KẾT LUẬN
Chúng tôi đã tìm ra tính đa dạng của các
chủng Salmonella nhiễm trong lợn trước và sau
giết mổ, điều này thể hiện sự ô nhiễm trong môi
trường giết mổ, nguồn nước trong giết mổ. Mặc
dù tỷ lệ nhiễm Salmonella ở các loại mẫu khác
nhau nhưng rất hiếm khi chúng tôi phát hiện
trên cùng một con lợn có cùng serotype. Do vậy
trong nghiên cứu này chúng tôi không tìm thấy
được mối liên hệ dịch tễ nào giữa các loại mẫu
phân lập. Chúng tôi có thể kết luận rằng, sự ô
nhiễm Salmonella ở thân thịt chủ yếu do tiếp
xúc với sàn giết mổ. Có 3 serotype phổ biến là
Derby, Typhimurium và Rissen lần lượt chiếm
tỷ lệ 5,6 %; 3, % và 13,4 %. Sự có mặt của
serotype gây ngộ độc thực phẩm là S. Typhimurium cho thấy sự nguy cơ gây ngộ độc do
thịt lợn từ trang trại và lò mổ là đáng kể. Các
can thiệp về vệ sinh tại lò mổ cần được tăng
cường nhiều hơn. Các chương trình can thiệp
an toàn thực phẩm như ”Dự án Cạnh tranh
ngành Chăn nuôi và An toàn thực phẩm” (LIPSAF) là một cơ hội cho việc cải thiện vệ sinh
lò mổ, góp phần vào tăng cường an toàn thực
phẩm.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tỷ lệ nhiễm Salmonella trên lợn tại một số trang trại và lò mổ thuộc các tỉnh phía Bắc Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
59Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIII, số 4 (140)
TỶ LỆ NHIỄM SALMONELLA TRÊN LỢN TẠI MỘT SỐ TRANG TRẠI VÀ LÒ
MỔ THUỘC CÁC TỈNH PHÍA BẮC VIỆT NAM
Phạm Thị Ngọc1*, Nguyễn Tiến Thành1,2, Trần Thị Hạnh1, Nguyễn Việt Hùng2,3
1Bộ môn Vệ sinh Thú y, Viện Thú y
2Trung tâm nghiên cứu Y tế công cộng và Sinh thái, Trường đại học Y tế công cộng
3SwissTPH, ILRI, Sandec/Eawag
TÓM TẮT
Salmonella là một trong những mầm bệnh truyền lây giữa người và động vật thường xuyên nhất trên thế
giới, và chúng được phân lập cả trên người và thịt lợn. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ
nhiễm Salmonella tại các trang trại nuôi lợn và giết mổ thông qua phân tích thực hành giết mổ, định type,
tập trung vào vai trò của khâu thực hành giết mổ đối với sự ô nhiễm thân thịt.
Tổng cộng 82 chủng Salmonella được phân lập từ các loại mẫu lau hậu môn, lau nền chuồng, thức ăn,
nước uống và nước thải tại trại chăn nuôi lợn và các mẫu cùng loại và lau thân thịt, lau sàn giết mổ và bể
nước giết mổ tại lò mổ. Tất cả các chủng được định type kháng huyết thanh tìm ra 3 serovar chủ yếu là S.
Derby (25,6%), S. Typhimurium (23,2%) and S. Rissen (13,4%), các serovar khác bao gồm S. Anatum, S.
Braenderup, S.Chartres, và S. Meleagridiscó tỷ lệ dao động từ 2,4% đến 6,1%. Phân của lợn sống, chuồng
nuôi nhốt chờ giết mổ và quá trình mổ thịt có thể là nguồn ô nhiễm Salmonella chính đối với môi trường
xung quanh giết mổ và thân thịt. Tuy nhiên, mối liên hệ trực tiếp giữa môi trường với thân thịt cũng như là
lây nhiễm trực tiếp từ phân và các dụng cụ giết mổ đối với thân thịt là không rõ ràng. Do vậy, kết quả cho
thấy rằng nguồn ô nhiễm lên các thân thịt là theo một cách gián tiếp qua môi trường, vì lợn được giết mổ
dưới sàn. Sự ô nhiễm trực tiếp quan sát được có thể là thực hành vệ sinh sát trùng sau giết mổ và thiếu
sự quản lý nước thải trong giết mổ. Các biện pháp khống chế giảm tỷ lệ ô nhiễm nên tập trung vào khống
chế tiếp xúc của thân thịt với sàn giết mổ, công nhân giết mổ, đặc biệt là sau khi cạo lông, cần có vùng
sạch và vùng bẩn trong giết mổ.
