Xác định tỷ lệ lưu hành CCoV trên chó
nuôi tại khu vực Hà Nội và các vùng lân cận
Qua khảo sát trên 66 mẫu phân trên chó khỏe
và chó bị tiêu chảy tại 4 phòng khám thú y cùng
10 hộ dân xung quanh khu vực các quận/huyện
ở khu vực Hà Nội cho thấy tỷ lệ lưu hành CCoV
type II là 30% (22/66 mẫu khảo sát), không
có sự khác biệt tỷ lệ lưu hành CCoV theo địa
bàn quận/huyện. Điều này cho thấy có sự hiện
diện CCoV-II trên đàn chó nuôi tại khu vực
Hà Nội. Sự lưu hành CCoV đã được báo cáo
ở một số nước như Nhật Bản (56,9%) (Soma
và ctv., 2016), Trung Quốc ( 23,9%) (Wang và
ctv, 2011), Ý (36,3%), Anh (20,6%), Hungary
(15%), Hy Lạp (36%) (Pratelli và ctv., 2004,
Decaro và ctv., 2010).
Kết quả phân tích sự lưu hành CCoV-II theo
nhóm giống chó, cho thấy trên giống chó ngoại
(77,27%) cao hơn trên giống chó nội (22,73%).
Điều này có thể do các giống chó ngoại có sức
đề kháng kém hơn so với chó nội. Điều kiện
khí hậu, thời tiết và môi trường nuôi nhốt ở Việt
Nam cũng là một trong những nguyên nhân gây
stress cho các giống chó nhập ngoại, dẫn đến
khả năng nhiễm các mầm bệnh truyền nhiễm
của các đối tượng này cao hơn. Ngoài ra, do tâm
lý của người nuôi chó, họ chỉ mang chó đến các
phòng khám thú y khi thấy chó của mình bị ốm,
bị bệnh. Chó nhập ngoại được đầu tư và chăm
sóc chu đáo hơn so với các giống chó nội vì thế
nên lượng chó ngoại được đưa đến thăm khám
tại các phòng khám nhiều hơn, còn các giống
chó nội nuôi thả tự do trong các gia đình, ít được
quan tâm về sức khỏe hơn. Sự khác biệt này có
thể ảnh hưởng đến số lượng mẫu nghiên cứu
trên từng đối tượng.
Kết quả phân tích theo lứa tuổi cho thấy chó
nuôi giai đoạn từ 2-5 tháng tuổi nhiễm CCoV
(68,18%) cao hơn trên chó trên 5 tháng tuổi
đến dưới 1 năm tuổi (22,73%) và trên một năm
tuổi (9,09%). Nhóm chó 2-5 tháng tuổi có tỷ lệ
nhiễm cao, có thể do trong giai đoạn này con
vật có nhiều thay đổi về hình vóc, cân nặng, chó
sinh trưởng, phát triển nhanh, hệ thống miễn
dịch chưa hoàn thiện, vì vậy có thể ảnh hưởng
đến sức đề kháng của con vật.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ứng dụng kỹ thuật RT-PCR trong chẩn đoán bệnh do coronavirus trên chó nuôi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
38
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 4 - 2019
ÖÙNG DUÏNG KYÕ THUAÄT RT-PCR TRONG CHAÅN ÑOAÙN
BEÄNH DO CORONAVIRUS TREÂN CHOÙ NUOÂI
Bùi Thị Tố Nga1, Bùi Trần Anh Đào1, Nguyễn Văn Dũng2
TÓM TẮT
CCoV (Canine Coronavirus) là một tác nhân gây viêm ruột trên chó, được phát hiện ở nhiều nước
trên thế giới. Việc ứng dụng các kỹ thuật chẩn đoán nhanh, chính xác và kịp thời bệnh là hết sức cần
thiết. Trong nghiên cứu này, kỹ thuật RT-PCR đã được thiết lập và ứng dụng trong chẩn đoán bệnh do
CCoV-II và khảo sát sự lưu hành CCoV trên chó nuôi tại Hà Nội và khu vực lân cận. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, phản ứng RT-PCR với cặp mồi 2bF, 2bR đã phát hiện được CCoV-II trên mẫu lâm sàng
và mẫu thí nghiệm với độ nhạy 1copy/µl, cao hơn so với cặp mồi S5, S6 (10 copy/µl). Độ đặc hiệu của
cả hai cặp mồi 2bF, 2bR và S5, S6 là khá cao để phát hiện CCoV-II, và không phát hiện dương tính
trên các mẫu virus Carré, Parvo thử nghiệm. Kết quả khảo sát sự lưu hành của CCoV-II cho thấy tỷ lệ
lưu hành chung là 30%, tỷ lệ lưu hành của CCoV-II trên nhóm giống chó ngoại (77,23%) cao hơn so
với trên nhóm giống chó nội (22,27%), tỷ lệ lưu hành của CCoV-II trên chó ở giai đoạn từ 2 tháng đến
dưới 5 tháng tuổi là cao nhất (68,18%).
