năm nào có hạn hán thì sẽ chọn
giống ngắn ngày để có thể thu hoạch sớm hơn.
Ðộc canh cây lúa liên tục trong nhiều năm đã bộc lộ
những yếu điểm như đất đai ngày càng bị suy kiệt,
kém màu mỡ, đồng ruộng mất cân bằng sinh thái,
sâu bệnh có điều kiện bộc phát gây hại, năng suất lúa
có khuynh hướng giảm dần... Chuyển đổi sản xuất ở
nhiều vùng sinh thái của ĐBSCL theo hướng phá thế
độc canh cây lúa, đưa cây màu xuống chân ruộng là
phương thức sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Phương thức canh tác này gọi là luân canh hoặc xen
canh.
Luân canh là một hệ thống canh tác trồng luân phiên
các loài cây trồng khác nhau theo thứ tự vòng tròn
617
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):613-621
nhất định trên cùngmộtmảnhđất, nhằm sửdụnghợp
lý nguồn nước, các chất dinh dưỡng có trong đất và
nguồn phân bón đưa vào đất để tạo ra năng suất cây
trồng cao nhất. Còn xen canh là hệ thống canh tác
trong xen kẽ giữa các giống cây trồng không có sự ảnh
hưởng khả năng sinh trường và năng suất lẫn nhau
nhằm tận dụng tối ưu nguồn nước, phân bón, diện
tích đất trống để tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Nông dân chọn cách thức luân canh và xen canh thay
vì chỉ trồng lúa trong năm thể hiện lối ứng xử theo
kiểu tạo ra những điều kiện sinh thái bất lợi cho dịch
hại, đặc biệt là tạo được sự gián đoạn về nguồn thức
ăn thích hợp đối với dịch hại ở các vụ (hoặc năm)
tiếp theo. Ví dụ các loài sâu bệnh chính hại lúa không
gây được các cây rau màu như dưa hấu hay cà chua,
khoai tây, ớt và ngược lai một số sâu bệnh gây hại
những loại cây trồng này cũng không gây hại trên cây
lúa. Vì vậy việc luân canh hay xen canh giữa lúa và
cây trồng kháctheo kiểu lúa-màu-lúa hoặc màu-lúa-
màu là phương thức canh tác có lợi để phòng trừ sâu
bệnh.Một số người Việt áp dụng khi được khảo sát
cho biết: “Cái mà mần lúa bị đạo ôn, sâu cuốn lá hại
thì kết hợp trồng rẫy hoặc vụ sau ngưng mần lúa thì
cũng đỡ sâu bệnh hơn”; “Cỏ tranh, cỏ gấu tưởng khó
diệt mà nếu trồng lúa thì nó cũng khó phát triển. Mà
nếu có cỏ lồng vực thì cây lúa cũng không phát triển
nổi, phải trồng thêm rau màu thì mới mong cuối vụ
thu hoạch được nhiều”j.
Tri thức về phòng trừ sâu bệnh hại trên cây
trồng
Thâm canh tăng vụ đã làm cho đất mất rất nhiều
dưỡng chất nhưng lại không có thời gian phục hồi,
đồng thời sức đề kháng của cây trồng cũng yếu đi
và sâu bệnh ngày một phát triển và khó tiêu diệt tạo
cho ra nhiều áp lực cho người Việt trong việc đồng
áng. Bên cạnh việc luân canh, xen canh cây trồng
để tăng thêm thu nhập, tác dụng của phương thức
canh tác này còn được xem như biện pháp phòng trừ
sâu bệnh.Trước khi sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu,
thuốc bảo vệ thực vật người Việt người Việt đã biết
đến việc sử dụng một số loại côn trùng để tiêu diệt
sâu bệnh hại và khi sử dụng phân thuốc trừ sâu nhiều
khu vực người Việt vẫn duy trì biện pháp sinh học
này. Những loại côn trùng gọi là thiên địch, vốn là
những sinh vật tự nhiên có ích, chúng ăn hoặc gây
bệnh những loài sâu bọ gây hại cho sản xuất nông
nghiệp. Mỗi hệ sinh thái nông nghiệp có những nhóm
thiên địch khác nhau, giữ vai trò quan trọng giúp hạn
chế sự phát triển của quần thể sâu gây hại. Nhìn chung
jPhỏng vấn sâu nông dân Hậu Giang (nam, 47 tuổi, trồng lúa-cây
ăn trái)
có 03 nhóm thiên địch: 1/ nhóm thiên địch ký sinh, 2/
nhóm thiên địch bắt mồi, 3/ nhóm thiên địch vi sinh
vật.