Từ khoá: Salmonella, lợn, lò mổ, phân lập, định type
* Tác giả: Phạm Thị Ngọc
Địa chỉ: Bộ môn Vệ sinh Thú y, Viện Thú y
Điệnthoại: 090 93936
Email: ngoc 7169@yahoo.com
Ngày nhận bài: 16/4/ 013
Ngày gửi phản biện: 18/4/ 013
Ngày đăng bài: 8/6/ 013
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh ngộ độc thực phẩm làm một vấn đề
đang được quan tâm tại Việt Nam trong thời
gian gần đây và giải quyết vấn đề này là rất cần
thiết để nâng cao sức khoẻ cộng đồng nói chung
trong bối cảnh những yêu cầu về chất lượng an
toàn thực phẩm của người tiêu dùng ngày một
tăng [1] [ ]. Salmonellosis là một bệnh do vi
khuẩn Salmonella được lây nhiễm qua đường
tiêu hoá. Salmonella được biết đến như là một
nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm trên thế
giới và là mối đe doạ đến sức khoẻ cộng đồng
ở hầu hết các nước đang phát triển cũng như các
nước phát triển [3]. Mặc dù Salmonella đã được
nghiên cứu hàng trăm năm nay, tuy nhiên nó
vẫn thu hút được sự quan tâm các nhà khoa học
do các trường hợp ngộ độc thực phẩm do vi
khuẩn này, đặc biệt là Salmonella enteritidis,
ngày một tăng. Thịt lợn được coi là một trong
những nguồn lây nhiễm Salmonella quan trọng
ở rất nhiều nước [4] [5] [6] [7] đặc biệt là thực
hành giết mổ tại các lò giết mổ [8] [9] [10].
Trong hơn 30 năm trở lại đây, tiêu thụ thịt lợn
ở Việt Nam dao động ổn định ở mức 75% so
với các sản phẩm thịt khác.
60 Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIII, số 4 (140)
bán lẻ thịt lợn cho thấy tỷ lệ nhiễm vi khuẩn
Salmonella chiếm khoảng 33 % đến 40 % số
mẫu kiểm tra [11] [1 ]. Bệnh do vi khuẩn Sal-
monella thường xuất hiện ở người già và trẻ em
với các triệu chứng như sốt, đau bụng dữ dội,
ỉa chảy và đôi khi nôn mửa [13] [14]. Cho tới
nay đã xác định được có khoảng hơn 3000
chủng vi khuẩn Salmonella khác nhau, tuy
nhiên khoảng 50 chủng có khả năng gây bệnh
cho người, đặc biệt hai chủng Salmonella en-
teritidis và Salmonella typhimurium được đánh
giá là có nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm rất
cao [15] [16]. Theo báo cáo của Trung tâm kiểm
soát dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), hàng năm ở Mỹ
có khoảng 76 triệu ca ngộ độc thực phẩm, trong
đó có 3 5.000 trường hợp phải nhập viện và
5.000 ca tử vong và vi khuẩn Salmonella được
cho là một trong những nguyên nhân hàng đầu
được xác nhận bởi các phân tích trong phòng
thí nghiệm [13]. Ước tính thiệt hại kinh tế ở Mỹ
do bệnh ngộ độc thực phẩm gây ra hàng năm
khoảng 10 - 83 tỷ đô la Mỹ [17].
Trong quá trình giết mổ, sự lây nhiễm chéo
đặc biệt xảy ra ở các khâu như dội nước nóng,
cạo lông, mổ bụng và lấy phủ tạng [18]. Mặt
khác, giết mổ lợn là một mắt xích quan trọng
trong chuỗi thực phẩm có nguy cơ nhiễm vi
khuẩn Salmonella cao đối với thịt lợn sau khi
giết mổ. Mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào điều
kiện vệ sinh của các lò giết mổ cũng như thực
hành vệ sinh trong quá trình giết mổ. Nguy cơ
nhiễm Salmonella ở lợn càng rõ ràng hơn từ
giai đoạn vỗ béo đến khi giết mổ. Lò giết mổ
cũng là một nguồn tàng trữ vi khuẩn có thể lây
nhiễm sang người [19].
Salmonella typhimurium gây viêm đại tràng
và tiêu chảy mãn tính ở lợn. Sự lây truyền của
vi khuẩn này giữa các lợn được nuôi nhốt trong
cùng môi trường chuồng nuôi rất đáng quan
tâm. Nếu một con lợn trong đàn 100 con bị tiêu
chảy do Salmonella, thì toàn đàn sẽ bị nhiễm
chỉ sau 4 giờ [ 0]. Vi khuẩn có thể tồn tại trong
đất và nước lên đến vài tuần, thậm chí 6 tháng
trong các mẫu nước thu thập từ các bể chứa
nước trong lò mổ [ 1].