Từ khóa: Chó, CCoV, RT-PCR, tỷ lệ bệnh, Hà Nội.
The application of RT-PCR for diagnosing canine coronavirus
in domestic dogs
Bui Thi To Nga, Bui Tran Anh Dao, Nguyen Van Dung
SUMMARY
CCoV is a pathogen causing enteritis in dogs in many countries around the world. The application
of fast, accuracy and timely diagnostic techniques is essential. In this study, RT-PCR technique
was established and applied for diagnosing and investigating the prevalence of CCoV-II in the
domestic dogs raising in Ha Noi and surrounding area. The studied result showed that RT-PCR
with a pair of 2bF- 2bR primers (detected 1copy/µl) was more sensitive in comparison with S5-S6
primers (detected 10 copies/µl) in identifying CCoV-II. The specificity of both primers 2bF-2bR and
S5-S6 was high for detecting CCoV, and not to detect the CDV and CPV-positive samples. The
prevalence of CCoV-II in Ha Noi and surrounding area was 30%, the infection rate of the exotic dog
breeds (77.23%) was higher than that of the indigenous dog breeds (22.27%) and prevalence in
the dog group from 2 months old to less than 5 months old was the highest (68.18%).
Keywords: Dogs, CCoV, RT-PCR, prevalence, Ha Noi City.
1. Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2. Chi cục Chăn nuôi và Thú y Tp. Hồ Chí Minh
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát
triển kinh tế của đất nước, phong trào nuôi thú
cảnh ngày càng phát triển đa dạng, phong phú
với nhiều loại vật nuôi khác nhau, trong đó có
việc nuôi chó. Việc phát triển nuôi chó tăng về
mật độ, số lượng thường kèm theo sự gia tăng các
mầm bệnh, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm.
Bệnh do Coronavirus là một trong những bệnh
trên chó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức
khỏe chó nuôi nếu không phát hiện kịp thời và
phòng trị bệnh hợp lý.
Virus Corona gây bệnh trên chó (CCoV)
có cấu trúc là một sợi ARN đơn dương. CCoV
39
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 4 - 2019
được chia làm hai type: CCoV type I (CCoV-I)
và CCoV type II (CCoV-II) dựa vào sự sai khác
về trình tự nucleotide tại vùng gen S (Masters
và ctv, 2013) . Với CCoV-II lại được phân ra
2 subtype là CCoV-IIa, CCoV-IIb dựa vào sự
khác biệt ở trình tự 52 nucleotide của vùng N
terminal của S protein (Pratelli và ctv, 2010).
Con vật mắc chủ yếu là do tiếp xúc với phân chó
nhiễm bệnh và chất gây ô nhiễm. CCoV thường
xuyên xuất hiện ghép cùng các bệnh thường gặp
trên chó khác như Ca-rê, Parvovirus khiến
cho công tác chẩn đoán gặp rất nhiều khó khăn.
Việc chẩn đoán nhanh, kịp thời và chính xác
là một yêu cầu cần thiết trong tình hình hiện nay.
Tuy nhiên tại Việt Nam, các thông tin về ứng
dụng các phương pháp chẩn đoán nhanh, chính
xác rất hạn chế, chủ yếu chẩn đoán hiện nay
dựa vào các dấu hiệu lâm sàng hoặc các test xét
nghiệm nhanh. Do đó, mục tiêu của nghiên cứu
này là thiết lập và ứng dụng kỹ thuật RT-PCR
trong chẩn đoán bệnh do CCoV nhằm hỗ trợ cho
công tác phòng trị bệnh ngày càng hiệu quả hơn.
II. NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu
- Thiết lập và tối ưu quy trình RT-PCR trong
chẩn đoán bệnh do CCoV trên chó nuôi.
- Bước đầu ứng dụng kỹ thuật RT-PCR xác
định tỷ lệ lưu hành CCoV trên chó nuôi tại Hà
Nội và khu vực lân cận.
2.2. Nguyên liệu
Mẫu bệnh phẩm: Mẫu phân được thu thập
từ chó tiêu chảy và trên chó khỏe tại các phòng
khám thú y và các hộ nuôi.
Vật tư, hóa chất: Hóa chất, môi trường dùng
để bảo quản mẫu: dung dịch PBS, kít ly trích
RNA, Kit One step RT-PCR, nuclease-free-
water, agarose.
Thiết bị, dụng cụ: Tủ lạnh, tủ lạnh âm sâu
-20ºC, -80ºC, tủ sấy, tủ ấm 370C, tủ ấm 560C,
kính hiển vi quang học, buồng cấy vô trùng,
máy chạy PCR, máy điện di, máy đọc và chụp
ảnh gel Imaging Analyzer, máy ly tâm lạnh,
máy vortex, ống nghiệm, ống eppendorff và các
dụng cụ thường quy của phòng thí nghiệm.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu mẫu: Tổng cộng 66 mẫu
phân của chó khỏe và chó có biểu hiện tiêu chảy
được thu thập từ các phòng khám, hộ nuôi chó
trên địa bàn thành phố Hà Nội (quận Thanh
Xuân, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Gia Lâm). Mẫu
được lấy vào ống falcon vô trùng. Mẫu bệnh
phẩm sau khi lấy được bảo quản ở nhiệt độ
2-80C rồi vận chuyển về phòng thí nghiệm.
Mẫu được hòa tan trong trong 2ml dung dịch
PBS, sau đó lọc qua màng 0.22 μm (Millipore,
Carrigtwohill, Ireland) và bảo quản ở nhiệt độ
-80°C cho đến khi đưa ra phân tích.
Phương pháp ly trích RNA virus: RNA của
virus được ly trích bằng bộ kit QIAamp Viral
RNA mini kit của hãng Qiagen theo hướng dẫn
của nhà sản xuất.
Phương pháp RT-PCR: Để phát hiện RNA
virus trong mẫu bệnh phẩm, phản ứng RT-PCR
được thực hiện dựa trên bộ kít One step RT-PCR
(Qiagen) với cặp mồi 2bF, 5'-AGG TTG TTG
TGG ATG CAT AG-3' và 2bR, 5'-ACG GTC
AAG TTC GTC AAG TA-3' (Poder và ctv, 2013)
cho việc phát hiện CCoV type II đầu 3’ của gen
S (spike). Chu kỳ nhiệt cho phản ứng RT- PCR
gồm giai đoạn RT: 50oC trong 30 phút, 95oC
trong 15 phút, tiếp theo là phản ứng PCR với 40
chu kỳ (94oC trong 30 giây, 54oC trong 30 giây,
72oC trong 1 phút) và giai đoạn kéo dài ở 72oC
trong 5 phút, sau đó giữ ở 4oC. Sản phẩm khuếch
đại được phát hiện bằng kỹ thuật điện di trên
agarose 2% với kích thước 232 bp. Sử dụng cặp
mồi S5, 5’-TGCATTTGTGTCTCAGACTT-3’
và S6, 5’-CCAAGGCCATTTTACATAAG-3’
khuếch đại đầu 5’ của gen S (Pratelli và ctv.,
2004). Chu kỳ nhiệt cho phản ứng RT- PCR
gồm giai đoạn RT: 50oC trong 30 phút, 95oC
trong 15 phút, tiếp theo là phản ứng PCR với
40 chu kỳ (94oC trong 30 giây, 52oC trong 30
giây, 72oC trong 1 phút) và giai đoạn kéo dài ở
40
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 4 - 2019
72oC trong 10 phút, sau đó giữ ở 4oC. Sản phẩm
khuếch đại được phát hiện bằng kỹ thuật điện di
trên agarose 1,5% với kích thước 694 bp.
