Cây bưởi cần 4-5 đợt tưới trong năm, với
lượng nước tưới từ 616 đến 748m3/ha/năm,
trong đó có 1 đợt tưới vào giai đoạn từ sau thu
hoạch đến ra hoa, 1 đợt tưới vào giai đoạn từ ra
hoa đến quả nhỏ và 1 hoặc 2 đợt tưới ở giai
đoạn từ có quả nhỏ đến thu hoạch. Mức tưới
mỗi đợt trong các giai đoạn từ sau thu hoạch
đến đến quả nhỏ là 176 m3/ha, tương ứng với
lượng nước tưới khi độ ẩm tối thiểu trong đất
đạt 60% độ ẩm đồng ruộng. Mức tưới mỗi đợt
trong các giai đoạn từ quả nhỏ đến thu hoạch là
132 m3/ha, tương ứng với lượng nước tưới khi
độ ẩm tối thiểu trong đất đạt 70% độ ẩm đồng
ruộng. Tưới theo công thức này đảm bảo cung
cấp đủ nước theo nhu cầu nước của cây trồng,
độ ẩm phân bố tương đối đồng đều theo các
tầng đất canh tác là yếu tố quan trọng đảm bảo
tăng năng suất cây trồng.
Kết luận
Kết quả nghiên cứu áp dụng công nghệ tưới
nhỏ giọt cho cây bưởi ở huyện Sóc Sơn cho thấy
sự phân bố độ ẩm đất theo thời gian tại các tầng
đất canh tác là tuơng đối đồng đều. Ứng dụng
kỹ thuật tưới nhỏ giọt có khả năng thực hiện chế
độ tưới theo độ ẩm tối ưu vì điều khiển chế độ
tưới dễ dàng, chỉ cần một lượng nước phù hợp
cho mỗi lần tưới, tổn thất nước cho ngấm sâu,
chảy tràn, hao hụt hầu như rất thấp do nước tưới
được cấp trực tiếp cho cây trồng. Do vậy mà áp
dụng công nghệ tưới nhỏ giọt mang lại hiệu quả
tiết kiệm nước hơn nhiều so với kỹ thuật tưới
rãnh thông thường. Nghiên cứu này đã kiểm
nghiệm công nghệ tưới nhỏ giọt cho cây bưởi là
loại cây trồng có giá trị kinh tế cao đang được
phát triển ở vùng ngoại thành Hà Nội. Kết quả
nghiên cứu từ mô hình điểm là cơ sở khoa học
và thực tiễn cho việc phát triển công nghệ tưới
hiện đại cho các loại cây ăn quả có giá trị kinh
tế cao như cây bưởi để phát triển kinh tế hộ gia
đình.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho cây bưởi vùng ven đô thành phố Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
27
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TƯỚI NHỎ GIỌT CHO CÂY BƯỞI
VÙNG VEN ĐÔ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TS. Trần Chí Trung
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Tóm tắt: Ưu điểm lớn nhất cuả công nghệ tưới nhỏ giọt là tiết kiệm nước, do nước tưới được
cấp trực tiếp cho cây trồng, không bị thất thoát do bốc hơi và thấm sâu. Tưới nhỏ giọt còn có khả
năng giữ được độ ẩm đồng đều trong tầng đất canh tác góp phần nâng cao năng suất cây trồng.
Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu ứng dụng công nghệ tưới tưới nhỏ giọt cho một trang trại
hộ gia đình có quy mô 0.2 ha trồng cây bưởi ở huyện Sóc Sơn ngoại thành Hà Nội. Kết quả nghiên
cứu từ mô hình điểm là cơ sở khoa học và thực tiễn để nhân rộng mô hình tưới hiện đại cho các loại
cây có giá trị kinh tế cao như cây bưởi để phát triển kinh tế hộ gia đình.