Theo kết quả nghiên cứu của Le Bas về lò
giết mổ lợn tập trung tại Hà Nội thì có 49 %
mẫu chất chưa manh tràng, 95 % mẫu gạc lau
thân thịt và 80 % mẫu nước bể dùng để xả thân
thịt tại lò mổ bị nhiễm Salmonella [ 1]. Một
nghiên cứu điều tra ở 148 lò mổ quy mô nhỏ
(giết mổ dưới 10 lợn/ngày) chỉ ra rằng 100 %
số hộ tiến hành giết mổ trên sàn với những dụng
cụ thô sơ, không có xuất hiện một hệ thống tự
động hay bán tự động nào trong quá trình giết
mổ mà chủ yếu sử dụng bằng tay. Phần lớn
(89%) các hộ sử dụng nước dùng trong giết mổ
là nước giếng khoan không qua xử lý. Các hoạt
động giết mổ diễn ra tại nơi có điều kiện vệ sinh
kém, hầu hết không có biện pháp khử trùng sau
khi kết thúc hoạt động giết mổ [ ]. Hầu hết các
lò mổ lợn dùng cho tiêu thụ nội địa ở Hải Phòng
vẫn nằm trong các khu vực dân cư đông đúc và
có các thiết kế không phù hợp với các tiêu
chuẩn vệ sinh và hầu hết trong số đó đều không
có giấy phép và hệ thống xử lý chất thải [ 3].
Hơn nữa, ô nhiễm Salmonella tại các trang
trại nuôi lợn được cho là có nguyên nhân từ vệ
sinh môi trường kém, thức ăn và nước uống sử
dụng trong chăn nuôi bị ô nhiễm. Tình trạng
này cùng với sự kém kiểm tra giám sát các hoạt
động giết mổ, đặc biệt là điều kiện vệ sinh giết
mổ, dẫn đến sự lưu hành của vi khuẩn Salmo-
nella trong các mẫu thịt lợn [ 4] [ 5].
Vệ sinh thực phẩm hiện nay là một vấn đề
nóng đối với sức khoẻ cộng đồng ở Việt Nam.
Trong 5 năm trở lại đây, trung ương cũng như
chính quyền địa phương cùng với các bên liên
quan khác nhau đã nỗ lực cải thiện hiện trạng
trên, tuy nhiên vẫn có có hàng trăm vụ ngộ độc
thực phẩm xảy ra hàng năm với hàng ngàn ca
nhiễm bệnh. Theo thống kê từ năm 006 - 010,
có tổng số 944 vụ ngộ độc thực phẩm với
33.168 người bị ngộ độc, 59 người chết; chỉ
tính riêng năm 010 đã có 175 vụ ngộ độc,
5.664 người bị nhiễm và 51 trường hợp tử vong
[ 6]. Tuy nhiên có rất ít những nghiên cứu cũng
như các thông tin xác định những nguyên nhân
gây ra các vụ ngộ độc thực phẩm cũng như các
nguồn gốc của sự ô nhiễm trong chăn nuôi và
thực hành giết mổ. Nhằm mục đích bổ sung
thông tin và khắc phục một phần những tồn tại
trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Tỷ lệ
nhiễm Salmonella trên lợn tại một số trang trại
và lò mổ thuộc các tỉnh phía Bắc của Việt Nam”.
Đây là một nghiên cứu cắt ngang nhằm mục tiêu:
61Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIII, số 4 (140)
Xác định tỷ lệ nhiễm của vi khuẩn Salmo-
nella tại trang trại, lò mổ và định type các chủng
Salmonella phân lập được.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu của đề tại nhằm xác
định tỷ lệ nhiễm Salmonella tại một số trang trại
thuộc các tỉnh phía Bắc, có tất cả 5 tỉnh được
chọn là: Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải
Dương và Hải Phòng. Chúng tôi tiến hành chọn
mẫu ngẫu nhiên mỗi tỉnh 3 trang trại trại chăn
nuôi lơn có quy mô từ 50 đến 00 lợn thịt/ trang
trại. Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1 đến
tháng 1 / 011.
2.2. Lấy mẫu
Chúng tôi thu thập các loại mẫu lau hậu
môn, lau nền chuồng, thức ăn, nước uống và
nước thải tại trại chăn nuôi lợn và các mẫu cùng
loại và lau thân thịt, lau sàn giết mổ và bể nước
giết mổ tại lò mổ. Phương pháp lấy mẫu được
áp dụng theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4833
– 00 . Dung lượng của mẫu điều tra được tính
toán theo phần mềm Winscope .0 với độ tin
cậy 95 %. Gạc lấy mẫu được chuẩn bị là 10 lớp
vải gạc vô trùng được cắt thành hình vuông có
diện tích 100 cm2, được làm ướt bằng 5 ml
môi trường PBW (Peptone Buffed Water). Diện
tích bề mặt lấy mẫu được xác định bằng khung
inox vô trùng, có diện tích hình vuông là 100
cm .
