Ứng dụng chế phẩm sinh học balasa N01 xây dựng mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi ở Nghệ An

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận - Đã đào tạo được cho 12 cán bộ kỹ thuật và 43 hộ dân về quy trình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn, gà. Cán bộ kỹ thuật và hộ dân tham gia dự án đã hoàn toàn làm chủ được các quy trình kỹ thuật chuyển giao. - Xây dựng thành công mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn thịt với quy mô 900 con nuôi trong 3 lứa nuôi; mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn nái với quy mô 9 con; mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà thịt với quy mô 24.000 con nuôi trong 5 lứa; mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà đẻ trứng với quy mô 7.500 con. Các mô hình nuôi trên nền đệm lót đều đạt hiệu quả kinh tế cao hơn mô hình nuôi trên nền xi măng truyền thống và hoàn toàn không có mùi hôi thối, hàm lượng các chất độc hại trong không khí đều thấp hơn mô hình nuôi trên nền xi măng. - Đã xây dựng, hoàn thiện được quy trình kỹ thuật sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn, gà phù hợp với điều kiện Nghệ An. - Đã xây dựng được chính sách hỗ trợ nhân rộng mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn, gà. 2. Kiến nghị - Mặc dù mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi có hiệu quả rõ rệt trong việc xử lý môi trường chăn nuôi, tuy nhiên, các hộ chăn nuôi còn khó khăn trong đầu tư kinh phí làm đệm lót. Vì vậy, đề nghị UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An và các cơ quan ban ngành liên quan xem xét và phê duyệt chính sách hỗ trợ nhân rộng mô hình ứng dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn, gà trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2016 đến năm 2020 để mô hình sớm được nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh. - Trung tâm ƯDTBKH&CN Nghệ An là đơn vị có kinh nghiệm trong nghiên cứu và đã triển khai nhiều đề tài dự án cấp tỉnh, cấp bộ trong lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất các chế phẩm vi sinh vật phục vụ sản xuất và chăn nuôi. Đề nghị UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An giao cho Trung tâm ƯDTBKH&CN Nghệ An nhiệm vụ nghiên cứu, tiếp nhận quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm Balasa N01 để cung cấp cho nhu cầu làm đệm lót của địa phương cũng như các vùng lân cận./.

pdf7 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ứng dụng chế phẩm sinh học balasa N01 xây dựng mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi ở Nghệ An, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
