KẾT LUẬN
Phương pháp cố định ngoài có chi phí cao,
phức tạp hơn nhưng tính ổn định cao, khung được
giữ chắc chắn, vết gãy được cố định tốt hơn, quá
trình lành xương nhanh, thú có thể đi lại sớm và
phục hồi nhanh hơn, không bị di lệch xương, quá
trình chăm sóc hậu phẫu dễ dàng hơn và có thể
sử dụng với những trường hợp gãy xương hở, vết
gãy phức tạp và áp dụng được trên cả thú có tầm
vóc nhỏ và trung bình. Đối với phương pháp bó
bột, qua quá trình điều trị thực tế, mặc dù có chi
phí thấp, đơn giản, không xâm lấn ổ gãy nhưng
chỉ áp dụng cho các trường hợp gãy kín với vết
gãy ngang đơn giản (ở vị trí xương chày, quay,
trụ hay mác), chỉ áp dụng trên thú có tầm vóc
trung bình và không có tính ổn định (100% tháo
khung) dẫn đến chậm hoặc không lành xương.
Vì thế để lựa chọn phương pháp cố định xương
còn phụ thuộc nhiều yếu tố như mức độ gãy xương,
vị trí gãy, tuổi thú, trọng lượng, kinh nghiệm của
kỹ thuật viên, khả năng kinh tế của chủ.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ứng dụng phương pháp phẫu thuật cố định ngoài để điều trị gãy xương trên cho, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
5KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
ÖÙNG DUÏNG PHÖÔNG PHAÙP PHAÃU THUAÄT COÁ ÑÒNH NGOAØI
ÑEÅ ÑIEÀU TRÒ GAÕY XÖÔNG TREÂN CHOÙ
Lê Trần Hồng Hạnh1, Diệp Ngọc Trúc1, Lê Quang Thông2
TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả điều trị gãy xương trên chó bằng phương pháp
cố định ngoài so với phương pháp bó bột. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp cố định ngoài có thời
gian cố định và thời gian chân thú chạm đất chậm hơn phương pháp bó bột. Đánh giá tình trạng đau sau khi
cố định bằng phương pháp Glasgow cho thấy với cố định ngoài, thú có biểu hiện đau nhiều hơn là bó bột.
Các biến chứng của mỗi phương pháp là khác nhau, nhưng phương pháp cố định ngoài có thể xử lý được
và đem lại kết quả điều trị tốt, còn phương pháp bó bột thì phải tháo khung bó và thay thế bằng một phương
pháp cố định khác. Thời gian lành xương được đánh giá bằng phim X-quang qua các thời điểm 7, 14, 30 và
60 ngày sau khi cố định, cho thấy tiến trình lành xương của phương pháp cố định ngoài là tốt. Trong khi đó
phương pháp bó bột, do có các biến chứng nên khung không giữ được quá 15 ngày, dẫn đến việc đánh giá
lành xương không chính xác và có một trường hợp di lệch xương được ghi nhận vào ngày thứ 7 sau khi cố
định. Chi phí để thực hiện cố định xương gẫy bằng phương pháp cố định ngoài cao hơn phương pháp bó bột.
Từ khóa: chó, gãy xương, cố định ngoài, bó bột, biến chứng
The application of external fixation for bone fracture treatment in dogs
Le Tran Hong Hanh, Diep Ngoc Truc, Le Quang Thong
SUMMARY
This study aimed at evaluating efficiency of the external fixation method in comparison with the
plaster cast method for bone fracture treatment. The studied result showed that the external fixation
method needed more time for stabilizing and starting to use the limbs compared with the plaster cast
method. Through Glasgow scale for pain assessment showed that the dogs were suffered with more
pain in the external fixation method compared to the plaster cast method. Both methods exposed
the different complications but the complications from external fixation method could be solved and
brought with good results. Otherwise, in order to solve the complications from plaster cast method, the
cast needed to be removed and replaced by another stabilizing method. Time for bone healing was
assessed by X-ray films on the day 7th, 14th, 30th and 60th after stabilization and through that, the healing
process of the external fixation method was better. Besides, due to the complication, the cast was not
held more than 15 days, leading to the healing evaluation was not accurate and there was one case of
bone deviation on the day 7th after stabilization. The cost for bone fracture treatment by external fixation
method was higher than by plaster cast method.
Keywords: dog, bone fracture, external fixation, plaster cast, complications.