2.3. Phân lập định tính và định type
Các mẫu tại trang trại và lò mổ được phân
lập định tính Salmonella và định type kháng
huyết thanh theo tiêu chuẩn ISO 6579 – 00 .
2.4. Phân tích và xử lý số liệu
Các kết quả thí nghiệm được nhập và xử lý
bằng phần mềm Microsoft Excel 013.
III. KẾT QUẢЉ
3.1. Tỷ lệ nhiễm Salmonella tại một số trang
trại chăn nuôi lợn
Tỷ lệ nhiễm Salmonella của các mẫu thu
thập được trình bày tại bảng1. Tỷ nhiễm Sal-
monella đối với các mẫu gạc lau hậu môn của
lợn và mẫu gạc nền chuồng nuôn lần lượt là
4,17% và 1,56%. Trong tất các mẫu nước
dùng trong chăn nuôi, phát hiện 1 mẫu dương
tính với Salmonella. Đây là hộ chăn nuôi sử
dụng nguồn nước bơm trực tiếp từ dưới ao và
sử dụng không qua biện pháp xử lý nào. Điều
này cho thấy vấn đề xử lý nguồn nước dùng
trong chăn nuôi là một vấn đề đáng lưu tâm.
Các loại mẫu còn lại như dụng cụ chăn nuôi,
thức ăn và nước thải, chúng tôi không phát
hiện được Salmonella.
Loại mẫu thu thập Số lượng mẫu (n)
Tỷ lệ % nhiễm Salmonella
(m ±sd)*
Mẫu lau hậu môn lợn
Mẫu nền chuồng nuôi
Mẫu dụng cụ chăn nuôi
Mẫu thức ăn
Mẫu nước uống
Mẫu nước thải
120
60
20
40
45
30
24,17 ± 12,99
21,56 ±18,88
0
0
4,44 ± 11,73
0
*Trung bình và độ lệch chuẩn
Các trại chăn nuôi đều tự cung cấp nguồn
con giống. Chuồng trại được bố trí phân lô
theo từng độ tuổi của lợn. Các trang trại đều
sử dụng thức ăn là cám công nghiệp. Nguồn
nước sử dụng cho chăn nuôi hầu hết là nước
giếng khoan và có qua bể lọc. Các chất thải
trong chăn nuôi được dùng làm thức ăn cho
cá, bể biogas hoặc dùng là phân bón sau khi
thực hiện các biện pháp thu gom và ủ.
Bảng 1 Tỷ lệ nhiễm Salmonella tại trang trại chăn nuôi lợn
6 Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIII, số 4 (140)
3.2. Tỷ lệ nhiễm Salmonella tại lò giết mổ lợn
Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn được
lò giết mổ mà nguồn gốc số lợn giết mổ chủ
yếu được nhập từ 4 trong số 15 trại lợn mà
chúng tôi đã tiến hành thu thập mẫu và phân tích
tại trang trại trước khi được giết mổ. Kết quả
phân lập Salmonella được trình bày tại bảng .
Cả hai lò mổ đều có công suất giết mổ quy mô
trên 0 lợn/ngày. Khoảng thời gian vận chuyển
và nuôi nhốt lợn tập trung chờ giết mổ khoảng
từ 6 đến 18 giờ. Hoạt động giết mổ diễn ra vào
ban đêm từ đến 5 giờ sáng, cung cấp thịt lợn
chủ yếu cho thị trường Hà Nội. Khoảng cách từ
các trại đến lò mổ nằm trong bán kính 100 km.
Bảng 2: Tỷ lệ nhiễm Salmonella tại lò mổ lợn
Loại mẫu thu thập Số lượng mẫu(n) Tỷ lệ % nhiễm Salmonella (m ±sd)*
Mẫu lau nền chuồng chờ giết mổ
Mẫu lau hậu môn
Mẫu lau thân thịt
Mẫu manh tràng
Mẫu nước giết mổ
Mẫu lau sàn giết mổ
40
77
90
90
13
20
37,50 ±16,69
59,72 ±17,11
60,00 ± 11,00
48,26 ± 18,84
0
37,50 ±26,35
*Trung bình và độ lệch chuẩn
Kết quả ở bảng cho thấy tỷ lệ nhiễm Sal-
monella ở các mẫu lau hậu môn, manh tràng,
nền chuồng chờ giết mổ, lau sàn giết mổ và mẫu
lau thân thịt lần lượt là 59,7 %; 48, 6 %; 37,50
%; 37,50 % và 60,00 %.