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây do nguồn nước
ngày càng trở nên khan hiếm nên nhiều nước rất
quan tâm đến nghiên cứu và đầu tư công nghệ
tưới tiết kiệm nước cho các loại cây trồng. Các
công nghệ tưới tiết kiệm nước hiện đại phổ biến
là kỹ thuật tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt và tưới
ngầm. Các phương pháp tưới nhỏ giọt và phun
mưa là khá phổ biến, được ứng dụng từ đầu thế
kỷ XX, trong khi phương pháp tưới ngầm mới
được phát triển trong mấy thập kỷ trở lại đây.
Tưới nhỏ giọt là kỹ thuật đưa nước đến gốc cây
trồng dưới dạng từng giọt. Khác với phương
pháp tưới truyền thống hoặc tưới phun là chỉ
làm ẩm phần đất quanh khu vực bộ rễ cây vì vậy
tưới nhỏ giọt còn được gọi là tưới cục bộ (vào
gốc cây trồng). Theo ước tính của FAO (2004),
hiện nay, hầu như các quốc gia trên thế giới ít
nhiều đều áp dụng công nghệ tưói tiết kiệm
nước. Kỹ thuật tưới nhỏ giọt được sử dụng rộng
rãi ở các nước công nghiệp phát triển với những
ứng dụng về công nghệ vật liệu, điển hình là
Mỹ, Israel, Nhật và Úc. Israel là một trong
những quốc gia nổi tiếng trên thế giới về việc
nghiên cứu áp dụng thành công và có nhiều
đóng góp quan trọng trong việc phát triển các kỹ
thuật tưới nhỏ giọt. Khoảng 40% diện tích trồng
bông ở Israel (24.000 ha) được tưới bằng kỹ
thuật tưới nhỏ giọt. Việc áp dụng công nghệ
tưới nhỏ giọt đối với cây ăn quả và các vùng
trồng cây thương mại hứa hẹn tiềm năng phát
triển lớn. Tuy nhiên, lợi ích và các khía cạnh
kinh tế của công nghệ tưới này phụ thuộc lớn
vào điều kiện cụ thể của từng vùng, nhất là điều
kiện về kinh tế, vì công nghệ tưới nhỏ giọt có
giá thành đầu tư cao hơn so với kỹ thuật tưới
phun mưa.
Tưới tiết kiệm nước cho các loại cây trồng đã
trở nên phổ biến trong điều kiện mới về kinh tế
và xã hội ở Việt Nam. Trong những năm gần
đây, một số dự án nghiên cứu ứng dụng công
nghệ tưới nhỏ giọt cho các loại cây trồng đã
được triển khai ở nước ta như mô hình tưới nhỏ
giọt cho 1.5 ha rau quả sạch ở Trường Cao đẳng
Kỹ thuật Hà Tây, 65 ha chè ở thị xã Tuyên
Quang, 1 ha cây ăn quả ở Núi Cốc, Bắc Thái, 1
ha rau quả của Viện nghiên cứu cây ăn quả ở
Gia Lâm, Hà Nội, mô hình tưới nhỏ giọt tại
Trung tâm cây giống Phú Hộ - Phú Thọ và 2 ha
trồng cây mía ở huyện An Khê tỉnh Gia Lai 3.8
ha trồng cây nho ở Ninh Thuận, 2 ha trồng cây
thanh long ở tỉnh Bình Thuận [1], [2], [3]. Hiệu
quả của các đề tài nghiên cứu đã được khẳng
định ở nhiều địa phương, đối với nhiều cây
28
trồng trong cả nước. Tuy nhiên, việc nghiên cứu
công nghệ tưới nhỏ giọt ở nước ta còn chưa
nhiều, chưa có những kết luận xác thực về việc
áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho các loại
cây trồng khác nhau. Đến nay, chưa có nghiên
cứu về áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho các
loại cây ăn quả có múi nói chung và cây bưởi
nói riêng. Hơn nữa, các nghiên cứu chủ yếu áp
dụng cho các trạm thí nghiệm ở các Viện nghiên
cứu, trong khi đó nghiên cứu ứng dụng mô hình
tưới tiết kiệm nước cho các trang trại hộ gia
đình còn chưa nhiều.
Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu
ứng dụng công nghệ tưới tưới nhỏ giọt cho cây
bưởi ở huyện Sóc Sơn ngoại thành Hà Nội, là
kết quả nghiên của đề tài cấp Thành phố “Ứng
dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước cho cây ăn
quả vùng ngoại thành Hà Nội”, thực hiện trong
2 năm 2008-2009. Huyện Sóc Sơn đã được
Thành phố quy hoạch là vùng phát triển trồng
các loại cây ăn quả có diện tích hàng ngàn ha do
có điều kiện đất đai, khí hậu phù hợp để trồng
các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như cây
bưởi, vải và nhãn. Vùng Sóc Sơn có địa hình gò
đồi nhiều, nguồn nước khan hiếm, rất khó khăn
trong việc cung cấp nước cho cây trồng. Việc sử
dụng nguồn nước mặt ở đây là rất khó khăn, nên
việc khai thác sử dụng nguồn nước ngầm thông
qua các giếng khoan có độ sâu khoảng 8-10 m
là khá phổ biến. Biện pháp tưới đang được địa
phương áp dụng cho các loại cây ăn quả là kỹ
thuật tưới rãnh thông thường rất lãng phí nước
và tốn tiền điện bơm nước. Do vậy mà việc áp
dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, một công nghệ
tưới hiện đại cho cây bưởi là loại cây trồng có
giá trị kinh tế cao là có ý nghĩa khoa học và thực
tiễn cao, góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình
vùng ngoại thành.
2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
+ Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu công nghệ tưới nhỏ giọt phù
hợp cho cây bưởi ở huyện Sóc Sơn.
- Kiểm nghiệm công nghệ tưới nhỏ giọt cho
cây bưởi.
- Xác định chế độ tưới hợp lý cho cây bưởi.
+ Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phần mềm CROPWAT do FAO đề
xuất để xác định nhu cầu nước tưới cho cây
bưởi.
- Phương pháp chọn lọc kế thừa: Phân tích
các mô hình tưới tiết kiệm nước cho cây ăn quả
dể lựa chọn sơ đồ công nghệ tưới nhỏ giọt phù
hợp cho cây bưởi.
- Xây dựng mô hình hệ thống tưới nhỏ giọt
cho cây bưởi có quy mô khoảng 2000 m2.
- Thí nghiệm trong phòng: Phân tích chất
lượng nguồn nước, các tính chất hóa, lý của đất
và xác định độ ẩm của đất.
- Tiến hành thực nghiệm để kiểm nghiệm
công nghệ tưới nhỏ giọt cho cây bưởi để xác
định mức độ phân bố độ ẩm đất, hiệu quả tiết
kiệm nước và chế độ tưới cho cây bưởi.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
+ Đặc điểm khu vực nghiên cứu
Khu tưới thí nghiệm trồng cây bưởi có diện
tích khoảng 2000 m2 (0.2 ha) của 1 trang trại hộ
gia đình ở xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn,
ngoại thành Hà Nội. Khu tưới có địa hình tương
đối bằng phẳng. Khu vườn trồng bưởi tổng cộng
có 72 cây bưởi, được bố trí thành 13 hàng cây,
chiều dài trung bình hàng cây là 40 m, khoảng
cách giữa các hàng cây là 5m, khoảng cách giữa
các cây bưởi trong một hàng là 4.7m. Cây bưởi
được trồng là loại bưởi Diễn, đến nay đã được 7
tuổi và đã thu hoạch quả được 4 năm. Cây bưởi
có độ cao trung bình 3 m, tán rộng có bán kính
là 2 m, độ sâu bộ rễ bưởi là khoảng 1,2 m. Khu
đối chứng được chọn là vườn trồng bưởi Diễn
có diện tích 0.3 ha, được tưới bằng phương pháp
tưới rãnh truyền thống có cùng điều kiện về chất
đất và điều kiện khí hậu với khu thí nghiệm.
