Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên
cứu về khả năng sinh amylase của chi Aspergillus,
nhưng công bố về amylase từ A. aculeatus còn hạn
chế. Khokhar và cs. đã so sánh khả năng sinh
amylase và cellulase của các chủng nấm mốc thuộc
chi Aspergillus và Penicillium từ các nguồn khác
nhau và cho thấy A. aculeatus có khả năng sinh
amylase [14]. Mahapatra và cs. đã thu nhận, tinh
chế và xác định các đặc tính hoá sinh của amylase
thu nhận từ chủng A. aculeatus DBF9 phân lập từ
đất rừng [13]. Một nghiên cứu ứng dụng khác cho
thấy rằng chủng A. aculeatus BCC17849 có khả
năng sản sinh amylase phân giải tinh bột đa thành
phần [15]. Điều thú vị là sử dụng dịch chiết các
enzyme ngoại bào từ chủng này (trong đó có
amylase) trong quá trình đường hoá tinh bột sắn
và lên men thu nhận etanol đã làm tăng hiệu suất
của quá trình lên tới 96,7% [15]. Các nghiên cứu
trên cho thấy tiềm năng ứng dụng của chủng A.
aculeatus DM12M sinh amylase trong quá trình
thuỷ phân tinh bột và các lĩnh vực công nghiệp
khác nhau
4 Kết luận
Nghiên cứu đã sàng lọc hoạt tính amylase
ngoại bào của 160 chủng vi nấm biển có nguồn gốc
từ vịnh Nha Trang và vịnh Vân Phong và tuyển
chọn được chủng nấm mốc DM12M có khả năng
sinh amylase mạnh nhất. Môi trường nuôi cấy
thích hợp để thu nhận amylase từ chủng này là
Czapek–Dox cải tiến bổ sung 1% tinh bột tan, 0,3%
NaNO3 và 0,5% NaCl, với thời gian nuôi trong 5
ngày ở pH 6,0 và 30 C. Trong điều kiện này, hoạt
độ amylase đạt 58,4 U/mL, cao gấp 4 lần so với khi
chưa tối ưu. Chủng DM12M có trình tự đoạn gen
ITS1-5,8S-ITS2 tương đồng 99,8–100% với các
chủng của loài Aspergillus aculeatus nên có thể
thuộc về loài này. Các kết quả này cho thấy chủng
DM12M và amylase từ chủng này có thể có tiềm
năng ứng dụng trong công nghiệp.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tuyển chọn và xác định điều kiện nuôi cấy thích hợp cho sinh tổng hợp amylase của các chủng vi nấm biển phân lập từ vịnh Nha Trang và vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1C, 59–67, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1C.5449 59
TUYỂN CHỌN VÀ XÁC ĐỊNH ĐIỀU KIỆN NUÔI CẤY
THÍCH HỢP CHO SINH TỔNG HỢP AMYLASE CỦA CÁC CHỦNG
VI NẤM BIỂN PHÂN LẬP TỪ VỊNH NHA TRANG
VÀ VỊNH VÂN PHONG, TỈNH KHÁNH HÒA
Phạm Thu Thủy, Đinh Thị Sở, Nguyễn Văn Duy*
Viện Công nghệ sinh học và Môi trường, Trường Đại học Nha Trang, 2 Nguyễn Đình Chiểu, Nha Trang, Việt Nam
* Tác giả liên hệ Nguyễn Văn Duy
(Ngày nhận bài: 16-12-2019; Ngày chấp nhận đăng: 14-04-2020)
Tóm tắt. Vi nấm biển đóng vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái biển và cung cấp nhiều sản phẩm
có giá trị trong công nghiệp. Nghiên cứu này tuyển chọn chủng vi nấm biển sinh amylase và xác định
các điều kiện nuôi cấy thích hợp để thu nhận enzyme từ các chủng này. Trong tổng số 160 chủng vi nấm
biển thu thập được, tất cả các chủng nấm men không thể hiện hoạt tính amylase (0/112 chủng); trong khi
đó, các chủng nấm mốc có hoạt tính amylase cao với tỷ lệ 70,8% (34/48 chủng). Trong số này, chủng
DM12M có hoạt độ amylase cao nhất (13,0 U/mL). Môi trường nuôi cấy thích hợp cho sinh tổng hợp
amylase của chủng này là Czapek–Dox cải tiến, bổ sung 1% tinh bột tan, 0,3% NaNO3, 0,5% NaCl, pH
6,0 với thời gian nuôi cấy 5 ngày ở 30 C. Ở điều kiện này, hoạt độ amylase của chủng DM12M đạt
58,4 U/mL, cao hơn khoảng 4,5 lần so với trước khi tối ưu hóa. Chủng DM12M có trình tự đoạn gen ITS1-
5,8S-ITS2 tương đồng 99,8–100% với các chủng của loài Aspergillus aculeatus nên có thể thuộc về loài này.