3.3. Định type các chủng Salmonella phân
lập được
Trong tổng số 8 chủng Salmonella phân lập
được từ các mẫu trang trại và lò mổ, chúng tôi
tiến hành định type kháng huyết thanh nhằm
tìm ra các serotype gây bệnh cụ thể, đặc biệt là
các chủng có nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm
cao. Kết quả được trình bày ở bảng 3
Serotype n Tỷ lệ (%)
Anatum
Braenderup
Chartres
Derby
London
Meleagridis
Rissen
Typhimurium
Chưa xác định được
Tổng số
5
3
2
21
6
5
11
19
10
82
6,1
3,7
2,4
25,6
7,3
6,1
13,4
23,2
12,2
100
Bảng 3 Các type Salmonella phân lập được
Theo kết quả định type kháng huyết thanh
thu được tại bảng 3 cho thấy có 3 serotype phổ
biến là Derby, Typhimurium và Rissen lần lượt
chiếm tỷ lệ 5,6 %; 3, % và 13,4 %. Các
serotype khác dao động tử ,4 – 6,1 %. Các
chủng chưa xác định được serotype chiếm 1 ,
%. Sự có mặt của serotype gây ngộ độc thực
phẩm là S. Typhimurium cho thấy sự nguy cơ
gây ngộ độc do thịt lợn từ trang trại và lò mổ là
đáng kể.
63Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIII, số 4 (140)
IV. BÀN LUẬN
Khảo sát hiện trạng giết mổ lợn tại Gia Lâm
cho thấy một hiện trạng mất vệ sinh tại các
điểm giết mổ dẫn đến ô nhiễm vi khuẩn và mất
an toàn vệ sinh thịt lợn sau giết mổ trên địa bàn.
Theo Ngô Văn Bắc ( 007), khảo sát hiện trạng
giết mổ gia súc, gia cầm tại Hải Phòng, cũng
cho biết hầu hết các điểm giết mổ phục vụ cho
tiêu dùng nội địa nằm xen kẽ trong các khu dân
cư, qui mô nhỏ lẻ, thiết kế xây dựng không đạt
tiêu chuẩn, hầu hết các điểm giết mố không có
giấy phép kinh doanh, không có hệ thống xử lý
chất thải [ 3].
Tỷ lệ nhiễm Salmonella ở các mẫu lau hậu
môn, manh tràng, nền chuồng chờ giết mổ, lau
sàn giết mổ và mẫu lau thân thịt lần lượt là
59,7 %; 48, 6 %; 37,50 %; 37,50 % và 60,00
% đây đều là các con số thể hiện tỷ lệ nhiễm
Salmonella ở mức cao tại các lò giết mổ lợn.
Đặc biệt là mẫu lau thân thịt trước khi được vận
chuyển và bán ra chợ [ 3]. Thật vậy, khi so sánh
với những nghiên cứu tỷ lệ nhiễm tại nơi khác
cũng có sự khác biệt, tỷ lệ nhiễm Salmonella
với mẫu lau thân thịt tại miền Nam Việt Nam là
55,9%, tại Thái Lan là 33,1% [ 7] và 37% [ 8]
ở Lào là 47% đến 66% [ 9]. Sự khác biệt này
có thể do cách lấy mẫu gạc lau khác nhau giữa
các nghiên cứu như lau toàn bộ thân thịt [30],
4x100 cm2 bao gồm mông, lưng, bụng và dưới
hàm [ 7] [ 9], 50 cm2 [ 8] hay 100 cm2 như
nghiên cứu của chúng tôi.
Tỷ lệ nhiễm cao của Salmonella đối với
thân thịt cho thấy sự ô nhiễm trong các giai
đoạn sau của chuỗi giết mổ là rất cao, điều này
có thể do sự khu trú của vi khuẩn trong môi
trường, sự lây nhiễm chéo đối với các sản
phẩm thịt chưa chế biến hoặc chế biến chưa đủ
[31].Ở đây chúng tôi thấy cũng một loại mẫu
lau hậu môn nhưng tại trang trại và lò mổ có
một sự chênh lệnh khá lớn 4,17 % ở trang trại
so với 59,7 % tại lò mổ. Điều này có thể do
sự lây nhiễm chéo trong quá trình vận chuyển
và nuôi nhốt chờ giết mộ trong điều kiện mật
độ cao và sức đề khác của con vật bị ảnh
hưởng. Chúng tôi đã không phát hiện được
Salmonella trong các mẫu nước dùng trong
giết mổ trong nghiên cứu này.
Do vậy, thịt lợn là một nguồn lây nhiễm Sal-
monella tiềm tàng đối với chuỗi thức ăn của con
người tại Việt Nam.Vì bề mặt của mẫu lau thân
thịt thể hiện thông tin về vệ sinh trong quá trình
giết mổ [3 ], những dữ liệu trong nghiên cứu
này khẳng định sự thiếu vệ sinh chung trong
quá trình giết mổ. Điều này đặc biệt được chú
ý hơn bởi tỷ lệ nhiễm khác cao ở các mẫu khác
tại lò giết mổ cũng như tại trang trại chăn nuôi,
chúng cho phép chúng ta có thể ước lượng được
mức độ ô nhiễm của lợn sống trước khi giết mổ.