+ Mô hình tưới nhỏ giọt phù hợp cho cây
bưởi
Thiết kế hệ thống tưới và chế độ tưới khi áp
dụng công nghệ tưới nhỏ giọt được xác định dựa
trên việc tính toán nhu cầu nước tưới của cây
29
bưởi. Trên cơ sở các tài liệu về khí tượng thu
thập từ Trạm Khí tượng Láng (số liệu 25 năm,
từ 1983 đến 2007), kết hợp với thí nghiệm xác
định tính chất vật lý của đất (dung trọng khô, hệ
số thấm của đất), nhu cầu nước tưới của cây
bưởi ở huyện Sóc Sơn được tính toán qua phần
mềm CROPWAT 8.0 do FAO đề xuất năm
2004 [4].
Bảng 1. Kết quả tính toán nhu cầu tưới cho cây bưởi
Tháng ET0
Hệ số cây
trồng Kc
Bốc hơi ETc
(mm)
Mưa hiệu quả
(mm)
Nhu cầu nước
tưới (mm)
1 46,8 0,6 28,1 5,6 22,5
2 47,9 0,6 28,7 7,8 21,1
3 63,2 0,6 38,8 31,1 7,7
4 82,5 0,6 49,7 28,9 20,6
5 112,2 0,59 64,7 117,3 0
6 115,5 0,58 65,8 186,3 0
7 120,0 0,57 67 95,2 0
8 114,1 0,56 64 99,2 0
9 103,8 0,56 57,3 102,5 0
10 84,9 0,56 47,8 88,4 0
11 63,6 0,56 37,7 2,5 35,1
12 53,3 0,6 32,2 12,4 19,8
Tổng 582,5 776,1 124,0
Nhu cầu nước tưới của cây bưởi ở vùng Sóc
Sơn theo tính toán là 124 mm/năm là tương đối
hợp lý đối với vùng Sóc Sơn, là khu vực đặc
trưng ở vùng Đống bằng sông Hồng có lượng
mưa trong năm là tương đối lớn, nhiệt độ, bức
xạ mặt trời, tốc độ gió bình quân năm không
quá cao. Các tháng mùa mưa là thời gian có
mưa nhiều, nên gần như không cần phải tưới,
mà cây bưởi cần tưới nước chủ yếu vào các
tháng đầu và cuối năm.
Hệ thống tưới nhỏ giọt cho cây bưởi được
thiết kế gồm có hệ thống cấp nước bằng động
lực lấy nước từ giếng khoan, nước sau khi bơm
lên được lọc bởi bộ lọc qua hệ thống ống chính,
ống nhánh, ống tưới có các vòi nhỏ giọt cung
cấp nước cho cây bưởi. Giá thành lắp đặt hệ
thống tưới nhỏ giọt cho khu thí nghiệm là 20
triệu đồng, trong đó, bộ phận lọc, đồng hồ đo
áp, ống nhánh và ống tưới là các thiết bị nhập từ
Isael. Ống nhánh được bố trí chạy dọc theo hàng
cây và các ống tưới được đặt vòng quanh gốc
bưởi. Vòi nhỏ giọt được gắn trực tiếp vào bên
trong ống tưới là loại vòi có cấu tạo đặc biệt với
2 lỗ nhỏ giọt, khi một trong hai lỗ bị tắc, lỗ còn
lại sẽ tự động chảy.
Kết quả tính toán thủy lực hệ thống tưới nhỏ giọt
cho cây bưởi cho các thông số chủ yếu như sau:
- Công trình đầu mối là giếng khoan đáp ứng
được lưu lượng nước cung cấp so với nhu cầu
tưới của cây trồng có đường kính D= 45mm,
chiều sâu H=20m, mực nước ngầm ở độ sâu 9 m
dưới mặt đất.