So sánh độ nhạy, độ đặc hiệu của các cặp
mồi: Để đánh giá độ đặc hiệu của phương pháp
RT-PCR, các chủng chuẩn virus Carré (Nguyen
và ctv., 2017), Parvovirus (Nguyễn Văn Dũng
và ctv., 2018) được dùng để thử nghiệm. Để
đánh giá độ nhạy của phương pháp RT-PCR,
mẫu chuẩn CCoV được định lượng và pha loãng
để thực hiện phản ứng RT-PCR.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. So sánh độ đặc hiệu của hai quy trình RT-
PCR với các cặp mồi lựa chọn S5-S6 và 2b
Độ đặc hiệu của phản ứng RT-PCR được
xác định là tỷ lệ các loại virus khác có kết quả
âm tính với phản ứng RT- PCR trên tổng số
các loại virus thử. Độ đặc hiệu của phản ứng
RT-PCR chính là độ đặc hiệu của cặp mồi sử
dụng. Cặp mồi phải được lựa chọn sao cho có
khả năng ghép cặp tốt với trình tự ở 2 đầu của
đoạn DNA đích. Để đánh giá độ đặc hiệu của 2
cặp mồi, chúng tôi đã thực hiện phản ứng RT-
PCR sử dụng mồi 2b, mồi S5-S6 với các mẫu là
virus vacxin Parvo, virus Corona. Kết quả (hình
1) cho thấy chỉ có RNA của virus Corona được
khuếch đại với kích thước sản phẩm phù hợp với
thông tin của 2 cặp mồi. Điều này chứng tỏ cả
2 mồi đều có độ đặc hiệu cao với virus Corona,
không bắt cặp với các mẫu virus vacxin khác.
Sau khi tiến hành phản ứng RT-PCR với việc sử
dụng 2 cặp mồi 2b và S5-S6 đều phản ứng với
virus Corona với độ đặc hiệu cao, không có sự
bắt cặp sai khác với virus khác.
Hình 1. Kết quả đánh giá độ đặc hiệu của các cặp mồi S5S6 và 2b
M: marker, giếng 1, 2, 3 và 4 tương ứng với CPV, CCoV với mồi S5-S6 (694bp),
CCoV với mồi 2b (232bp) và CDV.
3.2. So sánh độ nhạy của hai quy trình RT-
PCR với các cặp mồi lựa chọn S5-S6 và 2b
Độ nhạy của phản ứng PCR là giới hạn phát
hiện RNA của phản ứng. Độ nhạy của phản ứng
PCR (giới hạn phát hiện) được xác định là nồng
độ thấp nhất cho kết quả PCR dương tính. Giới
hạn này chính là nồng độ của đoạn RNA đích
trong hỗn hợp phản ứng. Nhằm đưa ra được
đánh giá tổng quan về việc sử dụng các cặp mồi
trong phản ứng PCR, độ nhạy đánh giá được
sự bắt cặp phát hiện ở nồng độ thấp nhất mà ở
đó kết quả PCR dương tính. Giữa các cặp mồi
thì đây là cách để nhận định sự tiêu tốn mẫu để
41
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 4 - 2019
tiến hành thí nghiệm, từ đó tiết kiệm được chi
phí mẫu sử dụng. Phản ứng RT-PCR được tiến
hành với mẫu ARN của virus Corona được nuôi
cấy trên môi trường tế bào và đã được chuẩn độ.
Mẫu được cung cấp bởi Phòng thí nghiệm vi sinh
vật - Khoa Nông nghiệp - Đại học Yamaguchi -
Nhật Bản. Phản ứng sử dụng cặp mồi S5-S6 và
2b với với các nồng độ mẫu pha loãng từ 1000
-1copy/µl. Cặp mồi có độ nhạy cao là cặp mồi có
khả năng phát hiện mẫu ở nồng độ thấp hơn. Qua
thử nghiệm, kết quả cho thấy phản ứng RT-PCR
với cả hai cặp mồi đều tốt, mẫu virus Corona đem
thử đều cho kết quả dương tính và sáng rõ, sản
phẩm khuếch đại có kích thước phù hợp, không
có dương tính giả. Như vậy hai cặp mồi đều có
thể sử dụng cho phản ứng RT-PCR để chẩn đoán
phát hiện virus Corona. Tuy nhiên, cặp mồi S5-
S6 có khả năng bắt cặp mẫu với nồng độ 10CFU,
trong khi đó cặp mồi 2b có khả năng phát hiện ở
nồng độ thấp hơn là 1copy/µl (hình 2). Do nồng
độ ARN gốc dùng cho các phản ứng là như nhau
nên kết quả này cho thấy cặp mồi 2b nhạy hơn
trong việc phát hiện virus Corona. Kết quả này
cho thấy cặp mồi 2b cho hiệu quả tốt hơn trong
quá trình chẩn đoán cũng như chi phí thực hiện,
dung lượng mồi cho phản ứng chỉ cần 1copy/µl
đã có thể phát hiện được sự hiện diện của virus.