Nghiên cứu cung cấp thông tin khoa học về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất amylase ngoại
bào của vi nấm biển và mở ra tiềm năng ứng dụng của chúng trong công nghiệp.
Từ khóa: amylase, vi nấm biển, Aspergillus aculeatus, vịnh Nha Trang, vịnh Vân Phong
Selection and culture condition optimisation for amylase biosynthesis
of marine fungal strains isolated from Nha Trang Bay
and Van Phong Bay, Khanh Hoa province
Pham Thu Thuy, Dinh Thi So, Nguyen Van Duy*
Institute of Biotechnology and Environment, Nha Trang University, 2 Nguyen Dinh Chieu St., Nha Trang, Vietnam
* Correspondence to Nguyen Van Duy
(Received: 16 December 2019; Accepted: 14 April 2020)
Abstract. Marine fungi play an important role in marine ecosystems and provide numerous valuable
industrial products. This study screens for amylase-producing marine fungi strains and studies the
appropriate culture conditions to obtain enzymes. From 160 isolated strains, all the yeast strains do not
have amylase activity (0/112 strains), while the molds have amylase activity with a high rate at 70.8%
(34/48 strains). Among these molds, the DM12M strain has the highest amylase activity (13.0 U/mL).
Phạm Thu Thủy và CS.
60
Suitable culture conditions for amylase production of this strain are the modified Czapek–Dox medium
supplemented with 1% soluble starch, 0.3% NaNO3, 0.5% NaCl, and 5 days incubation at pH 6.0 and
30 C. Under these conditions, the amylase activity of the DM12M strain reaches 59.0 U/mL,
approximately 4.5 times higher than that under pre-optimal conditions. The DM12M strain has the ITS1-
5.8S-ITS2 nucleotide sequence of 99.8–100% similarity to the strain of Aspergillus aculeatus, revealing that
it may belong to this species. The research provides scientific data on the factors affecting the ability of
the marine fungi to produce extracellular amylase and opens up their potential for industrial
applications.
Keywords: amylase, Aspergillus aculeatus, marine fungi, Nha Trang Bay, Van Phong Bay
1 Mở đầu
Trong thị trường công nghiệp enzyme, am-
ylase là enzyme quan trọng và chiếm thị phần lớn
nhất với 30% tổng thị phần enzyme trên thế giới
[1]. Amylase được ứng dụng rộng rãi trong công
nghiệp thực phẩm, sản xuất thức ăn gia súc, chất
tẩy rửa, xử lý môi trường... Để ứng dụng trong
công nghiệp, các enzyme nói chung và amylase nói
riêng cần có hoạt tính cao và ổn định cũng như
thích ứng với một số điều kiện sản xuất như chịu
được nhiệt và pH.
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên
cứu về amylase từ vi nấm biển. Điển hình có
Mohapatra và cs. đã sàng lọc được chủng Mucor sp.
sinh amylase từ bọt biển Spirastrella sp. sử dụng
môi trường muối tối thiểu chứa 1% tinh bột tan [2].
Li và cs. đã sàng lọc được chủng nấm men biển
Aureobasidium pullulans N13d sinh amylase ngoại
bào từ các trầm tích biển sâu ở Thái Bình Dương sử
dụng môi trường chứa 1% tinh bột tan pha trong
nước biển, pH 4,0 [3]. Sahoo và cs. đã sàng lọc hoạt
tính amylase của nấm mốc phân lập từ các mẫu
trầm tích rừng ngập mặn ở Ấn Độ. Nghiên cứu này
đã phân lập được 40 chủng nấm mốc, trong đó 1/2
số chủng có hoạt tính amylase ngoại bào. Trong số
này chủng Penicillium citrinum MSF-9 sản sinh
amylase mạnh nhất trong điều kiện môi trường
nuôi cấy chứa 1% tinh bột tan, 1% NaCl, pH 5 [4].
Gần đây, Lanka và cs. đã phân lập các mẫu nước
ven biển Machilipatnam ở Ấn Độ và sàng lọc được
3 chủng Fusarium sp. ưa muối có tiềm năng sản
xuất các enzyme ngoại bào mạnh trong đó có
amylase [5]. Wang và cs. đã sàng lọc khả năng sinh
các enzyme ngoại bào và nguồn cacbon thích hợp
cho sinh trưởng của sáu chủng vi nấm biển đại
diện thuộc bộ sưu tập vi nấm biển thuộc Trung tâm
nghiên cứu biển GEOMAR, Kiel, Cộng hòa liên
bang Đức. Kết quả cho thấy trong số 19 nguồn
cacbon khác nhau, nguồn cacbon phù hợp nhất cho
sinh trưởng của cả sáu chủng này là tinh bột,
laminarin và xylan [6].
