Tách chiết và đánh giá hoạt chất kháng
nấm tổng số (MIC90)
Hoạt chất kháng nấm tổng số (KSTS) của
chủng P5-1 có màu vàng tranh, thu được
2,15g hoạt chất sinh học từ 1 lít môi trường
Gause I. Khả năng đối kháng hai loại nấm gây
bệnh ở cây trồng của KSTS từ chủng P5-1
dao động từ 8 đến 16 µg/ml (Bảng 1). Nghiên
cứu của Đỗ Thị Tuyến [13] đã tuyển chọn
được chủng Streptomyces sp. HT17.8, dịch
chiết hoạt chất của chủng HT17.8 thể hiện
hoạt tính mạnh đối với hai chủng nấm
Fusarium oxysporum và Fusarium solani lần
lượt là 19 và 20 mm. Tương tự, Dịch chiết
hoạt chất kháng nấm từ hai chủng
Streptomyces sp. XK3 và Streptomyces sp.
XK28 có khả năng ức chế cả ba loại nấm
bệnh ở thực vật (Fusarium solani,
Phytophthora sp. và Fusarium oxysporum)
với đường kính vòng kháng nấm dao động từ
10 đến 20 mm [14].
Sản phẩm PCR khuếch đại gen mã hóa 16S
rRNA cũng xuất hiện 1 băng, có kích thước
khoảng 1,5 kb (Hình 2B). Trình tự gen 16S
rRNA của chủng P5-1 sau khi đọc trình tự có
chiều dài là 1483 bp và được đăng ký trên
ngân hàng GenBank với mã số truy nhập là
MK652886. Kết quả so sánh sự tương đồng
giữa trình tự gen 16S rRNA của chủng P5-1
với các chủng vi sinh vật đã công bố thông
qua phần mềm Eztaxon server cho thấy chủng
P5-1 có mức độ tương đồng cao nhất
(99,64%) với chủng Streptomyces pratensis
ch24T (Mã số gen 16S rRNA: JQ806215). Vị
trí phân loại của chủng P5-1 được xác nhận
thuộc chi Streptomyces (Hình 3). Dựa vào
ngưỡng chặn (≥98,7%) về sự tương đồng của trình tự gen 16S rRNA với các loài Streptomyces
đã công bố [15] và vị trí trong sơ đồ tiến hóa, chủng P5-1 được nhận diện là một thành viên thuộc
chi Streptomyces, được gọi tên là Streptomyces pratensis P5-1.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tuyển chọn và định danh chủng xạ khuẩn có hoạt tính kháng nấm gây bệnh thực vật, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TNU Journal of Science and Technology 225(08): 448 - 453
448 Email: jst@tnu.edu.vn
TUYỂN CHỌN VÀ ĐỊNH DANH CHỦNG XẠ KHUẨN CÓ HOẠT TÍNH
KHÁNG NẤM GÂY BỆNH THỰC VẬT
Nguyễn Viết Hưng, Đỗ Thị Hiền, Nguyễn Mạnh Tuấn*
Trường Đại học Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Với mục tiêu sàng lọc được chủng Streptomyces sinh hoạt chất kháng nấm tiềm năng trong kiểm
soát các bệnh do nấm gây ra ở thực vật. Chủng P5-1 có khả năng ức chế mạnh nhất cả hai chủng
nấm gây bệnh thực vật (Fusarium oxysporum và Phytophthora capsici) từ 379 chủng giống xạ
khuẩn phân lập. Hoạt chất kháng nấm tổng số của chủng P5-1 có màu vàng, tan tốt ở trong nước
và ức chế sinh trưởng nấm Fusarium oxysporum và Phytophthora capsici lần lượt là 8 và 16
µg/ml. Bào tử của chủng P5-1 dạng thẳng, hình elip, bề mặt nhẵn, kích thước 0,8 × 1,0 µm. Phân
tích trình tự gen 16S rRNA của chủng P5-1 xác nhận chủng P5-1 là một thành viên thuộc chi
Streptomyces, có mức độ tương đồng cao nhất (99,64%) với chủng Streptomyces pratensis ch24T
(JQ806215), chủng P5-1 được đặt tên là Streptomyces pratensis P5-1 (MK652886). Chủng xạ
khuẩn P5-1 được coi là ứng cử viên tiềm năng để phát triển chế phẩm sinh học sử dụng trong kiểm
soát bệnh ở cây trồng.