NhiềungườiViệtduy trì và phát triển nhiều chủng loại
trong quần thể thiên địch giúp cân bằng hệ sinh thái
góp phần kiềm chế dịch hại cho cây trồng. Một số loài
thiên địch được quan tâm có thể kể đếnmột số loại
thiên địch được sử dụng trong trồng trọt qua Bảng 1.
Ốc bươu vàng thường lây lan qua nguồn nước và tích
lũy số lượng gây hại trên các trà lúa giai đoạnmạ và đẻ
nhánh. Vì vậy, người Việt thường thu gom ốc, ổ trứng
bằng cách đào các rãnh nhỏ cặp theo bờ ruộng. Khi
rút nước, ốc sẽ tập trung vào các đường rãnh này và
người Việt thu bắt một cách dễ dàng. Trường hợp lấy
nước vào ruộng người Việt dùng lưới chắn ốc từ bên
ngoài “để chúng không có cơ hội phát tán gây hại cho
trà lúa”k.Trước khi làm đất, cần vệ sinh đồng ruộng,
dọn dẹp sạch cỏ dại là nơi ốc cư trú lây truyền sang vụ
sau. Người Việt nhốt vịt không cho ăn một ngày rồi
thả cho vịt vào ruộng, vịt sẽ mò bắt hết ốc nhỏ, trứng
trong ruộng. “Có thể sử dụng thức ăn như lá đu đủ, xơ
mít, lá khoai, súng... dẫn dụ tập trung ốc bươu vàng
để dễ thu gomhơn”l. Các loại lá bó thành từng bó để ở
góc ruộng, gần bờ; sau 12 - 24 giờ, dùng rổ, rá xúc lên
để bắt ốc. Ở nhiều nơi bà con dùng cây xương rồng,
cành lá đu đủ, lá thầu dầu, lá mướp, xơ mít, thân lá
khoai mì chặt thả xuống nước, nhựa cây dẫn dụ ốc
làm ốc say, nổi lênmực nước giúp thu nhặt ốc dễ dàng
hơn.
THẢO LUẬN
Quá trình khai phá vùng đất Tây NamBộ đã trải quan
hàng trăm năm. Trong suốt chiều dài lịch sử đó, nông
dân Việt đã tích lũy một khối lượng lớn tri thức bản
địa trên nhiều lĩnh vực liên quan đến hoạt động kinh
tế và đời sống xã hội. Tuy vậy, nông dân người Việt
chiếm đại đa số ở ĐBSCL nói riêng và cả nước nói
chung nên mức độ tiếp xúc với những nhân tố bên
ngoài ảnh hưởng đến sự biến đổi trong tri thức bản
địa (chủ yếu là sự mất mát và lãng quên).
Các biện pháp thủy lợi đã cải tạo phần lớn diện tích
đất phèn, đất mặn ở ĐBSCL để hỗ trợ nông dân thâm
canh tăng vụ (từ sản xuất một, hai vụ sang sản xuất
ba vụ) và nông dân hiện tại sử dụng rất nhiều phân
hóa học có chứa đạm, lân, kali để bổ sung dinh dưỡng
cho đất sau mỗi mùa vụ. Điều này đã làm cho đất đai
không có thời gian nghỉ ngơi và bị ô nhiễm nghiêm
trọng. Các biện pháp thủ công để cải tạo đất đã không
còn sử dụng mà thay thế vào đó là máy cày, máy xới.