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu nhằm khai
thác tiềm năng của vi sinh vật biển đã được thực
hiện, nhưng các công bố về amylase từ vi nấm biển
còn rất hạn chế. Phần lớn các nghiên cứu về
amylase từ vi nấm tập trung vào các chủng nấm có
nguồn gốc trên cạn. Chỉ có một số nghiên cứu về
amylase từ vi nấm nước lợ đã được thực hiện. Điển
hình, Nguyễn Thị Thanh Bình đã phân lập được
409 chủng nấm mốc từ rừng ngập mặn Cần Giờ,
trong đó 261 chủng có khả năng sinh amylase
(63,81%) [7]. Phạm Thị Ngọc Lan và Huỳnh Ngọc
Thành đã tuyển chọn được 53 chủng nấm mốc từ
ao nuôi tôm ở Thừa Thiên Huế. Chỉ 3/53 chủng này
có khả năng sinh amylase với hoạt tính ở mức
trung bình [8].
Điều này cho thấy amylase từ vi nấm biển có
tiềm năng ứng dụng lớn, nhưng hiện nay những
nghiên cứu theo hướng này ở Việt Nam vẫn còn rất
hạn chế. Mục tiêu của nghiên cứu này là tuyển
chọn chủng vi nấm biển có khả năng sinh amylase
từ nước biển ven bờ ở vịnh Nha Trang và vịnh Vân
Phong, và nghiên cứu các điều kiện và môi trường
nuôi cấy thích hợp để thu nhận amylase từ các
chủng này.
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1C, 59–67, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1C.5449 61
2 Vật liệu và phương pháp
2.1 Chủng vi nấm biển
Tổng số 160 chủng vi nấm biển được phân
lập từ nước biển ven bờ tại 11 vị trí thuộc vịnh Vân
Phong và vịnh Nha Trang trong khoảng thời gian
từ tháng 5 đến tháng 8/2018. Các chủng này được
lưu giữ trong glycerol 20% ở –70 C và trên thạch
nghiêng ở 4–8 C tại Phòng thí nghiệm Vi sinh,
Viện Công nghệ sinh học và Môi trường, Trường
Đại học Nha Trang.
2.2 Nuôi cấy vi nấm
Các chủng vi nấm được hoạt hóa trên môi
trường thạch PDA (Potato Dextrose Agar, Difco)
(MT1) đối với nấm mốc và môi trường thạch YPD
(Yeast Extract Peptone Dextrose, Difco) (MT2) đối
với nấm men ở 28 C trong 1–3 ngày đối với nấm
men và 1–10 ngày tùy vào thời gian sinh trưởng
của mỗi chủng vi nấm mốc cho tới khi kích thước
khuẩn lạc đạt 2,5–3,0 cm, sau đó sử dụng cho các
mục đích tiếp theo.
Nhằm cảm ứng khả năng sinh tổng hợp
amylase, các chủng vi nấm được nuôi cấy trên môi
trường Czapek–Dox cải tiến có bổ sung tinh bột tan
làm cơ chất cảm ứng (MT3). Thành phần môi
trường bao gồm NaNO3 3,0 g/L, K2HPO4 1,0 g/L,
MgSO4·7H2O 0,5 g/L, KCl 0,5 g/L, FeSO4·7H2O 0,01
g/L, tinh bột tan 10 g/L, pH 6,5 ± 0,2, pha trong 50%
nước biển. Môi trường thạch được bổ sung thêm
1,5% agar. Các môi trường được hấp khử trùng ở
121 °C trong 15 phút, sau đó bổ sung kháng sinh
ampicillin 0,05% và streptomycin sulfate 0,075%.
Các chủng nấm mốc được cấy chấm điểm (một
điểm) và các chủng nấm men được cấy vạch (ba
vạch) lên các đĩa thạch, sau đó ủ ở 28 C trong năm
ngày.
Đối với môi trường lỏng, trước tiên các
chủng nấm mốc được hoạt hoá trên môi trường
MT1 cho tới khi đường kính khuẩn lạc đạt 2,5–3,0
cm; sau đó dùng dao vô trùng cắt một miếng
khuẩn lạc, kích thước bằng 1/10 khuẩn lạc, bổ sung
vào môi trường MT3, nuôi lắc 120 vòng/ phút ở 28
C trong vòng năm ngày, nhằm cảm ứng khả năng
sinh amylase.