Từ khóa: Streptomyces; hoạt chất kháng nấm; kiểm soát bệnh sinh học; bệnh nấm; hoạt chất sinh
học tự nhiên.
Ngày nhận bài: 23/6/2020; Ngày hoàn thiện: 31/7/2020; Ngày đăng: 31/7/2020
SCREENING AND IDENTIFICATION OF ACTINOMYCETE
SHOWING ANTIFUNGAL DISEASES ACTYVITY IN PLANT
Nguyen Viet Hung, Do Thi Hien, Nguyen Manh Tuan*
TNU - University of Agriculture and Forestry
ABSTRACT
Our aim to find potential Streptomyces species producing antifungal compound for biocontrolling
fungal diseases of plants. Strain P5-1 have the strongest ability to inhibit both Fusarium
oxysporum and Phytophthora capsici among the 379 actinomycetes isolated previously. Total
antifungal compound is yellow color, well soluble in water and inhibits growth of Fusarium
oxysporum and Phytophthora capsici ranging from 8 and 16 µg/ml, respectively. Spores of strain
P5-1 are straight, ellip-shape, smooth surface, spore size of 0.8 × 1.0 µm. Analysis of 16S rRNA
gene sequence of strain P5-1 confirmed that strain P5-1 is a member of the genus Streptomyces,
has the highest similarity (99.64%) to Streptomyces pratensis ch24T (JQ806215), was named as
Streptomyces pratensis P5-1 (MK652886). Strain P5-1 could considered a potential candidate for
development of probiotics application for treating fungal pathogens in plants.
Keywords: Streptomyces; antifungal activity; biocontrol of fungal diseases; fungal diseases;
natural bioactive compounds
Received: 23/6/2020; Revised: 31/7/2020; Published: 31/7/2020
* Corresponding author. Email: nguyenmanhtuan@tuaf.edu.vn
Nguyễn Viết Hưng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 448 - 453
Email: jst@tnu.edu.vn 449
1. Đặt vấn đề
Kiểm soát dịch bệnh ở cây trồng là một trong
những vấn đề quan trọng nhất đối với sản
xuất nông nghiệp. Có hai giải pháp chính để
kiểm soát dịch bệnh ở cây trồng, sử dụng hóa
chất bảo vệ thực vật hoặc sử dụng vi sinh vật
đối kháng. Vấn đề tồn dư của hóa chất bảo vệ
thực vật không những trực tiếp làm giảm giá
trị của sản phẩm nông nghiệp, mà còn để tiềm
ẩn rất nhiều rủi ro cho sức khỏe con người và
môi trường sinh thái. Hạn chế tối đa việc sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật là xu thế, áp dụng
ở hầu hết các nước có nền sản xuất nông
nghiệp trên thế giới. Hoạt chất sinh học kháng
nấm hoặc kháng khuẩn là chất “chống lại sự
sống”, được sinh ra từ sinh vật nhân sơ hoặc
nhân chuẩn, có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế
sinh trưởng vi sinh vật đích. Penicillin là
kháng sinh tự nhiên đầu tiên được phát hiện
và mở ra “kỷ nguyên vàng” về nghiên cứu
khám phá hoạt chất sinh học tự nhiên vào
những năm 1940~1950 [1]. Hoạt chất sinh
học được ứng dụng rộng rãi ở tất cả các lĩnh
vực của cuộc sống. Trong sản xuất nông
nghiệp, sử dụng các chủng vi khuẩn sinh
kháng nấm/kháng khuẩn tiềm năng được coi
là “chìa khóa” quan trọng trong quản lý dịch
hại tổng hợp ở cây trồng thay vì lạm dụng hóa
chất bảo vệ thực vật [2], [3]. Nấm Fusarium
spp. và Phytophthora spp. là tác nhân chính,
thường gặp gây bệnh thối rễ ở cây trồng, với
tỷ lệ gây bệnh từ 50 đến 100%, làm giảm
năng suất ít nhất trên 54% [4].