Luân canh và xen canh được nông dân sử dụng ngày
càng nhiều, trở thành mô hình kinh tế nhân rộng ở
kPhỏng vấn sâu nông dânAnGiang (nam, 65 tuổi, trồng lúa-màu)
lPhỏng vấn sâu nông dânAnGiang (nam, 65 tuổi, trồng lúa-màu)
618
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):613-621
Bảng 1: Một số loại thiên địch được sử dụng trong trồng trọt
STT Loài thiên địch Tác dụng
1 Bọ rùa đỏ trên lúa Bọ rùa hoạt hoạt động vào ban ngày, tìm ăn bọ gầy, sâu non và trứng gầy
trên thân lúa.
2 Ong xanh trên lúa Ong cái đẻ trứng ký sinh vào trứng sâu đục thân để khi trứng ong nở ra thì
tiêu diệt và không cho sâu non ra đời.
3 Ruồi xám trên lúa Ruồi cái tìm đậu lên lưng và đẻ trứng ký sinh lên sâu cuốn lá lớn và khi
trứng nở thành giòi thì ăn thịt ký chủ.
4 Kiến vàng trên cây có múi Kiến vàng là loại côn trùng có thể tiêu diệt bệnh vàng lá gân xanh, ngoài
ra còn có sâu vẽ bùa, rầy mềm, nhện đỏ trên các loại cây trồng có múi.
Nguồn: Kết quả khảo sát 7/2019
nhiều địa phương ở đồng bằng. Lối canh tác không
còn kiểu tận dụng đầu vào dư thừa từ cây trồng chính
mà hiện nay đã chuyên nghiệp hơn từ khâu lựa chọn
cây trồng phối hợp, phương pháp chăm sóc (sử dụng
nhiều khoa học-kỹ thuật hơn).
Hiện nay, khi nói đến vấn đề phòng trừ sâu bệnh hại
cây trồng, hầu hết nông dân đều cho biết là sử dụng
phân hóa học thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật để
bảo vệ cây trồng và đảm bảo năng suất. Các biện pháp
sinh họcmà tiêu biểu là sử dụng thiên địch không còn
được áp dụng vì thứ nhất nông dân không còn biết
đến tri thức sử dụng thiên địch, thứ hai là việc sử dụng
phân thuốc quá nhiều đã giết chết các thiên địch và
phá vỡ chu trình chuỗi thức ăn, cân bằng sinh thái
trong tự nhiên.
KẾT LUẬN
Hoạt động kinh tế của ngườiViệt ởĐBSCL khá phong
phú, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Với trồng
trọt, người Việt Việt lựa chọn cây lúa là cây trồng
chính, bên cạnh đó là các loại cây ăn quả nhiệt đới
như cam, quýt, chôm chôm, nhãn, vú sữa; cây công
nghiệp như dừa, đậu nành; rau màu: dưa leo, bầu,
bí, dưa hấu... Những tri thức bản địa của người Việt
Việt trong trồng trọt tập trung chủ yếu vào (1) sử dụng
và quản lý đất đai, (2) phương thức canh tác và (3)
phòng trừ sâu bệnh hại.
Trong sử dụng và quản lý đất đai, ứng với từng nhóm
đất (đất mặn, đất phèn, đất phù sa) người Việt có
những loại cây trồng tương ứng, có những phương
pháp cải tạo tương ứng. Trong phương thức canh tác,
những lối canh tác luân canh, đa canhđượcngườiViệt
áp dụng nhiều để tận dụng nguồn tài nguyên đầu vào
và cũng như giảm thiểu rủi ro khi vụ canh tác chính
mấtmùa. Trong phòng trừ sâu bệnh hại, một số người
Việt vẫn còn duy trì và một số người Việt khác tái sử
dụng thiên địch nhưmột phương thức tận dụng thiên
nhiên, dựa vào thiên nhiên trong sản xuất.