- Máy bơm có lưu lượng Qmax = 5,4m3/h,
cột nước Hmax = 42m, khả năng hút chân
không Hhút = 9m, công suất điện 74KW/h.
- Đường kính ống chính là 40 mm và ống
30
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
15.0 17.0 19.0 21.0 23.0 25.0 27.0 29.0
Trước tưới
Sau tưới 1,5 giờ
Sau tưới 24giờ
Sau tưới 168 giờ
nhánh là 20 mm và đường kính ống tưới vòng
quanh gốc cây là 12 mm. Tổng cộng có 50 vòi
tưới trong 10 m ống tưới cho 1 gốc cây bưởi,
khoảng cách giữa các vòi tưới là 20 cm với lưu
lượng vòi là 1 l/h.
Hình 1. Hệ thống tưới nhỏ giọt cho khu tưới
trồng cây bưởi
+ Kiểm nghiệm công nghệ tưới nhỏ giọt cho
cây bưởi
Mức độ phân bố độ ẩm đất:
Trong nghiên cứu này, độ ẩm của đất được
xác định theo 2 phương pháp: Lấy mẫu đất tại
thực địa để cân sấy tại phòng thí nghiệm và
dùng máy đo độ ẩm nhanh tại thực địa. Mức độ
phân bố độ ẩm đất áp dụng công nghệ tưới nhỏ
giọt được kiểm nghiệm theo không gian và thời
gian của các tầng đất theo chiều sâu. Công tác
thực nghiệm đánh giá mức độ phân bố độ ẩm
của đất được tiến hành cho 7 đợt tưới trong 2
năm 2008 và 2009. Kết quả thực nghiệm cho
thấy, do khu tưới có diện tích nhỏ, các đường
ống nhánh không dài (khoảng 40m) nên chênh
lệch độ ẩm đầu và cuối các ống nhánh là không
đáng kể, phân bổ độ ẩm theo không gian là
tương đối đồng đều, chênh lệch khoảng 1-2%.
Phân bố độ ẩm đất theo thời gian theo chiều
sâu tầng đát canh tác của khu tưới được đánh
giá qua sự diễn biến độ ẩm của đất trước và sau
khi tưới. Phân bố độ ẩm của được minh họa qua
kết quả đo đạc thực nghiệm diễn biến độ ẩm của
đất trước và sau khi tưới tại các tầng đất canh
tác cho đợt tưới ngày 5/10/2008 như được thể
hiện ở hình 2.
Hình 2: Phân bố độ ẩm đất theo thời gian tại
các tầng đất canh tác ở khu tưới
Kết quả kiểm nghiệm cho thấy độ ẩm của đất
phân bố tương đối đồng đều theo chiều sâu các
tầng đất canh tác. Ở lớp đất bề mặt từ 0- 30cm,
độ ẩm thay đổi khá rõ rệt, sau khi tưới trong
khoảng thời gian ngắn thì độ ẩm ở lớp đất này
đã tăng nhanh do lượng nước trên bề mặt nhanh
chóng ngấm xuống. Độ ẩm đất ở dưới tầng sâu
(60-90cm) thay đổi chậm theo thời gian sau khi
tưới. Trong tầng đất canh tác của cây bưởi từ 0-
90 cm, sau thời gian 1 tuần, độ ẩm trong đất
biến đổi từ 21-25% trọng lượng đất khô, tức là
từ 70-90% độ ẩm tối đa đồng ruộng.