Streptomyces là vi khuẩn Gram dương, có
mặt đa dạng ở trong đất. Các kháng sinh tự
nhiên tách chiết từ chi Streptomyces đóng góp
hơn 70% các kháng sinh quan trọng sử dụng
trong cuộc sống [5]. Các hoạt chất kháng nấm
quan trọng sinh ra bởi các chủng
Streptomyces được biết như nystatin (từ
chủng Streptomyces noursei), amphotericin B
(Streptomyces nodosus) và natamycin
(Streptomyces natalensis) [6]. Trong nghiên
cứu này, chúng tôi đã sàng lọc được chủng xạ
khuẩn P5-1, có thể được xem xét là ứng viên
tiềm năng trong kiểm soát bệnh do nấm gây
ra ở cây trồng.
2. Vật liệu, môi trường và phương pháp
nghiên cứu
2.1. Vật liệu và môi trường nghiên cứu
Chủng nấm kiểm định và các chủng
Streptomyces:
Các chủng nấm kiểm định bao gồm Fusarium
oxysporum KACC 41083 và Phytophthora
capsici KACC 40483 được cung cấp bởi ngân
hàng chủng giống Hàn Quốc (KACC: Korean
Agricultural Culture Collection).
Các chủng Streptomyces (379 chủng) được
phân lập từ nghiên cứu của Đỗ Thị Hiền [7],
được lưu giữ trong glycerol ở -80oC. Các
chủng Streptomyces được hoạt hóa trên môi
trường R2A (17209, Sigma Aldrich) ở 28oC.
Môi trường sử dụng:
Môi trường PDA (g/l: Dịch chiết khoai tây,
200; Dextrose, 20; Thạch, 20, pH = 5,6~6),
môi trường R2A (g/l: Proteose peptone, 0,5;
Yeast extract, 0,5; Casein, 0,5; Glucose, 0,5;
Soluble starch, 0,5; Dipotassium phosphate,
0.3; Magnesium sulphate, 0,024; Sodium
pyruvate, 0,3; Nước cất 1 lít; pH 7,2). Môi
trường Gause I (g/l: tinh bột, 20; KNO3, 1;
NaCl, 0,5; K2HPO4, 0,5; MgSO4.7H2O, 0,5;
FeSO4.7H2O, 0,01; nước cất 1 lít; pH=7,4).
Môi trường ISP (Inorganic Salt Starch Agar) -
4 (g/l: Tinh bột, 10; K2HPO4, 1;
MgSO4.7H2O, 1; NaCl, 1; (NH4)2SO4, 2;
CaCO3, 2g; nước cất 1 lít; pH = 7). Môi
trường Tryptic Soy Broth (TSB) (Becton
Dickinson France).