Những tri thức bản địa trong trồng trọt của cư dân
Việt, mặc dù khónhận biết và cũngmấtmát khá nhiều
theo thời gian cùng với những biến đổi do tác động
của một số yếu tố nhưng lại có vai trò quan trọng
trong việc hỗ trợ người Việt thích ứng với những biến
đổi môi trường hiện nay và việc phổ biến lại rộng rãi
những tri thức này có thể cải thiện và giảm thiểu suy
thoái môi trường ở đồng bằng trong tương lai.
LỜI CÁMƠN
Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) trong khuôn khổ
Đề tài mã số B2018-18b-02.
TUYÊN BỐ XUNGĐỘT LỢI ÍCH
Bài viết này không có xung đột lợi ích.
TUYÊN BỐĐÓNGGÓP CỦA TÁC GIẢ
ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất cả nước, nơi quy tụ diện
tích trồng trọt cao và người dân có kinh nghiệm trồng
trọt lâu đời. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu những
năn gần đây, việc nghiên cứu những kinh nghiệm địa
phương cho canh tác, sản suất rất cần thiết. Bài báo
cho kết quả về tri thức bản địa của nông dân trong
trồng trọt đáp ứng cho nhu cầu hiện tại khi người Việt
càng gặp nhiều khó khăn trong trồng trọt do hạn,mặn
họ càng chú ý phát huy tri thức bản địa để thích ứng.
Cụ thể qua khảo sát cho thấy người Việt đã đốt đồng
để mong vụ sau lúa tốt hơn tại An Giang và Hậu Gi-
ang. Tại những vùng trồng cây có múi của An Giang
người dân đã dùng kiến vàng để diệt những loài thiên
địch có hại. Khảo sát thực tế đã cho thầy rõ lợi ích từ
việc vận dụng tri thức bản địa vào trồng trọt.
TÀI LIỆU THAMKHẢO
1. LanNTP. Sinh kế vàbiếnđổi vănhóa củangười Khmer ởhuyện
Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. TP HCM: NXB Đại học quốc gia TPHCM.
2019;.
2. Emery AR, Patten L. Guidelines for Environmental Assess-
ments and Traditional Knowledge. A Report from the Centre
for Traditional Knowledge to theWorld Council of Indigenous
People, Ottawa, Canada. 1997;.
619
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 4(4):613-621
3. Howes M, Chambers R. Indigenous technical knowledge:
Analysis, implications and issues. IDS Bulletin. 1979;10(2):5–
11. Available from: https://doi.org/10.1111/j.1759-5436.1979.
mp10002002.x.
4. Mcelwee P. Việt Nam có ”tri thức bản địa” không? Hội thảo
Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: những
cách tiếp cận nhân học. Quyển 1. TPHCM: NXB Đại học quốc
gia TPHCM. 2010;.
5. Cúc LT. Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên. Hà Nội: Nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. 2004;.
6. Thịnh ND. Thế giới quan bản địa. Tạp chí Văn hóa dân gian.
2004;(4):3–15.
7. Khánh TC, Ơn TV. Tri thức bản địa trong chăm sóc sức khỏe.
Hội thảo ”Tri thức bản địa”. 2005;.
8. Warren DM. Using indigenous knowledge in agricultural de-
velopment. World Bank Discussion. 1991;.
9. Lệ NV. Nghiên cứu tri thức bản địa cùa các tộc người thiểu số
ở Tây Nguyên và Nam bộ: Một số vấn đề đặt ra. Dân Tộc học.
2012;.
10. Lệ NV, Thu HN. Tri thức bản địa của các tộc người thiểu số tại
chỗ ở Đắc Nông. TP HCM: NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí
Minh. 2017;.