Còn đối với cặp mồi S5-S6, để phát hiện sự lưu
hành của virus, cần dung lượng mồi để chẩn đoán
gấp 10 lần so với cặp mồi 2b. Ngoài ra, chúng tôi
đã thử giảm thể tích phản ứng xuống 12,5ml thì
cặp mồi 2b vẫn cho kết quả dương tính sáng rõ.
Như vậy, chẩn đoán CCoV bằng RT-PCR với
cặp mồi 2b có độ nhạy cao hơn so với cặp mồi
S5-S6. Do đó, chúng tôi đã sử dụng cặp mồi 2b
cho phản ứng RT-PCR phát hiện CCoV trong
phân chó trong nội dung nghiên cứu tiếp theo.
3.3. Xác định tỷ lệ lưu hành CCoV trên chó
nuôi tại khu vực Hà Nội và các vùng lân cận
Qua khảo sát trên 66 mẫu phân trên chó khỏe
và chó bị tiêu chảy tại 4 phòng khám thú y cùng
10 hộ dân xung quanh khu vực các quận/huyện
ở khu vực Hà Nội cho thấy tỷ lệ lưu hành CCoV
type II là 30% (22/66 mẫu khảo sát), không
có sự khác biệt tỷ lệ lưu hành CCoV theo địa
bàn quận/huyện. Điều này cho thấy có sự hiện
diện CCoV-II trên đàn chó nuôi tại khu vực
Hà Nội. Sự lưu hành CCoV đã được báo cáo
ở một số nước như Nhật Bản (56,9%) (Soma
và ctv., 2016), Trung Quốc ( 23,9%) (Wang và
ctv, 2011), Ý (36,3%), Anh (20,6%), Hungary
(15%), Hy Lạp (36%) (Pratelli và ctv., 2004,
Decaro và ctv., 2010).
Kết quả phân tích sự lưu hành CCoV-II theo
nhóm giống chó, cho thấy trên giống chó ngoại
(77,27%) cao hơn trên giống chó nội (22,73%).
Điều này có thể do các giống chó ngoại có sức
Marker 1000 100 10 1 Đối Marker 1000 100 10 1 Đối
Hình 2. Kết quả đánh giá độ nhạy của các cặp mồi S5-S6 (A) và 2b (B)
A B
42
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 4 - 2019
đề kháng kém hơn so với chó nội. Điều kiện
khí hậu, thời tiết và môi trường nuôi nhốt ở Việt
Nam cũng là một trong những nguyên nhân gây
stress cho các giống chó nhập ngoại, dẫn đến
khả năng nhiễm các mầm bệnh truyền nhiễm
của các đối tượng này cao hơn. Ngoài ra, do tâm
lý của người nuôi chó, họ chỉ mang chó đến các
phòng khám thú y khi thấy chó của mình bị ốm,
bị bệnh. Chó nhập ngoại được đầu tư và chăm
sóc chu đáo hơn so với các giống chó nội vì thế
nên lượng chó ngoại được đưa đến thăm khám
tại các phòng khám nhiều hơn, còn các giống
chó nội nuôi thả tự do trong các gia đình, ít được
quan tâm về sức khỏe hơn. Sự khác biệt này có
thể ảnh hưởng đến số lượng mẫu nghiên cứu
trên từng đối tượng.