2.3 Xác định hoạt tính amylase bằng phương
pháp đo đường kính vòng phân giải
Các chủng vi nấm được nuôi cấy trên môi
trường thạch MT3 ở 28 C. Sau 5 ngày nuôi cấy, các
đĩa thạch được lấy ra và bổ sung 10 mL thuốc thử
Lugol, để 5 phút rồi đo đường kính vòng phân giải
cơ chất bằng thước đo xăng ti mét. Hoạt tính
enzyme được xác định dựa vào hiệu số D – d, trong
đó D là đường kính vòng phân giải (mm), và d là
đường kính khuẩn lạc (mm).
2.4 Xác định hoạt độ amylase bằng phương
pháp DNS
Hoạt độ amylase của các chủng nấm mốc
được xác định theo phương pháp DNS [9]. Một
đơn vị hoạt độ enzyme (U/mL) được định nghĩa
là lượng enzyme cần thiết giải phóng 1 mg
maltose từ tinh bột tan trong ba phút ở pH 6,9 và
20 C. Hoạt độ enzyme được tính theo công thức
sau:
Hoạt độ enzyme (U/mL) = (hàm lượng
maltose giải phóng × df)/V
trong đó df là độ pha loãng dịch enzyme thô, V là
thể tích dịch enzyme thô sử dụng (mL) và lượng
maltose giải phóng (mg) được xác định dựa vào
đường chuẩn maltose.
2.5 Khảo sát các điều kiện nuôi cấy thích hợp
cho sinh tổng hợp amylase
Các điều kiện nuôi cấy thích hợp cho sinh
tổng hợp amylase của các chủng vi nấm nghiên
cứu được khảo sát theo các bước tuần tự gồm thời
gian nuôi cấy, nhiệt độ nuôi cấy, pH môi trường,
nguồn cacbon, nguồn nitơ, và độ mặn, trong đó kết
quả về các thông số tối ưu từ bước trước sẽ được
áp dụng cho các thí nghiệm tiếp theo.
Phạm Thu Thủy và CS.
62
2.6 Định danh chủng vi nấm bằng giải trình
tự đoạn gen ITS1-5,8S-ITS2
DNA tổng số của vi nấm được tách chiết
bằng bộ kit EZ–10 spin column plant genomic
DNA miniprep kit (BioBasic, Canada) theo hướng
dẫn của nhà sản xuất và được bảo quản ở –20 C.
Các mồi được sử dụng cho phản ứng PCR là
ITS1F_KYO2 (5’-TAG AGG AAG TAA AAG TCG
TAA-3’) [10] và ITS4 (5’-TCC TCC GCT TAT TGA
TAT GC-3’) [10]. Hỗn hợp phản ứng PCR bao gồm
9,5 µL nước, 1 µL mỗi mồi (10 mM), 1 µL DNA (2–
20 ng), và 12,5 µL MyTaq Mix 2X (Bioline, Mỹ).
Chu trình nhiệt được thực hiện như sau: 93 C
trong 5 phút, 35 chu kỳ của 93 C trong 30 giây,
56–58 C trong 30 giây, 72 C trong 30 giây và kết
thúc ở 72 C trong 10 phút. Sản phẩm của phản ứng
PCR được điện di kiểm tra trên gel agarose 1,2%.
Sản phẩm PCR được gửi đi giải trình tự tại
công ty Macrogen (Hàn Quốc). Trình tự DNA được
xử lý bằng phần mềm MEGA 6 [11], Geneious
10.2.2 (Biomatters, New Zealand) và công cụ
BLAST ( BLAST).
2.7 Xử lý số liệu
Các số liệu được phân tích thống kê bằng
phần mềm SPSS 16 (SPSS Inc., Chicago, Mỹ), trong
đó sự khác biệt được coi là có ý nghĩa thống kê với
mức ý nghĩa p < 0,05.
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Sàng lọc hoạt tính amylase ngoại bào của
các chủng vi nấm biển
Trong số 160 chủng vi nấm biển (112 chủng
nấm men và 48 chủng nấm mốc) đã phân lập, tất
cả chủng nấm men không thể hiện hoạt tính
amylase, trong khi đó có 34/48 (70,8%) chủng nấm
mốc có hoạt tính amylase. Nấm mốc được biết đến
là nguồn sản xuất enzyme ngoại bào mạnh. Vì vậy,
nhiều nghiên cứu nhằm sàng lọc hoạt tính amylase
ngoại bào từ vi nấm biển đã được thực hiện [2, 4,
5]. Từ kết quả trên, 10 chủng nấm mốc có đường
kính vòng phân giải tinh bột lớn nhất sẽ được sử
dụng cho các thí nghiệm tiếp theo.