Hiệu quả tiết kiệm nước:
Hiệu quả tiết kiệm nước của công nghệ tưới
nhỏ giọt cho cây bưởi được xác định bằng cách
so sánh lượng nước tưới giữa khu thí nghiệm
tưới nhỏ giọt và khu đối chứng. Kết quả tính
toán hiệu quả tiết kiệm nước áp dụng công
nghệ tưới nhỏ giọt cho cây bưởi năm 2009 cho
thấy lượng nước tưới ở khu thí nghiệm giảm
được 425 m3/ha/năm, tức là tiết kiệm được
40% so với lượng nước tưới áp dụng kỹ thuật
tưới rãnh thông thường. Kết quả thực nghiệm
cũng cho thấy áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt
ngoài hiệu quả tiết kiệm nước, còn làm tăng
năng suất cây trồng. Năng suất bưởi tại khu thí
31
nghiệm đạt 30.2 tấn/ha, tăng 8% so với khu đối
chứng.
Bảng 2. Hiệu quả tiết kiệm nước áp dụng
công nghệ tưới nhỏ giọt cho cây bưởi
TT Lượng nước tưới Khu
đối
chứng
Khu thí
nghiệm tưới
nhỏ giọt
1 Lượng nước tưới
(m3/ha/năm)
1.040 615
2 Lượng nước tưới
tiết kiệm
(m3/ha/năm)
425
3 Hiệu quả tiết
kiệm nước (%)
40
+ Xác định chế độ tưới:
Mục đích của việc cấp nước cho cây trồng là
duy trì độ ẩm trong đất từ độ ẩm cây héo đến độ
ẩm tối đa đồng ruộng là khoảng độ ẩm hoạt
động, tương ứng với độ ẩm hoạt động là lượng
nước hữu ích cho cây. Tuy nhiên, trong thực tế
không chờ đến khi độ ẩm trong đất xuống tới trị
số độ ẩm cây héo thì mới tưới, vì khi đó cây sẽ
bắt đầu bị héo ảnh hưởng nghiêm trọng tới năng
suất cây trồng. Do vậy mà cần tưới khi độ ẩm
trong đất đạt tới giá trị tối thiểu nào đó nằm giữa
độ ẩm đồng ruộng và độ ẩm cây héo. Đối với
khu tưới, thí nghiệm độ ẩm của đất cho kết quả
dung trọng khô là 1.41 g/cm3, độ ẩm tối đa đồng
ruộng 26% so với dung trọng khô của đất. Độ
ẩm cây héo đối với cây bưởi là 13% so với dung
trọng khô của đất (50% độ ẩm tối đa đồng
ruộng).
Xác định chế độ tưới cho cây bưởi bao gồm
việc xác định thời gian tưới, lượng nước tưới
mỗi đợt và lượng nước tưới cả năm. Thời gian
tưới và lượng nước tưới mỗi đợt được xác định
dựa vào kết quả theo dõi diễn biến độ ẩm của
đất. Ở nghiên cứu này, tưới nước cho cây bưởi
khi độ ẩm trong đất đạt 60% hoặc 70% độ ẩm
tối đa đồng ruộng. Qua 2 năm thực nghiệm,
chế độ tưới hợp lý áp dụng công nghệ tưới nhỏ
giọt cho cây bưởi được đề nghị như trình bầy ở
bảng 3.