Các thiết bị chính cho nghiên cứu:
Tủ an toàn sinh học cấp hai (NU-425-400E,
Nuaire, Mỹ), tủ lạnh -20oC (Freezer Eco 130,
Fiocchetti, Ý), tủ lạnh sâu -80oC (ILS-
DF8517E, Nuaire, Mỹ), máy ly tâm lạnh
(Mikro 220R, Anh), máy quang phổ định
lượng DNA (Biomate 3, Thermo, Mỹ), máy
nhân gen/PCR (Veriti, Thermo, Mỹ), máy
điện di ngang (Cleaver Scientific, Anh).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp sàng lọc khả năng kháng nấm
từ bộ chủng Streptomyces:
Các chủng Streptomyces bảo quản ở -80oC
trong glycerol, được hoạt hóa trên môi trường
thạch đĩa R2A ở 30oC trong 5 ngày. Bào tử
của hai chủng nấm Fusarium oxysporum
KACC 41083 và Phytophthora capsici
KACC 40483 được chuẩn bị ở mật độ khoảng
Nguyễn Viết Hưng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 448 - 453
Email: jst@tnu.edu.vn 450
105 bào tử/ml, 100 µl dịch bào tử của mỗi
chủng nấm được cấy trải lên bề mặt đĩa thạch
môi trường PDA (sử dụng đĩa petri đường kính
90 mm). Các chủng Streptomyces sau khi hoạt
hóa được chấm điểm trên bề mặt môi trường
PDA có chứa chủng nấm kiểm định. Kiểm tra
khả năng đối kháng (hình thành vòng ức chế
nấm sinh trưởng) ở 25oC trong 7 ngày.
Phương pháp tách chiết hoạt chất kháng nấm
tổng số của chủng P5-1:
Chủng xạ khuẩn được nuôi cấy trong 1 lít môi
trường Gause I ở 30oC, tốc độ lắc 150
vòng/phút trong 7 ngày. Sau 7 ngày lên men,
ly tâm loại bỏ sinh khối tế bào. Bổ sung ethyl
acetate vào dịch ly tâm (tỷ lệ 1:1, v/v). Thu
nhận pha ethyl acetate, quá trình tách chiết
được lặp lại thêm 2 lần. Loại bỏ ethyl acetate
bằng máy cô quay chân không ở 40oC, hòa
cặn vào trong nước cất vô trùng, lọc qua
màng lọc 0,2 µm và đông khô. Bảo quản bột
hoạt chất kháng nấm tổng số ở -20oC cho các
nghiên cứu tiếp theo.
Đánh giá hoạt tính kháng nấm (MIC90) của
dịch chiết kháng nấm từ chủng P5-1:
Bột hoạt chất kháng nấm được hòa vào dung
môi dimethyl sulfoxide ở dải nồng độ khác
nhau. Các bước tiến hành theo mô tả của
Alastruey-Izquierdo [8], sử dụng
amphotericin B (A4888, Sigma Aldrich) là
đối chứng dương. Kết quả thí nghiệm được
ghi nhận ở 25oC, 48 giờ.
Đặc điểm bào tử của chủng P5-1:
Chủng P5-1 được nuôi cấy trên môi trường
ISP-4 ở 30oC trong 21 ngày. Hình thái bào tử
được quan sát dưới kính hiển vi điện tử quét
SEM (Scanning Electron Microscope).
Định danh, phân loại chủng P5-1:
Nuôi cấy chủng P5-1 trong môi trường TSA ở
30oC, 24 giờ, 150 vòng/phút. Ly tâm loại bỏ
dịch thể, thu nhận sinh khối tế bào để tách
chiết DNA tổng số theo phương pháp của
Sambrook [9]. Trình tự gen 16S rRNA được
khuếch đại bằng phương pháp PCR sử dụng
cặp mồi 27F (5’-
AGAGTTTGATCMTGGCTCAG-3') và
1492R
(5’TACGGYTACCTTGTTACGACTT-3’)
[10]. Sản phẩm PCR được kiểm tra trên gel
agarose 1% và gửi đọc trình tự tại công ty
Macrogen (Hàn Quốc). Trình tự gen 16S
rRNA của chủng P5-1 được so sánh với các
chủng vi khuẩn đã công bố sử dụng phần
mềm EzTaxon server
(https://www.ezbiocloud.net/), được đăng ký
trên ngân hàng GenBank
(https://www.ncbi.nlm.nih.gov/nucleotide/).
Sơ đồ phân loại của chủng P5-1 được xây
dựng dựa trên phần mềm MEGA X 10.1
(https://www.megasoftware.net/).