3.2 Hoạt độ amylase của các chủng vi nấm
biển nghiên cứu
Để đánh giá chính xác khả năng sinh
amylase của 10 chủng nấm mốc làm cơ sở cho quá
trình tuyển chọn tiếp theo, chúng tôi tiến hành nuôi
cấy các chủng này trên môi trường lỏng MT3 ở
28 °C. Sau 5 ngày nuôi cấy, dịch enzyme thô được
thu nhận để xác định hoạt độ enzyme theo phương
pháp DNS.
Trong số 10 chủng nấm mốc tuyển chọn, 3
chủng DM12M, TB8M và DW7M có khả năng phân
giải tinh bột mạnh nhất với hoạt độ enzyme tương
ứng đạt 13,0; 12,9 và 10,6 U/mL (Hình 1).
Mohapatra và cs. đã sàng lọc được chủng Mucor sp.
sinh amylase từ bọt biển Spirastrella sp. sử dụng
môi trường muối tối thiểu chứa 1% tinh bột tan.
Chủng này sinh enzyme mạnh nhất ở môi trường
pH 5,0 với hoạt độ đạt được là 41,84 U/mL [2]. Li
và cs. đã sàng lọc được chủng nấm men biển
Aureobasidium pullulans N13d sinh amylase ngoại
bào mạnh từ các mẫu trầm tích biển sâu ở Thái
Bình Dương sử dụng môi trường chứa 1% tinh bột
tan pha trong nước biển, pH 4,0. Amylase thu được
từ chủng này có hoạt tính cao nhất (10 U/mL) khi
nuôi cấy ở 28 °C trong 56 giờ [3]. Điều này cho thấy
hoạt tính enzyme thu được của các chủng nấm rất
khác nhau, tuỳ thuộc vào nguồn gốc phân lập và
Hình 1. Hoạt độ amylase trung bình của 10 chủng
nấm mốc tuyển chọn (Các chữ cái a–d cho biết sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05)
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1C, 59–67, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1C.5449 63
các điều kiện nuôi cấy. Từ kết quả nghiên cứu trên,
chúng tôi chọn 3 chủng DM12M, DW7M và TB8M
cho các nghiên cứu tiếp theo.
3.3 Thời gian nuôi cấy thích hợp cho sinh
tổng hợp amylase của 3 chủng DM12M,
DW7M và TB8M
Khi nuôi cấy ở 28 °C, cả 3 chủng nấm mốc
nghiên cứu đều có hoạt độ amylase cao nhất sau 5
ngày nuôi cấy, trong đó chủng DM12M có khả
năng sinh enzyme mạnh nhất, đạt 13,7 U/mL (Hình
2). Từ ngày thứ 6 trở đi hoạt độ enzyme giảm dần,
có thể do môi trường đã tạo ra các sản phẩm thứ
cấp ức chế sự sinh trưởng hoặc do cạn kiệt chất
dinh dưỡng. Kết quả này cũng tương đồng với
nghiên cứu của Ominyi về khả năng sinh amylase
của các chủng nấm mốc Aspergillus, Mucor và
Rhizopus, với khả năng sản sinh amylase đạt hoạt
độ cao nhất sau 5 ngày [12]. Vì vậy, thời gian nuôi
cấy 5 ngày sẽ được sử dụng cho các thí nghiệm tiếp
theo.
3.4 Nhiệt độ nuôi cấy thích hợp cho quá trình
sinh tổng hợp amylase của 3 chủng
DM12M, DW7M và TB8M
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến khả năng
sinh amylase ngoại bào của các chủng nấm. Cụ thể,
3 chủng DM12M, DW7M và TB8M sinh amylase
mạnh nhất ở 30, 37 và 28 C, nhưng xét về tổng thể,
khả năng sinh amylase của chủng DM12M là mạnh
nhất so với 2 chủng còn lại (Hình 3). Vì vậy, chủng
DM12M cùng với nhiệt độ nuôi cấy 30 C được lựa
chọn để tiếp tục nghiên cứu các điều kiện nuôi cấy
khác nhằm thu nhận enzyme. Mahapatra và
Banerjee, trong quá trình tối ưu hoá các điều kiện
nuôi cấy nhằm thu nhận amylase từ chủng
Aspergillus aculeatus DBF9, cũng sử dụng môi
trường Czapek–Dox lỏng, bổ sung 1% tinh bột tan
và nhận thấy chủng này sinh enzyme tối ưu ở 30
C [13]. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên
cứu của chúng tôi khi chủng DM12M được định
danh là Aspergillus aculeatus (kết quả được trình bày
ở các mục tiếp theo).