HOẠT ĐỘNG KH-CN Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 9/2015 [8] I. ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi là lĩnh vực quan trọng trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi đang thải ra một lượng chất thải ở dạng rắn và lỏng như phân, nước tiểu, nước rửa chuồng gây ô nhiễm môi trường. Kết quả điều tra cho thấy hầu hết các cơ sở chăn nuôi ở Nghệ An đều chưa có hệ thống xử lý nước thải, chất thải rắn hoặc có nhưng chưa đạt tiêu chuẩn. Nếu lượng phân trên không được xử lý đúng cách sẽ gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường cho chính các hộ chăn nuôi và khu vực xung quanh. Chế phẩm sinh học Balasa N01 có khả năng phân giải chất thải của vật nuôi và ức chế hoặc tiêu diệt vi sinh vật có hại hoặc lên men gây thối rữa; khi phối trộn với các nguyên liệu có độ xơ cao như mùn cưa, trấu, lõi ngô nghiền sẽ tạo nên hỗn hợp làm đệm lót chăn nuôi. Sử dụng đệm lót chăn nuôi, người nuôi không phải rửa chuồng và tắm cho vật nuôi hàng ngày nên tiết kiệm chi phí, giúp vật nuôi có khả năng tiêu hóa, hấp thụ thức ăn tốt hơn. Đặc biệt là chuồng trại chăn nuôi hoàn toàn không có mùi hôi và không bị ô nhiễm, hạn chế được ruồi muỗi, dịch bệnh. xÂY dựNg MÔ HÌNH sử dụNg ĐệM lóT siNH HọC TrONg CHăN NUÔi ở NgHệ AN n Nguyễn Thị Hồng Nhàn Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Nghệ An Nhằm có cơ sở khoa học và thực tiễn đánh giá khả năng ứng dụng chế phẩm Balasa N01 làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn, gà trong điều kiện Nghệ An, việc thực hiện dự án "Thử nghiệm ứng dụng chế phẩm sinh học Balasa N01 xây dựng mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi (lợn, gà) nhằm góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An” là rất cần thiết, giúp người nông dân tiếp cận với các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, giảm chi phí sản xuất trong nông nghiệp, góp phần hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi gây ra. II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN 1. Kết quả xây dựng mô hình Từ tháng 6/2014-7/2015, dự án đã triển khai 4 mô hình chăn nuôi sử dụng đệm lót sinh học gồm: - Mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong nuôi lợn thịt: 05 hộ của huyện Tân Kỳ, 7 hộ của huyện Đô Lương, 03 hộ của huyện Nam Đàn. - Mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong Ứng dụng chế phẩm sinh học Balasa N01 Mô hình sử dụng đệm lót trong chăn nuôi lợn tại Xuân Sơn - Đô Lương Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 9/2015 [9] HOẠT ĐỘNG KH-CN nuôi lợn nái: 03 hộ của huyện Đô Lương. - Mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong nuôi gà thịt: 15 hộ tại xã Diễn Trung - Diễn Châu. - Mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong nuôi gà đẻ trứng: 10 hộ tại xã Diễn Trung - Diễn Châu. 1.1. Mô hình sử dụng chế phẩm Balasa N01 làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn thịt Đã xây dựng được mô hình nuôi lợn thịt trên nền đệm lót gồm 15 hộ tham gia tại 3 huyện Tân Kỳ, Đô Lương, Nam Đàn, với tổng đàn 900 con, tổng diện tích nền chuồng là 1.800m2. Trong đó, quy mô 40 con (5 hộ); quy mô 60 con (5 hộ); quy mô 80 con (5 hộ). Kết quả theo dõi về nhiệt độ chuồng nuôi; sinh trưởng phát triển, dịch bệnh của vật nuôi; các yếu tố môi trường như sau: 1.1.1 Ảnh hưởng của đệm lót đối với môi trường - Ảnh hưởng của đệm lót đến nhiệt độ chuồng nuôi: Nhiệt độ ở mô hình nuôi lợn trên nền đệm lót ở các tháng có khí hậu mát và lạnh (tháng 1-4 và tháng 9-12) luôn cao hơn nhiệt độ chuồng nuôi trên nền xi măng trên dưới 