Kết quả phân tích theo lứa tuổi cho thấy chó
nuôi giai đoạn từ 2-5 tháng tuổi nhiễm CCoV
(68,18%) cao hơn trên chó trên 5 tháng tuổi
đến dưới 1 năm tuổi (22,73%) và trên một năm
tuổi (9,09%). Nhóm chó 2-5 tháng tuổi có tỷ lệ
nhiễm cao, có thể do trong giai đoạn này con
vật có nhiều thay đổi về hình vóc, cân nặng, chó
sinh trưởng, phát triển nhanh, hệ thống miễn
dịch chưa hoàn thiện, vì vậy có thể ảnh hưởng
đến sức đề kháng của con vật.
IV. KẾT LUẬN
Quy trình chẩn đoán CCoV bằng RT-PCR
với các cặp mồi S5-S6 và 2b đều có khả năng
phát hiện tốt CCoV-II trong mẫu phân trên chó
nuôi.
Cặp mồi S5-S6 có độ đặc hiệu tương tự như
cặp mồi 2b. Tuy nhiên, cặp mồi 2b có độ nhạy
cao hơn cặp mồi S5-S6 gấp 10 lần.
Tỷ lệ lưu hành CCoV-II trên chó nuôi tại khu
vực Hà Nội là 30%, tỷ lệ nhiễm cao trên nhóm
giống chó ngoại (77,23%) và nhóm chó giai
đoạn 2 tháng đến 5 tháng tuổi (68,18%).
TÀI LI ỆU THAM KHẢO
1. Decaro N., Mari V., Elia G., Addie D.,
Camero M., Lecente MS, 2010. Recombinant
canine coronarvirus in dogs, Europe. Emerg.
Infect. Dis. 16:41-47.
2. Masters, P.S.; Perlman, S. Coronaviridae.
In Fields Virology, 6th ed.; Knipe, D.M.,
Howley, P.M., Eds.; Lippincott, Williams
and Wilkins: Philadelphia, PA, USA, 2013;
pp. 825–858.
3. Poder L.S. Feline and canine coronaviruses:
Common genetic and pathobiological
features. Adv. Virol. 2011, 11.
4. Nguyen, D.V., Suzuki, J., Minami, S.,
Yonemitsu, K., Nagata, N., Kuwata, R.,
Shimoda, H., Vu. C.K., Truong, T.Q. and
Maeda. K. 2017. Isolation and phylogenetic
analysis of canine distemper virus among
domestic dogs in Vietnam. J. Vet. Med. Sci.
79(1): 123-127.
5. Nguyễn Văn Dũng, Phan Xuân Thảo, Vũ
Kim Chiến, Ken Maeda. Dịch tễ học phân tử
Parvovirus trên chó nuôi tại Thành phố Hồ
Chí Minh. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y.
Tập XXV Số 4/2018, trang 12-18.
6. Pratelli, A., Decaro, N., Tinelli, A., Martella,
V., Elia, G.,Tempesta, M., Cirone, F., and
Buonavoglia, C. 2004. Two genotypes of
canine coronavirus simultaneously detected
in the fecal samples of dogs with diarrhea. J.
Clin. Microl.42: 1797-1799
7. Soma, T.; Ohinata, T.; Ishii, H.; Takahashi,
T.; Taharaguchi, S.; Hara, M. Detection and
genotyping of canine coronavirus RNA in
diarrheic dogs in Japan. Res. Vet. Sci. 2011,
90, 205–207
8. Wang, X., Li, C., Guo, D., Wang, X., Wei,
S., Geng, Y., Wang, E., Wang, Z., Zhao, X.,
Su, M., Liu, Q., Zhang, S., Feng, L. and Sun,
D.2006. Co-circulation of canine coronavirus
I and IIa/b with high prevalence and genetic
diversity in Heilongjiang province, Northeast
China. PLoS ONE 11: e0146975.