3.5 pH môi trường nuôi thích hợp cho sinh
tổng hợp amylase của chủng DM12M
Khi thay đổi pH của môi trường từ 4 đến 8,
khả năng sinh amylase của chủng DM12M tăng
dần và đạt tối ưu ở giá trị pH 6,0 với hoạt độ đạt 30
U/mL sau đó giảm dần ở các giá trị pH cao hơn
(Hình 4). Mahapatra và Banerjee cũng đưa ra kết
luận tương tự đối với chủng Aspergillus aculeatus
DBF9 [13].
Hình 2. Ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy đến khả
năng sinh amylase của 3 chủng nấm mốc DM12M,
DW7M và TB8M (Các chữ cái a–d cho biết sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê với p < 0,05)
Hình 3. Ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi cấy đến khả năng
sinh amylase của 3 chủng DM12M, DW7M và TB8M
(Các chữ cái a–i cho biết sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p < 0,05)
Hình 4. Ảnh hưởng của pH môi trường nuôi cấy đến
hoạt độ amylase của chủng DM12M
(Các chữ cái a–c cho biết sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p < 0,05)
Phạm Thu Thủy và CS.
64
3.6 Nguồn cacbon thích hợp cho sinh tổng
hợp amylase của chủng DM12M
Hình 5 cho thấy hoạt độ amylase của chủng
DM12M đạt cao nhất (30 U/mL) khi sử dụng nguồn
cacbon là tinh bột tan 1%. Điều này chứng tỏ tinh
bột tan là nguồn cacbon phù hợp và là nguồn cơ
chất cảm ứng tốt nhất để kích thích sản sinh
amylase của chủng này. Kết quả này cũng tương
đồng với một số nghiên cứu trước đây khi tinh bột
tan là nguồn cacbon thích hợp cho quá trình sinh
amylase của nhiều chủng nấm mốc biển [6].
3.7 Nguồn nitơ thích hợp cho sinh tổng hợp
amylase của chủng DM12M
Đối với 0,3% các nguồn nitơ vô cơ khác nhau
bổ sung vào môi trường nuôi cấy thì NaNO3 là
thích hợp cho quá trình sản xuất amylase ngoại bào
của chủng DM12M với hoạt độ đạt được là 40,0
U/mL (Hình 6a). Chúng tôi tiếp tục tối ưu nguồn
nitơ hỗn hợp bằng cách bổ sung thêm vào môi
trường nuôi cấy 0,3% các nguồn nitơ hữu cơ khác
nhau gồm pepton, trypton, urê và cao nấm men.
Hoạt độ amylase của chủng DM12M đạt 30–40
U/mL, tức là không có sự thay đổi đáng kể so với
môi trường ban đầu chỉ bổ sung nguồi nitơ vô cơ
(Hình 6b). Vì vậy, NaNO3 được chọn là nguồn nitơ
trong môi trường nuôi cấy cho các thí nghiệm tiếp
theo của chủng DM12M.
3.8 Nồng độ NaCl và NaNO3 thích hợp cho
sinh tổng hợp amylase của chủng DM12M
Độ mặn là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng
lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của vi nấm
biển. Trong các thí nghiệm ở trên, các chủng nấm
được nuôi cấy trong môi trường chứa 50% nước
biển (độ mặn 2–3,6%), hay môi trường nuôi cấy
chứa 1–1,8% NaCl. Để xác định chính xác độ mặn
thích hợp cho sinh tổng hợp amylase của chủng
DM12M, chúng tôi tiến hành nuôi cấy chủng này
trong môi trường không bổ sung nước biển và có
bổ sung NaCl ở các nồng độ khác nhau. Khi bổ
sung thêm 0,5% NaCl vào môi trường nuôi cấy,
hoạt độ amylase của chủng DM12M đạt cao nhất
(58,4 U/mL) và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với
các điều kiện nồng độ NaCl cao hơn (Hình 7a). Kết
quả này khác với nghiên cứu của Sahoo và cs. về
khả năng sinh amylase của vi nấm ở rừng ngập
mặn, trong đó nồng độ NaCl thích hợp là 1% [4].