20C. Riêng tại các tháng nắng nóng cao điểm của mùa hè (tháng 5- 8), mặc dù đã áp dụng các biện pháp chống nóng bằng cách phun sương hoặc dùng quạt làm mát cho chuồng nuôi nhưng nhiệt độ trên nền đệm lót vẫn cao hơn mô hình đối chứng 1,5-20C. Nguyên nhân là do vi sinh vật trên nền đệm lót hoạt động nên sinh nhiệt, làm tăng nhiệt độ chuồng nuôi. - Ảnh hưởng của đệm lót đến việc phân hủy phân lợn: Về cảm quan, khi đứng ở các ô chuồng có đệm lót lên men thì không còn thấy mùi hôi thối của phân cũng như mùi khai của nước tiểu lợn thải ra. Ngược lại, ở chuồng đối chứng vẫn thấy rõ mùi khai, hôi thối của phân và nước tiểu lợn, tuy rằng khí hậu trong những tháng thí nghiệm là lạnh và mát. Quan sát sự biến đổi của phân trên nền đệm lót: sau 3-5 ngày, mặt ngoài khô, phân bị phân giải sâu vào bên trong 3-4mm, ngửi không thấy còn mùi hôi; sau 6-9 ngày, mặt ngoài khô nhăn, phân bị phân giải sâu vào bên trong 7-8mm, khô, xốp; sau 14-17 ngày, khối phân thô, rỗ, nhẹ xốp, chỉ cần bóp nhẹ là tan thành bột. - Ảnh hưởng của đệm lót đến một số thành phần khí độc trong chuồng nuôi: Để xác định ảnh hưởng của đệm lót sinh học đến không khí chuồng nuôi, tiến hành lấy mẫu không khí ở các chuồng nuôi của 3 hộ chăn nuôi lợn bằng 3 phương pháp khác nhau: 1 hộ nuôi trên nền xi măng, 1 hộ nuôi trên nền đệm lót và 1 hộ sử dụng công nghệ biogas. Phân tích một số chỉ tiêu vào 2 đợt: Đợt 1: ngày 15/1/2015 (sau khi triển khai dự án 7 tháng); Đợt 2: 1/6/2015 (sau khi triển khai dự án 12 tháng). Kết quả cho thấy, nồng độ khí độc ở chuồng nuôi có đệm lót lên men đều thấp so với đối chứng và thấp hơn so với tiêu chuẩn cho phép, ngược lại ở chuồng nuôi đối chứng đều có nồng độ khí độc cao hơn so với lô thí nghiệm và cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Cụ thể, ở mô hình nuôi trên nền xi măng, nồng độ khí CO đo được đợt 2 là 3,2 x 104, vượt ngưỡng chỉ tiêu cho phép so với QCVN Chăn nuôi lợn trên nền đệm lót Chăn nuôi lợn trên nền xi măng HOẠT ĐỘNG KH-CN Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 9/2015 [10] - Tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết: Lợn được tiến hành nuôi cả vào những tháng mùa đông lạnh có nhiệt độ không khí thấp và độ ẩm không khí tương đối cao nên rất dễ bị mắc bệnh đường hô hấp. Tuy nhiên, bảng 5 cho thấy, trong 2.500 con lợn được theo dõi thì lợn nuôi trên nền đệm lót chỉ mắc bệnh tiêu chảy (187 con, chiếm 6,94%), còn lợn ở mô hình đối chứng mắc hai bệnh là tiêu chảy (675 con, chiếm 25%) và bệnh viêm đường hô hấp (562 con, chiếm 20,83%). Đó là do lợn sống trên đệm lót lên men được giữ ấm, khô hơn so với sống trên nền xi măng lúc nào cũng lạnh và ẩm ướt hơn. Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn ở mô hình đối chứng (25%) cao hơn trên nền đệm lót (6,94%). Ở mô hình đệm lót, không có lợn chết còn ở mô hình đối chứng có 11,12 con chết do tiêu chảy. Như vậy, lợn nuôi trên đệm lót lên men ít bị mắc bệnh và ít bị tái phát bệnh hơn so với lợn nuôi trên nền chuồng láng xi măng. * Kết luận: Nuôi lợn trên đệm lót sinh học đã có tác dụng: Làm giảm rõ rệt sự ô nhiễm do chất thải của lợn gây ra, tạo một môi trường sống sạch sẽ cho lợn và có lợi cho sức khỏe của con người; Đặc biệt tốt đối với lợn khi nuôi trong các tháng có thời tiết khí hậu mát, lạnh có độ ẩm cao; Lợn sinh trưởng, phát triển tốt, ít bị bệnh. Từ tháng 6/2014 đến nay, các hộ đã nuôi và xuất bán được 03 lứa lợn với tổng số 2.700 con trên nền đệm lót. 05:2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh là 3x104. Nồng độ khí NH3 của mô hình nuôi trên nền xi măng và mô hình biogas cao hơn rõ rệt so với mô hình lợn nuôi trên nền đệm lót. Tuy nhiên, nồng độ khí NH3 ở các mô hình đều ở mức cho phép theo QCVN 05:2009/BTNMT (10ppm). Còn các khí NO2 và SO2 không có sự sai khác nhiều giữa các mô hình và các đợt lấy mẫu phân tích và đều nằm trong ngưỡng cho phép của QCVN 05:2009/BTNMT. Như vậy, đệm lót lên men đã có tác dụng tiêu trừ các khí thải có mùi thối, độc hại một cách hữu hiệu làm cho môi trường trong sạch hơn. - Ảnh hưởng của đệm lót đến nguồn nước ngầm: Để đánh giá ảnh hưởng nuôi lợn trên nền đệm lót đến nước ngầm, tiến hành lấy mẫu nước ngầm của 3 hộ chăn nuôi lợn bằng 3 phương pháp khác nhau: 1 hộ nuôi trên nền xi măng, 1 hộ nuôi lợn trên nền đệm lót và 1 hộ sử dụng công nghệ biogas. Lấy mẫu vào 2 đợt: Đợt 1: ngày 15/1/2015 (sau khi triển khai dự án 7 tháng); Đợt 2: 1/6/2015 (sau khi triển khai dự án 12 tháng) và phân tích các chỉ tiêu cơ bản của nước ngầm. Kết quả cho thấy các chỉ tiêu nước ngầm được phân tích tại các mô hình ở cả 2 đợt lấy mẫu đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 09:2008/BTNMT và không có sự sai khác lớn về kết quả phân tích của 2 đợt lấy mẫu. 1.1.2. Ảnh hưởng của đệm lót đối với sự sinh trưởng, phát triển của lợn - Khả năng tăng trọng của đàn lợn: Sau 4 tháng nuôi, lợn nuôi trên đệm lót sinh học có sự tăng trưởng tốt hơn so với lợn nuôi trên nền xi măng. Bảng 1. Tăng trọng của đàn lợn (Số con theo dõi: 2.700 con) Đợt nuôi Chỉ tiêu theo dõi Trên nền xi măng Trên nền đệm lót I (6/2014 - 10/2014) Thời gian nuôi (ngày) 120 120 Khối lượng bắt đầu nuôi (kg) 8,15 8,14 Khối lượng kết thúc nuôi (kg) 89,98 93,26 Tăng trọng bình quân (g/con/ngày) 681,92 709,33 II (11/2014 - 2/2015) Thời gian nuôi (ngày) 120 120 Khối lượng bắt đầu nuôi (kg) 8,16 8,15 Khối lượng kết thúc nuôi (kg) 90,03 93,31 Tăng trọng bình quân(g/con/ngày) 682,25 709,67 III (3/2015 - 7/2015) Thời gian nuôi (ngày) 120 120 Khối lượng bắt đầu nuôi (kg) 8,16 8,15 Khối lượng kết thúc nuôi (kg) 91,08 94,36 Tăng trọng bình quân (g/con/ngày) 691,00 718,42 Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 9/2015 [11] HOẠT ĐỘNG KH-CN 1.2. Mô hình sử dụng chế phẩm Balasa N01 làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn nái Đã xây dựng được mô hình nuôi lợn nái trên nền đệm lót gồm 3 hộ của huyện Đô Lương tham gia với tổng số 9 con lợn nái. Ở mô hình nuôi lợn nái, chỉ đánh giá về ảnh hưởng của nền đệm lót đến khả năng sinh sản của lợn nái còn các yếu tố ảnh hưởng khác như nhiệt độ, môi trường, khả năng kháng bệnh thì tương tự ở mô hình nuôi lợn thịt trên nền đệm lót. Kết quả đánh giá về khả năng sinh sản của lợn nái ở mô hình đối chứng