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Sàng lọc các chủng xạ khuẩn kháng
nấm Fusarium oxysporum và Phytophthora
capsici
Từ 379 chủng xạ khuẩn được phân lập từ
trước, chúng tôi đã sàng lọc được chủng P5-1
thể hiện hoạt tính đối kháng mạnh nhất cả hai
chủng nấm gây bệnh thực vật Fusarium
oxysporum và Phytophthora capsici, đường
kính vòng kháng nấm lần lượt là 13,5 và 10
mm (Hình 1A, B). Bên cạnh đó, chủng P5-1
ức chế sinh trưởng cả bốn loại vi khuẩn kiểm
định bao gồm Staphylococcus epidermidis
ATCC 14990, Staphylococcus aureus ATCC
6538, Bacillus subtilis ATCC 6051A và
Bacillus anthracis KEMB 211-146 [7]. Kết
quả nghiên cứu của Lê Thị Hiền [3] đã tuyển
chọn được hai chủng xạ khuẩn Streptomyces
albofaciens NA1 và Streptomyces
roseosporus HN6 từ đất, đây là hai chủng
tiềm năng trong kiểm soát các bệnh gây hại ở
cây trồng do Fusarium oxysporum,
Botryosphaeria dothidea, Phytophthora
capsic gây ra. Gần đây, nhóm nghiên cứu của
Lưu Trần Đông và cộng sự [11] đã sàng lọc
được chủng Streptomyces hydrogenans
VTCC 41117 thể hiện hoạt tính đối kháng cả
05 loại nấm gây bệnh ở thực vật, bao gồm
(Phytophthora capsici VTCC 31701,
Alternaria sp. VTCC 31702, Botrytis cinerea
VTCC 31703, Collectotrichum
gloeosporioides VTCC 31705, Fusarium sp.
VTCC 31704).
Bào tử của chủng P5-1 dạng thẳng, bào tử có
hình elip, bề mặt bào tử nhẵn, kích thước 0,8
× 1,0 µm (Hình 1C). Đây là đặc điểm hình
thái điển hình của các thành viên thuộc chi
Streptomyces đã được mô tả [12].
Nguyễn Viết Hưng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 448 - 453
Email: jst@tnu.edu.vn 451
Hình 1. Hoạt tính kháng nấm của chủng P5-1 bằng phương pháp cấy chấm điểm trên môi trường PDA sau
5 ngày nuôi cấy ở 25oC. Fusarium oxysporum KACC 41083 (A); Phytophthora capsici KACC 40483 (B);
Hình thái bào tử, thanh bar, 5 µm (C)
3.2. Tách chiết và đánh giá hoạt chất kháng
nấm tổng số (MIC90)
Hoạt chất kháng nấm tổng số (KSTS) của
chủng P5-1 có màu vàng tranh, thu được
2,15g hoạt chất sinh học từ 1 lít môi trường
Gause I. Khả năng đối kháng hai loại nấm gây
bệnh ở cây trồng của KSTS từ chủng P5-1
dao động từ 8 đến 16 µg/ml (Bảng 1). Nghiên
cứu của Đỗ Thị Tuyến [13] đã tuyển chọn
được chủng Streptomyces sp. HT17.8, dịch
chiết hoạt chất của chủng HT17.8 thể hiện
hoạt tính mạnh đối với hai chủng nấm
Fusarium oxysporum và Fusarium solani lần
lượt là 19 và 20 mm. Tương tự, Dịch chiết
hoạt chất kháng nấm từ hai chủng
Streptomyces sp. XK3 và Streptomyces sp.
XK28 có khả năng ức chế cả ba loại nấm
bệnh ở thực vật (Fusarium solani,
Phytophthora sp. và Fusarium oxysporum)
với đường kính vòng kháng nấm dao động từ
10 đến 20 mm [14].