Hình 5. Ảnh hưởng của nguồn cacbon đến hoạt độ
amylase của chủng DM12M
(Các chữ cái a–c cho biết sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p < 0,05)
Hình 6. Ảnh hưởng của nguồn nitơ đến hoạt độ
amylase của chủng DM12M: (a) nitơ vô cơ;
(b) nitơ hữu cơ (Các chữ cái a–d cho biết sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê với p < 0,05)
a)
b)
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1C, 59–67, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1C.5449 65
Hình 7. Ảnh hưởng của nồng độ NaCl (a) và NaNO3 (b)
đến hoạt độ amylase của chủng DM12M
(Các chữ cái a–c cho biết sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p < 0,05)
Các kết quả thu được ở trên được ứng dụng
để tiếp tục xác định nồng độ NaNO3 thích hợp cho
sinh tổng hợp amylase của chủng nghiên cứu. Khi
bổ sung 0,6% NaNO3 vào môi trường nuôi cấy thì
hoạt độ amylase của chủng DM12M đạt cao nhất
(63,2 U/mL) (Hình 7b). Hoạt độ enzyme thu được
là cao hơn so với điều kiện môi trường chứa 0,3%
NaNO3 (59,0 U/mL), nhưng sự khác biệt không có
ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Do vậy, xét về mặt kinh
tế, nồng độ NaNO3 0,3% được lựa chọn.
3.9 Định danh chủng nấm mốc DM12M
Sản phẩm PCR đoạn gen ITS1-5,8S-ITSS2
của chủng DM12M thu nhận được có kích thước
khoảng 580 bp. Kết quả giải và phân tích trình tự
gen cho thấy trình tự đoạn gen ITS1-5,8S-ITSS2 của
chủng DM12M có độ tương đồng cao nhất đạt từ
99,8% đến 100% so với 4 chủng thuộc loài
Aspergillus aculeatus (mã số GenBank tương ứng
KY320594, EU833205, EU326206 và AJ279995), và
có độ tương đồng thấp hơn (99,7%) với các chủng
của các loài A. violaceofuscus (MG682503) và A.
japonicus (KC128815) (Bảng 1). Như vậy, chủng
DM12M có thể thuộc về loài Aspergillus aculeatus.
Kết quả này cũng tương đồng với các đặc điểm
hình thái của chủng được chúng tôi mô tả và từ
những nghiên cứu trước đây.
Bảng 1. So sánh trình tự đoạn gen ITS1-5,8S-ITS2 của chủng DM12M với các trình tự tương đồng cao nhất trên
Genbank
Điểm xếp
hạng
Mã số Genbank Tên loài
Tỷ lệ tương đồng
(%)
Tỷ lệ che phủ
(%)
1064.79 KY320594 Aspergillus aculeatus 100 100
1064.79 EU833205 Aspergillus aculeatus 100 100
1064.79 EU326206 Aspergillus aculeatus 100 100
1057.4 AJ279995 Aspergillus aculeatus 99,8 100
1053.71 MG682503 Aspergillus violaceofuscus 99,7 100
1053.71 KC128815 Aspergillus japonicus 99,7 100
a)
b)
Phạm Thu Thủy và CS.
66
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên
cứu về khả năng sinh amylase của chi Aspergillus,
nhưng công bố về amylase từ A. aculeatus còn hạn
chế. Khokhar và cs. đã so sánh khả năng sinh
amylase và cellulase của các chủng nấm mốc thuộc
chi Aspergillus và Penicillium từ các nguồn khác
nhau và cho thấy A. aculeatus có khả năng sinh
amylase [14]. Mahapatra và cs. đã thu nhận, tinh
chế và xác định các đặc tính hoá sinh của amylase
thu nhận từ chủng A. aculeatus DBF9 phân lập từ
đất rừng [13]. Một nghiên cứu ứng dụng khác cho
thấy rằng chủng A. aculeatus BCC17849 có khả
năng sản sinh amylase phân giải tinh bột đa thành
phần [15]. Điều thú vị là sử dụng dịch chiết các
enzyme ngoại bào từ chủng này (trong đó có
amylase) trong quá trình đường hoá tinh bột sắn
và lên men thu nhận etanol đã làm tăng hiệu suất
của quá trình lên tới 96,7% [15]. Các nghiên cứu
trên cho thấy tiềm năng ứng dụng của chủng A.
aculeatus DM12M sinh amylase trong quá trình
thuỷ phân tinh bột và các lĩnh vực công nghiệp
khác nhau
4 Kết luận
Nghiên cứu đã sàng lọc hoạt tính amylase
ngoại bào của 160 chủng vi nấm biển có nguồn gốc
từ vịnh Nha Trang và vịnh Vân Phong và tuyển
chọn được chủng nấm mốc DM12M có khả năng
sinh amylase mạnh nhất. Môi trường nuôi cấy
thích hợp để thu nhận amylase từ chủng này là
Czapek–Dox cải tiến bổ sung 1% tinh bột tan, 0,3%
NaNO3 và 0,5% NaCl, với thời gian nuôi trong 5
ngày ở pH 6,0 và 30 C. Trong điều kiện này, hoạt
độ amylase đạt 58,4 U/mL, cao gấp 4 lần so với khi
chưa tối ưu. Chủng DM12M có trình tự đoạn gen
ITS1-5,8S-ITS2 tương đồng 99,8–100% với các
chủng của loài Aspergillus aculeatus nên có thể
thuộc về loài này. Các kết quả này cho thấy chủng
DM12M và amylase từ chủng này có thể có tiềm
năng ứng dụng trong công nghiệp.