nuôi trên nền xi măng và mô hình sử dụng đệm lót sinh học được thể hiện ở bảng 2. Bảng trên cho thấy, không có sự sai khác nhiều về các chỉ tiêu số con sơ sinh, khối lượng cai sữa và khối lượng lợn con năm/ một lợn nái ở cả mô hình đối chứng và mô hình sử dụng đệm lót sinh học. Sự sai khác được thể hiện ở số con để nuôi, khối lượng cai sữa. Đối với các chỉ tiêu này thì ở mô hình sử dụng đệm lót sinh học cao hơn mô hình đối chứng. Nguyên nhân là do lợn nuôi trên nền đệm lót đảm bảo môi trường sạch sẽ hơn nên lợn con ít bị bệnh tật. Hơn nữa vào mùa đông, lợn nuôi trên nền đệm lót sinh học có nhiệt độ cao hơn nên lợn tăng trọng nhanh hơn, ít bệnh tật hơn. 1.3. Mô hình sử dụng chế phẩm Balasa N01 làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà thịt Đã xây dựng được mô hình nuôi gà thịt trên nền đệm lót gồm 25 hộ chăn nuôi gà của xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu với tổng đàn 24.000 con/lứa x 5 lứa nuôi = 120.000 con, tổng diện tích nền chuồng là 2.400m2. Kết quả theo dõi về nhiệt độ chuồng nuôi; sinh trưởng phát triển, dịch bệnh của vật nuôi và các yếu tố môi trường như sau: 1.3.1. Ảnh hưởng của đệm lót đối với môi trường - Ảnh hưởng của đệm lót đến nhiệt độ chuồng nuôi: Nhiệt độ của bề mặt đệm lót ở các tháng có khí hậu mát và lạnh (tháng 1-4 và tháng 9-12) luôn cao hơn nhiệt độ không khí chuồng nuôi trên nền xi măng trên dưới 20C. Tại các tháng nắng nóng cao điểm của mùa hè (tháng 5-8), nhiệt độ nền đệm lót cao hơn từ 1-1,50C mặc dù các hộ đã sử dụng phương pháp làm mát cho chuồng nuôi. Nguyên nhân là do các vi sinh vật trong nền đệm lót hoạt động nên tăng sinh nhiệt. - Ảnh hưởng của đệm lót đến việc phân hủy phân gà: Về cảm quan, khi đứng ở các ô chuồng có đệm lót lên men thì không còn thấy mùi hôi thối của phân gà. Ngược lại, ở chuồng lô đối chứng thấy rõ mùi hôi nồng nặc của phân gà. - Ảnh hưởng của đệm lót đến một số thành phần khí độc trong chuồng nuôi: Để xác định ảnh hưởng của đệm lót sinh học đến không khí chuồng nuôi, tiến hành lấy mẫu không khí ở các chuồng nuôi của 2 hộ chăn nuôi gà trên 2 nền chuồng khác nhau: 1 hộ nuôi trên nền xi măng, 1 hộ nuôi gà trên nền đệm lót. Phân tích một số chỉ tiêu vào 2 đợt: Đợt 1: ngày 15/1/2015 (sau khi triển khai dự án 7 tháng); Đợt 2: 1/6/2015 (sau khi triển khai dự án 12 tháng). Bảng 2. Khả năng sinh sản của lợn nái ở mô hình đối chứng nuôi trên nền xi măng và mô hình sử dụng đệm lót sinh học Nền chuồng nuôi Chỉ tiêu Xi măng Đệm lót sinh học Lứa đẻ/năm 2 2 Số con sơ sinh (con/ổ) 9,85 9,85 Số con để nuôi 7,25 9,22 Khối lượng để nuôi (kg/con) 1,67 1,67 Số con cai sữa (con/ổ) 7,37 9,31 Khối lượng cai sữa (kg/con) 6,83 7,00 Khối lượng lợn con mà nái sản xuất được/năm (kg) 154 156 HOẠT ĐỘNG KH-CN Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 9/2015 [12] Kết quả cho thấy, nồng độ các khí độc ở cả hai mô hình đều thấp hơn mức tiêu chuẩn cho phép. Nồng độ khí NO2 và SO2 không có sự khác biệt giữa 2 mô hình và không có sự biến động giữa 2 đợt phân tích mẫu. Nồng độ CO và NH3 có chiều hướng tăng dần theo thời gian nuôi ở tất cả các mô hình. Kết quả