Bảng 1. Kết quả đánh giá nồng độ hoạt chất
kháng nấm của chủng P5-1 ức chế sinh trưởng
hai chủng nấm gây bệnh ở thực vật
Chủng nấm
Giá trị MIC90 (µg/ml)
KSTS Amphotericin B
Fusarium oxysporum
KACC 41083
8 2
Phytophthora capsici
KACC 40483
16 4
3.3. Định danh, phân loại chủng P5-1
Chúng tôi đã thu nhận được DNA tổng số của
chủng P5-1 có nồng độ 785 µg/ml với chỉ số
A260/A280 là 1,82 và A260/A230 là 1,84. Kết quả
kiểm tra trên gel agarose 1% cho thấy có 1
băng và không bị đứt gãy (Hình 2A)
Hình 2. Hình ảnh điện di DNA tổng số
(A), sản phẩm PCR khuếch đại gen mã hóa 16S
rRNA B) của chủng P5-1 trên gel agarose 1%. M:
marker, 10kb
Sản phẩm PCR khuếch đại gen mã hóa 16S
rRNA cũng xuất hiện 1 băng, có kích thước
khoảng 1,5 kb (Hình 2B). Trình tự gen 16S
rRNA của chủng P5-1 sau khi đọc trình tự có
chiều dài là 1483 bp và được đăng ký trên
ngân hàng GenBank với mã số truy nhập là
MK652886. Kết quả so sánh sự tương đồng
giữa trình tự gen 16S rRNA của chủng P5-1
với các chủng vi sinh vật đã công bố thông
qua phần mềm Eztaxon server cho thấy chủng
P5-1 có mức độ tương đồng cao nhất
(99,64%) với chủng Streptomyces pratensis
ch24T (Mã số gen 16S rRNA: JQ806215). Vị
trí phân loại của chủng P5-1 được xác nhận
thuộc chi Streptomyces (Hình 3). Dựa vào
Nguyễn Viết Hưng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 448 - 453
Email: jst@tnu.edu.vn 452
ngưỡng chặn (≥98,7%) về sự tương đồng của trình tự gen 16S rRNA với các loài Streptomyces
đã công bố [15] và vị trí trong sơ đồ tiến hóa, chủng P5-1 được nhận diện là một thành viên thuộc
chi Streptomyces, được gọi tên là Streptomyces pratensis P5-1.
Hình 3. Sơ đồ phả hệ của chủng P5-1 với các loài Streptomyces gần nhất dựa vào trình tự gen 16S rRNA.
Chủng Arcanobacterium haemolyticum CIP 103370T (AJ234059) là ngoài chi Streptomyces.
Thanh bar: 0.01
4. Kết luận
Tuyển chọn được chủng P5-1 từ 379 chủng xạ
khuẩn có hoạt tính mạnh nhất ức chế sinh trưởng
cả hai chủng nấm gây bệnh thực vật (Fusarium
oxysporum và Phytophthora capsici), với giá trị
MIC dao động từ 8 đến 16 µg/ml.
Chủng P5-1 có chuỗi bào tử dạng thẳng, bào
tử có hình elip, bề mặt bào tử nhẵn, kích
thước 0,8 × 1,0 µm. Phân tích trình tự gen
16S rRNA xác nhận chủng P5-1 là thành viên
của chi Streptomyces, được đặt tên là
Streptomyces pratensis P5-1. Mã số truy nhập
gen 16S rRNA của chủng P5-1 trên ngân
hàng thế giới là MK652886.
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES
[1]. N. Khardori, “Antibiotics—Past, Present and
Future,” Med Clin North Am, vol. 90, no. 6,
pp. 1049-1076, 2006.
[2]. N. Someya, “Biological control of fungal
plant diseases using antagonistic bacteria,” J.
Gen Plant Pathol, vol. 74, pp. 459-460, 2008.
[3]. T. H. Le, V. L. Dinh, T. V. Vu, and V. G.
Nguyen, “Isolation and screening
Streptomyces spp. against plant pathogenic
fungi,” (In Vietnamese), J. Sci & Devel, vol.
12, no. 5, pp. 656-664, 2014.
[4]. J. Vallance, F. Deniel, G. L. Floch, L.