Thông tin tài trợ
Công trình này được thực hiện dưới sự tài
trợ của Quỹ NAFOSTED (Đề tài mã số 106-NN.02-
2016.70).
Tài liệu tham khảo
1. Vaidya S, Srivastava PK, Rathore P, Pragya R,
Pandey AK. Amylases: a prospective enzyme in the
field of biotechnology. The Journal of Applied
Biosciences. 2015; 41: 1-18.
2. Mohapatra B, Banerjee U, Bapuji M.
Characterization of a fungal amylase from Mucor sp.
associated with the marine sponge Spirastrella sp.
Journal of Biotechnology. 1998;60:113–117.
3. Li HF, Chi ZM, Wang XH, Duan XH, Ma LY, Gao
LM. Purification and characterization of
extracellular amylase from the marine yeast
Aureobasidium pullulans N13d and its raw potato
starch digestion. Enzyme and Microbial
Technology. 2007;40:1006-1012.
4. Sahoo K, Dhal N, Das R. Production of amylase
enzyme from mangrove fungal isolates. African
Journal of Biotechnology. 2014;13(46):4338-4346.
5. Lanka S, Pydipally M, Latha JNL. Extraction and
activity studies of industrially important enzymes
from marine fusarium species isolated from
Machilipatnam sea water, (a.p), India. European
Journal of Pharmaceuticaland Medical Research.
2016;3(12): 254-258.
6. Wang Y, Barth D, Tamminen A, Wiebe MG. Growth
of marine fungi on polymeric substrates. BMC
Biotechnology. 2016;16(3). doi: 10.1186/s12896-016-
0233-5.
7. Bình NTT. Nghiên cứu thu nhận enzym amylase của
một số chủng nấm sợi phân lập từ rừng ngập mặn
Cần Giờ [Luận văn]. Hồ Chí Minh: Trường Ðại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; 2010.
8. Lan PTN, Thành HN. Nghiên cứu nấm mốc có khả
năng phân giải tinh bột phân lập từ ao nuôi tôm ở
Đầm Sam – Chuồn, Thừa Thiên Huế Trường Đại học
Khoa học, Đại học Huế. Tạp chí khoa học Đại học
Huế. 2012;73(4):147-156.
9. Bernfeld P. Amylases, α and β. Methods in
Enzymology. 1955;1:149-58.
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1C, 59–67, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1C.5449 67
10. Toju H, Tanabe AS, Yamamoto S, Sato H. High-
coverage ITS primers for the DNA-based
identification of ascomycetes and basidiomycetes in
environmental samples. PLoS ONE. 2012;7(7):
e40863.
11. Tamura K, Stecher G, Peterson D, Filipski A, Kumar
S. MEGA6: Molecular evolutionary genetics analysis
version 6.0. Molecular Biology and Evolution.
2013;30:2725-2729.
12. Ominyi MC. Optimization of α-amylase and
glucoamylase production from three fungal strains
isolated from Abakaliki, Ebonyi State. European
Journal of Experimental Biology. 2013;3(4):26-34.
13. Mahapatra S, Banerjee D. Production and
characterization of thermal acid amylase from A.
aculeatus DBF9. Dynamic Biochemistry, Process
Biotechnology and Molecular Biology. 2012;6(1):
109-112.
14. Khokhar I, Mukhtar I,Mushtaq S. Comparative
studies on the amylase and cellulase production of
Aspergillus and Penicillium. Journal of Applied
Sciences and Environmental Management.
2011;15(4):657-661.
15. Poonsrisawat A, Paemanee A, Wanlapatit S,
Piyachomkwan K, Eurwilaichitr L, Champreda V.
Simultaneous saccharification and viscosity
reduction of cassava pulp using a multi-component
starch- and cell-wall degrading enzyme for
bioethanol production. 3 Biotech. 2017;7(5):290.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
tuyen_chon_va_xac_dinh_dieu_kien_nuoi_cay_thich_hop_cho_sinh.pdf