trên là do sự tăng trưởng của vật nuôi nên khí thải CO2 tương ứng qua thở cũng tăng lên, mặt khác sự thải phân và nước tiểu cũng tăng lên theo thời gian nuôi vì thế mà các khí thải CO2, NH3 do bốc hơi và do quá trình phân giải phân, nước tiểu trong đệm lót được đẩy mạnh mà có sự tăng lên. Nồng độ khí CO và NH3 ở chuồng nuôi có đệm lót lên men đều thấp so với đối chứng và thấp hơn so với tiêu chuẩn cho phép. Ngược lại, ở chuồng nuôi đối chứng đều có nồng độ khí độc cao hơn so với lô thí nghiệm; trong đó kết quả phân tích CO đợt 2 của mô hình đối chứng vượt ngưỡng cho phép (3,10 x 104 so với QCVN05 : 2009/BTNMT là 3x104). 1.3.2. Ảnh hưởng của đệm lót đến sự sinh trưởng và phát triển của đàn gà - Khả năng tăng trọng của đàn gà: Kết quả cho thấy tăng trọng bình quân cũng như khối lượng của gà nuôi trên nền đệm lót luôn cao hơn mô hình đối chứng. Bảng 3. Tăng trọng của đàn gà (Số con theo dõi: 120.000 con) Đợt nuôi Chỉ tiêu theo dõi Mô hình nuôi Trên nền xi măng Trên nền đệm lót I (Từ 15/6/2014 đến 30/8/2014) Thời gian nuôi (ngày) 75 75 Khối lượng bắt đầu nuôi (kg) 0,20 0,23 Khối lượng kết thúc nuôi (kg) 2,20 2,36 Tăng trọng bình quân (g/con/ngày) 26,71 28,36 II (Từ 5 8/2014 đến 20/10/2014) Thời gian nuôi (ngày) 75 75 Khối lượng bắt đầu nuôi (kg) 0,22 0,25 Khối lượng kết thúc nuôi (kg) 2,223 2,377 Tăng trọng bình quân (g/con/ngày) 26,71 28,36 III (Từ 1/11/2014 đến tháng 25/1/2015) Thời gian nuôi (ngày) 75 75 Khối lượng bắt đầu nuôi (kg) 0,22 0,25 Khối lượng kết thúc nuôi (kg) 2,173 2,327 Tăng trọng bình quân (g/con/ngày) 26,04 27,69 IV (Từ 1/2/2015 đến 16/4/2015) Thời gian nuôi (ngày) 75 75 Khối lượng bắt đầu nuôi (kg) 0,21 0,26 Khối lượng kết thúc nuôi (kg) 2,253 2,407 Tăng trọng bình quân (g/con/ngày) 27,24 28,63 V (Từ 20/4/2015 đến 5/7/2015) Thời gian nuôi (ngày) 75 75 Khối lượng bắt đầu nuôi (kg) 0,21 0,26 Khối lượng kết thúc nuôi (kg) 2,373 2,527 Tăng trọng bình quân (g/con/ngày) 28,84 30,23 Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 9/2015 [13] HOẠT ĐỘNG KH-CN - Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ nuôi sống: Gà nuôi mắc các bệnh: tiêu chảy và cầu trùng, hô hấp. Trong 24.000 con gà được theo dõi, tỷ lệ gà mắc tiêu chảy và cầu trùng của mô hình đối chứng là 1531,2 con, chiếm 6,38%) cao hơn so với mô hình thí nghiệm (919,2 con, chiếm 3,83%). Tuy nhiên, ở cả hai mô hình đều không có hiện tượng tái phát bệnh. Tương tự, tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp của mô hình đối chứng (2.146 con, chiếm 8,94%) cao hơn mô hình thí nghiệm (746 con, chiếm 3,11%). Sau khi điều trị, 12,32% gà ở mô hình đối chứng tái phát bệnh còn gà nuôi ở mô hình thí nghiệm không bị tái phát. Những gà mắc bệnh đường hô hấp mãn tính sẽ có biểu hiện chậm lớn, tiêu tốn thức ăn cao nhưng tăng trọng thấp. Tỷ lệ nuôi sống của cả hai lô gà đều cao (95,17% và 92,78%). Tuy nhiên, lô thí nghiệm có tỷ lệ nuôi sống cao hơn 2,39% (Sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê). Xét tỷ lệ chết chung toàn đàn cho cả kỳ, tổng số gà chết của mô hình đệm lót là 272 con (1,13%), mô hình đối chứng là 1.064 con (4,43%). Như vậy, sử dụng lớp đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà thịt đã cải thiện rõ rệt tiểu khí hậu chuồng nuôi, không khí trong sạch hơn về cảm quan, gà nuôi trên lớp đệm lót có tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết thấp hơn so với mô hình đối chứng. Sử dụng đệm lót sinh học đã giúp tăng khối lượng cơ thể và tốc độ tăng trọng, giảm tiêu tốn thức ăn. Từ tháng 6/2014 đến nay, các hộ đã nuôi và xuất bán được 05 lứa gà với tổng số 120.000 con. 1.4. Mô hình sử dụng chế phẩm Balasa N01 làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà đẻ trứng Đã xây dựng được mô hình nuôi gà đẻ trứng trên nền đệm lót gồm 10 hộ chăn nuôi gà đẻ trứng của xã Diễn Trung - Diễn Châu tham gia với quy mô 7.500 con. Ở mô hình nuôi gà đẻ trứng, chỉ đánh giá về ảnh hưởng của nền đệm lót đến khả năng đẻ trứng của gà còn các yếu tố ảnh hưởng khác như nhiệt độ, môi trường, khả năng kháng bệnh thì tương tự ở mô hình nuôi gà thịt trên nền đệm lót. Kết quả đánh giá về khả năng đẻ trứng của gà ở mô hình đối chứng nuôi trên nền xi măng và mô hình sử dụng đệm lót sinh học được thể hiện ở bảng 4. Bảng trên cho thấy, không có sự sai khác nhiều về trọng lượng mỗi quả trứng ở 2 mô hình. Tuy nhiên, ở mô hình nuôi gà trên nền đệm lót cho tỷ lệ đẻ trứng cao hơn mô hình đối chứng (89% so với 85%), do đó số trứng cả đàn ở mô hình đệm lót cũng cao hơn. Nguyên nhân là do gà nuôi trên nền đệm lót đảm bảo môi trường sạch sẽ hơn nên lợn con ít bị bệnh tật hơn; hơn nữa vào mùa đông gà nuôi trên nền đệm lót sinh học có nhiệt độ cao hơn nên tỷ lệ đẻ trứng cao hơn nuôi trên nền xi măng. 2. Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của dự án 2.1. Hiệu quả kinh tế - Về đầu tư làm nền đệm lót: Theo hạch toán chi phí làm đệm lót, giá thành làm đệm lót không quá cao, khoảng 255.000đ/m2 nền đệm lót nuôi lợn, 33.400đ/m2 nền đệm lót nuôi gà là giá thành không quá cao, người dân có thể chấp nhận được. - Qua tính toán sơ bộ cho thấy: + Lợi nhuận thu được ở lợn nuôi trên đệm lót cao Bảng 4. Khả năng đẻ trứng của gà ở mô hình đối chứng nuôi trên nền xi măng và mô hình sử dụng đệm lót sinh học (Kết quả theo dõi trong 400 ngày, từ ngày 15/6/2014 đến 20/7/2015) Nền chuồng nuôi Chỉ tiêu Xi măng Đệm lót sinh học Tổng đàn (con) 7.500 7.500 Số trứng cả đàn đẻ trong 400 ngày (con) 2.550.000 2.670.000 Số trứng 1 con đẻ trong 400 ngày 340 356 Tỷ lệ đẻ (%) 85 89 Trọng lượng trứng (g/quả) 30 30,02 HOẠT ĐỘNG KH-CN Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 9/2015 [14] - Xây dựng thành công mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn thịt với quy mô 900 con nuôi trong 3 lứa nuôi; mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn nái với quy mô 9 con; mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà thịt với quy mô 24.000 con nuôi trong 5 lứa; mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà đẻ trứng với quy mô 7.500 con. Các mô hình nuôi trên nền đệm lót đều đạt hiệu quả kinh tế cao hơn mô hình nuôi trên nền xi măng truyền thống và hoàn toàn không có mùi hôi thối, hàm lượng các chất độc hại trong không