Tại Châu Âu, tỷ lệ nhiễm ở các mẫu phân trước
khi lợn được giết mổ không khác nhiều so với
kết quả của chúng tôi. Tỷ lệ nhiễm 3 % trong
5g chất chứa manh tràng tại Anh [33]; 3,7 %
tại Đức [34], 5,6 % trong chất chứa trực tràng
tại Hà Lan [35] là 45 %.
Tại lò mổ, tất cả các công đoạn giết mổ đều
tiến hành trên sàn mổ và không có sự hỗ trợ của
các thiết bị máy móc. Lợn được vận chuyển
xuống ngay phía trước khu giết mổ và không
có các lối đi dành riêng. Lợn được phóng tiết
mà không có bất kì biện pháp gây mê. Các công
nhân giết mổ sử dụng chung nước sôi trong một
nồi nước lớn để cạo lông. Những người có kinh
nghiệm sẽ đảm nhiệm việc mổ và thân thịt bằng
tay. Nước sử dụng cho rửa thân thịt là nước máy
được bơm vào một bể lớn và người công nhân
giết mổ sẽ dùng các xô và chậu múc thẳng vào
trong bể. Nước này đồng thời cũng dùng để làm
lòng và rửa các dụng cụ giết mổ và sàn giết mổ.
Khu làm lòng gần như không có sự phân cách
rõ rệt với nơi mổ lợn. Sau quá trình giết mổ, các
dụng cụ giết mổ, sàn giết mổ chỉ được dội rửa
bằng nước trong bể chung mà không có sự
dụng bất kì một loại chất sát trùng nào. Các
lò mổ đều không có hệ thống xử lý chất thải
mà chủ yếu thu gom các chất thải rắn một
cách thủ công và để các chất thải lỏng chảy
trực tiếp vào hệ thống nước thải chung. Các
thân thịt và phủ tạng được cân lên được bán
buôn hoặc bán lẻ cho những người bán thịt và
vận chuyển bán tại các chợ thuộc khu vực Hà
Nội bằng xe máy. Tất cả các thao tác từ khi
giết mổ đến khi vận chuyển đi được tiến hành
từ 15-30 phút.
64 Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIII, số 4 (140)
V. KẾT LUẬN
Chúng tôi đã tìm ra tính đa dạng của các
chủng Salmonella nhiễm trong lợn trước và sau
giết mổ, điều này thể hiện sự ô nhiễm trong môi
trường giết mổ, nguồn nước trong giết mổ. Mặc
dù tỷ lệ nhiễm Salmonella ở các loại mẫu khác
nhau nhưng rất hiếm khi chúng tôi phát hiện
trên cùng một con lợn có cùng serotype. Do vậy
trong nghiên cứu này chúng tôi không tìm thấy
được mối liên hệ dịch tễ nào giữa các loại mẫu
phân lập. Chúng tôi có thể kết luận rằng, sự ô
nhiễm Salmonella ở thân thịt chủ yếu do tiếp
xúc với sàn giết mổ. Có 3 serotype phổ biến là
Derby, Typhimurium và Rissen lần lượt chiếm
tỷ lệ 5,6 %; 3, % và 13,4 %. Sự có mặt của
serotype gây ngộ độc thực phẩm là S. Ty-
phimurium cho thấy sự nguy cơ gây ngộ độc do
thịt lợn từ trang trại và lò mổ là đáng kể. Các
can thiệp về vệ sinh tại lò mổ cần được tăng
cường nhiều hơn. Các chương trình can thiệp
an toàn thực phẩm như ”Dự án Cạnh tranh
ngành Chăn nuôi và An toàn thực phẩm” (LIP-
SAF) là một cơ hội cho việc cải thiện vệ sinh
lò mổ, góp phần vào tăng cường an toàn thực
phẩm.
Lời cảm ơn
Chúng tôi xin cám ơn ThS Lưu Quốc Toản
đã giúp đọc bản thảo của bài báo. Nghiên cứu
này được sự hỗ trợ kinh phí của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn thông qua đề tài
trọng điểm của Bộ và chương trình NCCR
North-South.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Anonymous, Restitution of food quality
and hygiene management activities in
001, in Action plan of year 00 . 00 :
Hanoi.
. Anonymous, Vietnam food safety and agri-
cultural health action plan. 006, World
Bank: Hanoi.
3. Cox, L.A., Jr. and P.F. Ricci, Causal regu-
lations vs. political will: why human
zoonotic infections increase despite precau-
tionary bans on animal antibiotics. Environ
Int, 008. 34(4): p. 459-75.