11. Mạnh NH. Tri thức bản địa trong việc canh tác nương rẫy của
người Sila, huyệnMườngTè, tỉnh Lai Châu (TrườnghợpXãCan
Hổ). Hội văn nghệ dân gian Việt Nam. 2016;.
12. Sơn BH. Tri thức bản địa - những bước thăng trầm. Trong:
Nhiều tác giả, Tri thức bản địa và văn hóa sinh thái. Hà Nội:
NXB Thế giới. 2009;.
13. Grenier L. Working with indigenous knowledge: A guide
for researchers. Canada: The International Development Re-
search Centre (IDRC). 1998;.
14. Tý HX, Cúc LT. Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong
nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Hà Nội: Nhà
xuất bản nông nghiệp. 1998;.
15. Ehlert J. Living with flood local knowledge in the Mekong
Delta, Vietnam. Doctor thesis. The University of Bonn Inter-
national graduate school for development research. 2011;.
16. Phú PX, Đệ NN, Trân NTB. Kiến thức bản địa: Hiện trạng, ứng
dụng trong sản xuất và đời sống ở tỉnh An Giang. Tạp chí
Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 2019;55(1):68–78. Avail-
able from: https://doi.org/10.22144/ctu.jsi.2019.113.
17. Tuấn LA. ĐBSCL: Từ sống chung với lũ đến sống chung với
biến đổi khí hậu. Hội thảoQuốc tế về Giải pháp Thích nghi với
Biến đổi Khí hậu vùngĐồngbằng SôngCửu Long, KiênGiang.
2010;.
18. Nhung TTH. Nguồn tài nguyên đất và sự phát triển nông
nghiệp ởĐBSCL. Hội thảo Cơ sở khoa học cho phát triển vùng
trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam, Hà Nội. 2009;.
620
Science & Technology Development Journal – Social Sciences & Humanities, 4(4):613-621
Open Access Full Text Article Research Article
The University of Social Sciences and
Humanities, VNU-HCM
Correspondence
Ngo Thi Thu Trang, The University of
Social Sciences and Humanities,
VNU-HCM
Email: thutrangnt@hcmussh.edu.vn
History
Received: 24/3/2020
Accepted: 31/7/2020
Published: 17/10/2020
DOI :10.32508/stdjssh.v4i4.579
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Indigenous knowledge of Vietnamese cultivation in theMekong
Delta
Ngo Thi Thu Trang*
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
ABSTRACT
Being passed from generation to generation, indigenous knowledge is unique and confined to a
particular culture or society. This knowledge is generated and transmitted through communities,
over time, in an effort to cope with their own agro-ecological and socio-economic environments
(Fernandez, 1994). Vietnamese residents in the Mekong Delta during the development of cultiva-
tion activities have accumulated a lot of folk experiences, creating a large amount of indigenous
knowledge in daily life and farming production. This knowledge has supported the Vietnamese
people to adapt themselves to survive for several hundred years. However, throughout the time,
under the strong impact of scientific knowledge, indigenous knowledge nowadays is no longer
applied as much as before. In the context of increasing climate change, understanding and re-
evaluating the correct value of this knowledge, besides preserving, also contribute to public policy
implications in environmental change adaptation strategies in the near future. With an interdisci-
plinary approach to geography and anthropology, via long fieldwork methods, face-to-face meet-
ings with farmers and group discussions, 10 in-depth interviews were conducted on issues related
to this current productionmodel and production experience. Indigenous knowledge has been and
is being applied in flooded areas with representatives being An Giang and Hau Giang provinces.
The author has systematized the indigenous knowledge of Vietnamese people on cultivating to
better adapt to nature.
Key words: indigenous knowledge, cultivation livelihoods, Vietnamese, Mekong Delta
Cite this article : Trang N T T. Indigenous knowledge of Vietnamese cultivation in the Mekong Delta.
Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.; 4(4):613-621.
621
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tri_thuc_ban_dia_ve_trong_trot_cua_nguoi_viet_o_dong_bang_so.pdf