Guerin-Dubrana, D. Blancard, and P. Rey,
“Pathogenic and beneficial microoganisms in
soilless culture,” Agron Sustain Dev, vol. 31,
pp. 191-203, 2011.
[5]. J. Berdy, “Bioactive microbial metabolites,”
J Antibiot (Tokyo), vol. 58, no. 1, pp. 1-26,
2005.
[6]. E. B. V. Arnam, A. C. Ruzzini, C. S. Sit, H.
Horn, A. A. Pinto-Tomás, C. R. Currie, and J.
Clardy, “Selvamicin, an atypical antifungal
polyene from two alternative genomic
contexts,” Proc Natl Acad Sci USA, vol. 113,
no. 46, pp. 12940-12945, 2016.
[7]. T. H. Do, B. D. Do, M. T. Nguyen, and X. V.
Nguyen, “Isolation and screening of
actinomyces species inhibits Gram positive
bacteria,” (In Vietnamese), TNU Journal of
Science and Technology, vol. 197, no. 4, pp.
127-133, 2019.
Nguyễn Viết Hưng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 448 - 453
Email: jst@tnu.edu.vn 453
[8]. A. Alastruey-Izquierdo, M. Cuenca-Estrella,
A. Monzon, E. Mellado, and J. L. Rodriguez-
Tudela, “Antifungal susceptibility profile of
clinical Fusarium spp. isolates identified by
molecular methods,” J. Antimicrob
Chemother, vol. 61, no. 4, pp. 805-809, 2008.
[9]. J. Sambrook, and D. Russell, Molecular
Cloning: a Laboratory Manual, 3rd ed. Cold
Spring Harbor, NY: Cold Spring Harbor
Laboratory, 2001.
[10]. J. A. Frank, C. I. Reich, S. Sharma, J. S.
Weisbaum, B. A. Wilson, and G. J. Olsen,
“Critical evaluation of two primers commonly
used for amplification of bacterial 16S rRNA
genes,” Appl Environ Microbiol, vol. 74, no.
8, pp. 2461-2470, 2008.
[11]. T. D. Luu, S. T. Vu, T. V. Nguyen, T. N. M.
Dinh, H. M. Nguyen, and K. N. T. Nguyen,
“Screeing for antagonistic actinomycetes
against five plant pathogenic fungi and
description of the strong activity strain
Streptomyces hydrogenans VTCC 41117,” (In
Vietnamese), Journal of tropical science and
technology, no. 18, pp. 70-81, 07/2019.
[12]. S. T. Williams, M. Goodfellow, and G.
Alderson, Genus Streptomyces Waksman and
Henrici 1943, 339AL, in Bergey’s Manual of
Systematic Bacteriology, vol. 4, pp. 2452–
2492, 1989. Edited by S. T. Williams, M. E.
Sharpe & J. G. Holt. Baltimore: Williams &
Wilkins.
[13]. T. T. Do, and T. D. C. Vi, “Taxonomic
characteristics of actinomycetes strains having
the antibiotic ability against pathogenic fungi
attaching tea in Thai Nguyen,” (In
Vietnamese), TNU Journal of Science and
Technology, vol. 107, no. 7, pp. 97-102, 2013.
[14]. T. K. C. Nguyen, T. H. Tran, T. T. H. Pham,
and V. C. Pham, “Isolation of antagonistic
microoganisms against some plant fungal
pathogens ans evaluation of their activity in
vitro and in vivo,” (In Vietnamese), Journal
of Science and Technology, vol. 52, no. 4, pp.
419-430, 2014.
[15]. H. P. Browne, S. C. Forster, B. O. Anonye,
N. Kumar, B. A. Neville, M. D. Stares MD,
D. Goulding, and T. D. Lawley, “Culturing of
“unculturable” human microbiota reveals
novel taxa and extensive sporulation,” Nature,
vol. 533, pp. 543-546, 2016.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tuyen_chon_va_dinh_danh_chung_xa_khuan_co_hoat_tinh_khang_na.pdf