Bảng 3. Chế độ tưới hợp lý áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho cây bưởi
Giai đoạn sinh trưởng của cây trồng
Chỉ tiêu Sau thu hoạch
- ra hoa
Ra hoa- quả nhỏ Quả nhỏ - thu
hoạch
Cả năm
Thời gian tưới Tháng 1- 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5-10
Số đợt tưới 1 1 1 1-2 4-5
Mức tưới mỗi đợt (m3/ha) 176 176 132 132
Tổng lượng nước tưới
(m3/ha/năm)
616-748
Cây bưởi cần 4-5 đợt tưới trong năm, với
lượng nước tưới từ 616 đến 748m3/ha/năm,
trong đó có 1 đợt tưới vào giai đoạn từ sau thu
hoạch đến ra hoa, 1 đợt tưới vào giai đoạn từ ra
hoa đến quả nhỏ và 1 hoặc 2 đợt tưới ở giai
đoạn từ có quả nhỏ đến thu hoạch. Mức tưới
mỗi đợt trong các giai đoạn từ sau thu hoạch
đến đến quả nhỏ là 176 m3/ha, tương ứng với
lượng nước tưới khi độ ẩm tối thiểu trong đất
đạt 60% độ ẩm đồng ruộng. Mức tưới mỗi đợt
trong các giai đoạn từ quả nhỏ đến thu hoạch là
132 m3/ha, tương ứng với lượng nước tưới khi
độ ẩm tối thiểu trong đất đạt 70% độ ẩm đồng
ruộng. Tưới theo công thức này đảm bảo cung
cấp đủ nước theo nhu cầu nước của cây trồng,
độ ẩm phân bố tương đối đồng đều theo các
tầng đất canh tác là yếu tố quan trọng đảm bảo
tăng năng suất cây trồng.
32
4. Kết luận
Kết quả nghiên cứu áp dụng công nghệ tưới
nhỏ giọt cho cây bưởi ở huyện Sóc Sơn cho thấy
sự phân bố độ ẩm đất theo thời gian tại các tầng
đất canh tác là tuơng đối đồng đều. Ứng dụng
kỹ thuật tưới nhỏ giọt có khả năng thực hiện chế
độ tưới theo độ ẩm tối ưu vì điều khiển chế độ
tưới dễ dàng, chỉ cần một lượng nước phù hợp
cho mỗi lần tưới, tổn thất nước cho ngấm sâu,
chảy tràn, hao hụt hầu như rất thấp do nước tưới
được cấp trực tiếp cho cây trồng. Do vậy mà áp
dụng công nghệ tưới nhỏ giọt mang lại hiệu quả
tiết kiệm nước hơn nhiều so với kỹ thuật tưới
rãnh thông thường. Nghiên cứu này đã kiểm
nghiệm công nghệ tưới nhỏ giọt cho cây bưởi là
loại cây trồng có giá trị kinh tế cao đang được
phát triển ở vùng ngoại thành Hà Nội. Kết quả
nghiên cứu từ mô hình điểm là cơ sở khoa học
và thực tiễn cho việc phát triển công nghệ tưới
hiện đại cho các loại cây ăn quả có giá trị kinh
tế cao như cây bưởi để phát triển kinh tế hộ gia
đình.
Tài liệu tham khảo
1. Lê Sâm (2005). Kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, NXB Nông nghiệp, TP. Hồ Chí Minh
2. Phạm thị Minh Thư (2006). Nghiên cứu công nghệ tưới giữ ẩm cho dứa vùng đồi Bắc Trung
Bộ nhằm nâng cao giá trị thương phẩm”, đề tài khoa học cấp Bộ (Bộ NN&PTNT).
3. Nguyễn Quang Trung (2008). Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước cho cây
nho và thanh long vùng khô hạn Nam Trung Bộ, đề tài cấp bộ (Bộ NN&PTNT).
4. CropWat for windows: User guide, FAO 2004
Abstract:
UTILIZING DRIP IRRIGATION TECHOLOGY FOR GRAPEFRUIT
IN SUBURBUN HANOI CITY
Dr. Tran Chi Trung
The most advantage for application of drip irrigation technology is water saving, due to water
is supplied directly to trees without losses from evaporation and percolation. Drip irrigation can
also ensure equity distribution of soil moistures in the layer of tree root to increase crop yield. This
paper introduces the results in applying drip irrigation for a household farm with area of 0.2 ha
growing grapefruit trees in Soc Son district, a sub-burn district of Ha Noi city. Results from the
pilot model are scientific base and actual evdence for expending widely modern irrigation
technology for high value fruit trees to develop household based economic.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ung_dung_cong_nghe_tuoi_nho_giot_cho_cay_buoi_vung_ven_do_th.pdf