khí đều thấp hơn mô hình nuôi trên nền xi măng. - Đã xây dựng, hoàn thiện được quy trình kỹ thuật sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn, gà phù hợp với điều kiện Nghệ An. - Đã xây dựng được chính sách hỗ trợ nhân rộng mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn, gà. 2. Kiến nghị - Mặc dù mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi có hiệu quả rõ rệt trong việc xử lý môi trường chăn nuôi, tuy nhiên, các hộ chăn nuôi còn khó khăn trong đầu tư kinh phí làm đệm lót. Vì vậy, đề nghị UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An và các cơ quan ban ngành liên quan xem xét và phê duyệt chính sách hỗ trợ nhân rộng mô hình ứng dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn, gà trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2016 đến năm 2020 để mô hình sớm được nhân rộng trên địa bàn toàn tỉnh. - Trung tâm ƯDTBKH&CN Nghệ An là đơn vị có kinh nghiệm trong nghiên cứu và đã triển khai nhiều đề tài dự án cấp tỉnh, cấp bộ trong lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất các chế phẩm vi sinh vật phục vụ sản xuất và chăn nuôi. Đề nghị UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An giao cho Trung tâm ƯDTBKH&CN Nghệ An nhiệm vụ nghiên cứu, tiếp nhận quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm Balasa N01 để cung cấp cho nhu cầu làm đệm lót của địa phương cũng như các vùng lân cận./. hơn lợn nuôi trên nền chuồng xi măng truyền thống là 646.101.000đ trong 15 tháng thực hiện dự án. + Lợi nhuận thu được ở gà nuôi trên nền đệm lót cao hơn mô hình đối chứng trong cả 5 lứa nuôi là 1.378.584.000đ (120.000 con), tương đương 11.488đ/con. 2.2. Hiệu quả xã hội - Dự án triển khai giúp tiết kiệm được chi phí sản xuất do đó góp phần tăng thu nhập cho người chăn nuôi. - Bên cạnh đó, dự án còn tận dụng được các nguồn mùn cưa, vỏ trấu. để làm đệm lót và sau 1 thời gian tiếp tục tái sử dụng làm phân hữu cơ bón cho cây trồng mang lại giá trị hàng hóa cao. - Do sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi xử lý được mùi hôi nên người dân có thể chăn nuôi ngay tại vùng đông dân cư, thành phố mà không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh khu vực, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân ở cả vùng nông thôn và thành thị. 2.3. Hiệu quả môi trường Dự án triển khai giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh từ chất thải của các hộ chăn nuôi lợn, gà; góp phần làm giảm thiểu các tác động đến môi trường đất, nước, không khí và bảo vệ sức khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh khu vực chăn nuôi. III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận - Đã đào tạo được cho 12 cán bộ kỹ thuật và 43 hộ dân về quy trình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn, gà. Cán bộ kỹ thuật và hộ dân tham gia dự án đã hoàn toàn làm chủ được các quy trình kỹ thuật chuyển giao. Mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà ở Diễn Trung - Diễn Châu

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfung_dung_che_pham_sinh_hoc_balasa_n01_xay_dung_mo_hinh_su_du.pdf
Tài liệu liên quan