Ngày nhận 4-1-2019
Ngày phản biện 15-4-2019
Ngày đăng 1-6-2019
43
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 4 - 2019
NGHIEÂN CÖÙU MOÄT SOÁ ÑAËC ÑIEÅM DÒCH TEÃ ÔÛ CHOÙ MAÉC BEÄNH CA-REÂ
TAÏI BEÄNH XAÙ THUÙ Y, TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NOÂNG LAÂM THAÙI NGUYEÂN
Phan Thị Hồng Phúc, Nguyễn Thị Ngân, La Văn Công,
Đặng Thị Mai Lan, Nguyễn Thị Bích Đào, Nguyễn Đình Thắng
Khoa Chăn nuôi-Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
TÓM TẮT
Kết quả kiểm tra 1406 chó bệnh được mang đến khám tại Bệnh xá Thú y, trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên cho thấy có 778 ca mắc bệnh truyền nhiễm (chiếm tỷ lệ 55,33%), 222 ca mắc bệnh ký sinh
trùng (chiếm tỷ lệ 15,79%), 406 ca mắc một số bệnh nội, ngoại khoa khác (chiếm tỷ lệ 28,88%). Trong
số 778 chó mắc bệnh truyền nhiễm, có 139 chó mắc bệnh Ca-rê, chiếm tỷ lệ 17,87%; có 49 chó mắc
bệnh Ca-rê chết sau khi khám và điều trị (chiếm tỷ lệ 32,25%). Các giống chó ngoại có tỷ lệ mắc bệnh
Ca-rê cao hơn các giống chó nội, giống chó lai có tỷ lệ mắc cao nhất (12,06%). Tỷ lệ chó mắc bệnh Ca-
rê cao nhất ở lứa tuổi 2 - 6 tháng (15,23%) và mắc nhiều nhất vào mùa Xuân (15,8%). Chó mắc bệnh
Ca-rê có các triệu chứng lâm sàng đặc trưng như: sốt, nôn mửa, chảy dịch mũi xanh, viêm kết mạc mắt,
tiêu chảy màu cà phê. Tỷ lệ nhiễm bệnh Ca-rê không phụ thuộc vào giới tính chó. Chó đã được tiêm
phòng vacxin có tỷ lệ mắc bệnh Ca-rê thấp hơn chó chưa được tiêm phòng.
Từ khóa: Chó, Ca-rê, dịch tễ, tỉnh Thái Nguyên.
Study on some epidemiological characteristics of Carré virus infection dogs
in the Veterinary Clinic, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
Phan Thi Hong Phuc, Nguyen Thi Ngan, La Van Cong,
Dang Thi Mai Lan, Nguyen Thi Bich Dao, Nguyen Dinh Thang
SUMMARY
The result of testing 1406 disease dogs at the Veterinary Clinic, Thai Nguyen University of
Agriculture and Forestry showed that there were 778 cases infected with the infectious diseases
(accounted for 55.33%), 222 cases infected with the parasitic diseases (accounted for 15.79%),
406 cases infected with the other diseases (accounted for 28.88%). There were 139 dogs out
of 778 infectious disease dogs infected with Carré disease, accounting for 17.8%; There were
49 Carré disease dogs died after examination and treatment (accounted for 32.25%). The rate
of the exotic dog breeds infecting with Carré disease was higher than that of the indigenous dog
breeds, the infection rate of the hybrid dogs was the highest (12.06%). The dogs at 2-6 months
old were infected with the highest rate (15.23%); the dogs were infected with the highest rate in
spring (15.8%). The Carré disease infection rate was not different between the male or female
dogs. The Carré disease dogs presented the typical clinic symptoms, such as: fever, vomiting,
discharging blue nose fluid, eye conjunctivitis and diarrhea. The infection rate of the vaccinated
dogs was lower than that of the un-vaccinated dogs.
Keywords: Dog, Carré, epidemiology, Thai Nguyen province.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh Ca-rê là một trong những bệnh nguy
hiểm và phổ biến nhất trên đàn chó nội cũng
như chó nhập ngoại. Ở Việt Nam, bệnh Ca-rê
được phát hiện từ năm 1920 bởi các bác sĩ thú
y Pháp. Đến nay, bệnh xảy ra ở hầu hết các tỉnh
và gây thiệt hại lớn do tỷ lệ tử vong của bệnh
rất cao. Bệnh do virus Ca-rê (Canine distemper
virus/CDV) gây ra. Virus tấn công vào cơ thể
chó và một số loài động vật mẫn cảm khác gây
nên rối loạn ở đường hô hấp, tiêu hóa, hệ thần
kinh, chứng sừng hóa ở gan bàn chân và các rối
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ung_dung_ky_thuat_rt_pcr_trong_chan_doan_benh_do_coronavirus.pdf