4. Berends, B.R., et al., Identification and
quantification of risk factors regarding Sal-
monella spp. on pork carcasses. Int J Food
Microbiol, 1997. 36( -3): p. 199- 06.
5. Chiu, C.H., et al., The emergence in Taiwan
of fluoroquinolone resistance in Salmonella
enterica serotype choleraesuis. N Engl J
Med, 00 . 346(6): p. 413-9.
6. Chang, C.C., et al., Epidemiologic relation-
ship between fluoroquinolone-resistant Sal-
monella enterica Serovar Choleraesuis
strains isolated from humans and pigs in
Taiwan (1997 to 00 ). J Clin Microbiol,
005. 43(6): p. 798-804.
7. Murugkar, H.V., et al., Isolation, phage typ-
ing and antibiogram of Salmonella from
man and animals in northeastern India. In-
dian J Med Res, 005. 1 (3): p. 37-4 .
8. Berends, B.R., et al., Salmonella spp. on
pork at cutting plants and at the retail level
and the influence of particular risk factors.
Int J Food Microbiol, 1998. 44(3): p. 07-17.
9. Botteldoorn, N., et al., Salmonella on pig
carcasses: positive pigs and cross contam-
ination in the slaughterhouse. J Appl Mi-
crobiol, 003. 95(5): p. 891-903.
10.Hurd, H.S., et al., Variable abattoir condi-
tions affect Salmonella enterica prevalence
and meat quality in swine and pork. Food-
borne Pathog Dis, 005. (1): p. 77-81.
11.Dao, H.T.A. and P.T. Yen, Study of Salmo-
nella, Campylobacter, and Escherichia
coliContamination in Raw Food Available
in Factories, Schools, and Hospital Can-
teens in Hanoi, Vietnam. Annals of the
New York Academy of Sciences,
006(1081): p. 6 - 65.
1 .Thuy, D.N., et al., Đánh giá tình hình
nhiễm một số loại vi khuẩn gây bệnh trong
thịt tươi trên địa bàn Hà Nội. Khoa học kỹ
thuật Thú y, 006. 13: tr. 48-54.
13.CDC, C.f.D.C.a.P., Human salmonellosis
associated with animal-derived pet treats
United States and Canada, 005. WR Morb
Mortal Wkly Rep. 006, 006. 55( 5): p.
70 -5.
65Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIII, số 4 (140)
14.Toyofuku, H., K. Kubota, and K. Morikawa,
Outbreaks of Salmonella in infants associ-
ated with powdered infant formula]. Koku-
ritsu Iyakuhin Shokuhin Eisei Kenkyusho
Hokoku, 006(1 4): p. 74-9.
15.Aarestrup, F.M., et al., International spread
of multidrug-resistant Salmonella
Schwarzengrund in food products. Emerg
Infect Dis, 007. 13(5): p. 7 6-31.
16.Hendriksen, R.S., et al., Global monitoring
of Salmonella serovar distribution from the
World Health Organization Global Food-
borne Infections Network Country Data
Bank: results of quality assured laboratories
from 001 to 007. Foodborne Pathog Dis,
011. 8(8): p. 887-900.
17.Nyachuba, D.G., Foodborne illness: is it on
the rise? Nutr Rev, 010. 68(5): p. 57-69.
18.Humphrey, T., Public health aspects of Sal-
monella infection. Wray and A. Wray edi-
tors,. Salmonella in Domestic Animals
CABI Publishing, 000: p. 45- 6 .
19.Laval, A., Veterinary use of antibiotics and
resistance in man: what relation]. Pathol
Biol (Paris), 000. 48(10): p. 940-4.
0.Barnes, B.M. and K.D. Sorensen, Salmonel-
losis. Diseases of swine. 1997: Edition
Lowastate University Press 4th.
1.Le Bas, C., et al., Prevalence and epidemi-
ology of Salmonella spp. in small pig abat-
toirs of Hanoi, Vietnam. Ann N Y Acad Sci,
006. 1081: p. 69-7 .
.Hiep, D.V., Survey on animal slaughtering
activities and microbiology contamination
in pig meat in some slaughterhouse in Quoc
Oai district, HaTay province, in Faculty of
Veterinary Medicine. 007, Hanoi Agricul-
ture University: Hanoi.
3.Bac, N.V., Assess the contamination of suck-
ling pig meat, piglet meat, cattle meat in do-
mestic consumption in some
slaughterhouses in Hai Phong, solution to
overcome, in Faculty of Veterinary Medi-
cine. 007, Hanoi Agriculture University
Hanoi.
4.Luu, Q.H., et al., Prevalence of Salmonella
spp. in retail chicken meat in Ha Noi, Viet-
nam. Annual New York Academy Science,
006. 1081: p. 57- 61.
5.Thu, T.L., Study on the contamination of
some bacteria in animal meat after slaugh-
tering. Suggestions of suitable control meas-
ures. 006, National Institute of Veterinary
Research: Hanoi.
6.National Institute of Nutrition and UNICEF,
A review of the nutrition situation in Viet-
nam 009- 010. Medical Publishing House
Hanoi, 011.
7.Chantong, W., Salmonella isolation from
slaughter pigs and carcasses in a slaughter-
house in Chiang Mai, Thailand. Chiang Mai
University and Freie Universitat Berlin,
005: p. 84.
8.Padungtod, P. and J.B. Kaneene, Salmonella
in food animals and humans in northern
Thailand. International Journal of Food Mi-
crobiology, 006. 108: p. 346-354.
9.Inthavong, P. and . Microbiological quality
of pig carcass at Dorn Du slaughterhouse in
Ventiane Municipality, Lao PDR. Chiang
Mai University and Freie Universitat Berlin,
005: p. 77.
30.Vo, A.T.T., et al., Distribution of Salmonella
enterica Serovars from humans, livestock
and meat in Vietnam and the Dominance of
Salmonella Typhimurium PhageType 90.
Veterinary Microbiology, 006. 113(153-
158).
31.Korsak, N., et al., Salmonella contamination
of pigs and pork in an integrated pig produc-
tion system. J Food Prot, 003. 66(7): p.
11 6-33.
3 .Swanenburg, M., et al., Epidemiological in-
vestigations into the sources of Salmonella
contamination of pork. Berl Munch Tierarztl
Wochenschr, 001. 114(9-10): p. 356-9.
33.Davies, R.H., et al., National survey for Sal-
monella in pigs, cattle and sheep at slaughter
in Great Britain (1999- 000). J Appl Micro-
biol, 004. 96(4): p. 750-60.
34.Kasbohrer, A., et al., Salmonella in slaughter
pigs of German origin: an epidemiological
study. Eur J Epidemiol, 000. 16( ): p. 141-
6.
66 Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIII, số 4 (140)
35.Swanenburg, M., et al., Salmonella in
slaughter pigs: prevalence, serotypes and
critical control points during slaughter in
two slaughterhouses. Int J Food Microbiol,
001. 70(3): p. 43-54.
PREVALENCE OF SALMONELLA CONTAMINATION IN PIG AND PORK AT
FARMS AND SLAUGHTERHOUSES IN THE NORTHERN PROVINCES OF
VIETNAM
Pham Thi Ngoc1, Nguyen Tien Thanh1,2, Tran Thi Hanh1, Nguyen Viet Hung2,3Љ
1Department of Veterinary Hygiene, National Institute of Veterinary Research
2Center for Public Health and Ecosystem Research, Hanoi School of Public Health
3SwissTPH, ILRI, Sandec/Eawag
Salmonella is known as one of the most fre-
quent foodborne zoonoses in the world and has
been isolated from humans and pork products.
The aim of this study was to assess the preva-
lence of Salmonella in the pig farms and during
slaughter through practice analysis, serotyping,
and focusing on the role of specific practices
in the final carcass contamination.
8 Salmonella isolates were found among
anal swabs, barn floor swabs, feed, drinking
water, wastewater, and breeding equipment
samples in pig farms and in the same type of
samples and carcass swabs collected at slaugh-
terhouses, In total, the main serovars were Sal-
monella enterica subsp. entericaserovar (S.)
Derby ( 5.6%), S. Typhimurium ( 3. %) and
S.Rissen (13.4%). Other serovars including S.
Anatum, S. Braenderup, S.Chartres, and S. Me-
leagridis appeared from .4 % to 6.1 %.
Isolating and serotyping showed that live
pigs’ faeces, probably through unloading,
lairage or offal preparation, were the principal
source of Salmonella contamination of the
slaughter environment and carcasses. However,
we could not establish a direct link between the
environment and carcasses. Similarly, the di-
rect contamination of carcasses through faecal
material from the same pig was not clear. Thus,
our results suggest that the main source of car-
cass contamination was indirect, through the
environment, since the pigs are slaughtered on
the ground. A direct contamination was ob-
served probably through defective practices
and the lack of wastewater management. Con-
trol measures could largely decrease the car-
cass contamination rate. Particular attention
should be paid to the contact of the carcass
with the ground or workers, especially after
scalding, to improved separation between
soiled and clean areas, to wastewater manage-
ment and to the cleaning and disinfection pro-
tocol.
Keywords: Salmonella, pork/pig, slaughter-
house, isolating, typing.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ty_le_nhiem_salmonella_tren_lon_tai_mot_so_trang_trai_va_lo.pdf