1. Phòng khám thú y Trust Vet Tp. Hồ Chí Minh
2. Khoa CN-TY, Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chó là loài động vật linh động, ưa chạy nhảy,
đùa giỡn nên dễ dàng gặp phải các chấn thương
không mong muốn, chủ yếu là liên quan đến
xương khớp. Ở Việt Nam, theo một khảo sát năm
2014, gãy xương các chi là một trong những chấn
thương thường gặp nhất trong các trường hợp
bệnh lý chỉnh hình, chiếm tỷ lệ 69,8% (Lê Quang
Thông và Bùi Ngọc Hà, 2015). Hiện nay, có rất
nhiều phương pháp để điều trị gãy xương như cố
6KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
định bên ngoài (nẹp hoặc bó bột) hay cố định bên
trong (đinh xuyên tuỷ, nẹp vít, khung cố định ngoài)
(Meredith và David, 2015). Theo một khảo sát kéo
dài hai năm trên 284 con chó và 298 con mèo thì
40% gãy xương được điều trị bảo toàn hoặc cố
định bên ngoài, 46,8% cố định bên trong, và 13,1%
không được điều trị (Phillips, 1979). Thực tế, việc
cố định gãy xương hiện nay chủ yếu là bó bột (Eiff
và cộng sự, 2003) vì chi phí thấp và hiệu quả điều
trị cao. Tỷ lệ thành công trong phương pháp bó bột
khá cao vì đa số được áp dụng cho các trường hợp
nứt xương, gãy xương đơn giản, gãy ngang. Ở Việt
Nam, phương pháp điều trị gãy xương bằng bó bột
(58,45%) cũng cao hơn hẳn so với các phương pháp
khác (Lê Quang Thông và Bùi Ngọc Hà, 2015). Tuy
nhiên thời gian điều trị kéo dài và tai biến sau khi bó
bột cũng khá nhiều (Chudnofsky, 2004), thú có thể
bị teo khớp, cứng khớp; thú cắn phá làm hư bột; bột
chặt quá làm sưng chân, da lở loét dẫn đến phải tháo
bột sớm nên ảnh hưởng đến sự ổn định của vết gãy.
Hiện nay, ở các nước đang phát triển, phương
pháp dùng khung cố định ngoài để điều trị gãy
xương trên chó cũng được các bác sỹ thú y cân
nhắc lựa chọn do khắc phục được các khuyết điểm
của bó bột nhưng cũng không quá xâm lấn vào ổ
gãy như các phương pháp khác. Cố định ngoài là
một phương pháp linh hoạt, chi phí vừa phải nhằm
điều trị gãy xương dài, cứng khớp và cố định khớp
tạm thời (Lewis và cộng sự, 1994; Radasch và
cộng sự, 2008). Phương pháp cố định ngoài làm
giảm khả năng xâm lấn vùng bị thương, ổn định
chiều dài xương, giảm teo trong các mô xương nên
đảm bảo khả năng chịu lực của khung và hạn chế
những tổn thương lên đường gãy (Johnson và
Decamp, 1992; Egger, 1998; Lewis và cộng sự,
2001). Tuy nhiên, tại Việt Nam, phương pháp
cố định ngoài còn khá mới mẻ và cũng không
có bất kỳ tài liệu hay nghiên cứu nào về phương
pháp này. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu áp dụng phương pháp phẫu thuật cố định
ngoài để điều trị gãy xương trên chó, từ đó góp
phần bổ sung nguồn tài liệu tham khảo trong
điều trị gãy xương trên chó và có cơ sở khoa học
để có thể ứng dụng vào các bệnh viện thú y và
phòng mạch thú y tư nhân tại Việt Nam.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu
- Nghiên cứu được thực hiện trên 12 con chó
có các xương quay, trụ (chân trước) hoặc xương
chày, xương mác (chân sau) bị gãy trong vòng 6
tiếng đầu tiên do chấn thương hay tai nạn được
ghi nhận trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong đó có 10 con chó thực hiện bằng phương
pháp bó bột và 2 con thực hiện bằng cố định
ngoài. Ngoài ra thực hiện tạo ổ gãy thực nghiệm
với 5 chó ở các xương chày (2 ca), xương trụ (2
ca), xương quay (1 ca).
- Dụng cụ cố định ngoài, dụng cụ bó bột,
dụng cụ phẫu thuật xương, dụng cụ phẫu thuật
cơ bản, chỉ may, thuốc thú y và hóa chất.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp cố định ngoài
- Ổ gãy tự nhiên: Sau khi chuẩn bị thú, sẽ
tiến hành nắn xương thẳng trục theo hình dáng
cấu tạo cơ thể học bình thường của chó, lưu ý
thực hiện nhẹ nhàng để không làm xương rạn nứt
thêm. Sau đó, xác định các vị trí đặt đinh ở 2 đoạn
gãy. Rạch một vết mổ nhỏ trên da (1cm) nơi sẽ
đặt đinh. Mổ tách lớp cơ để lộ ra phần xương cần
cố định. Dùng khoan máy với tốc độ cao, khoan
đường vuông góc vào thân xương để làm đường
dẫn. Sau đó, gắn đinh bằng khoan máy với tốc độ
chậm hoặc dụng cụ khoan đinh bằng tay (khoan
Jacob) theo đường dẫn. Hai đinh được đặt song
song với nhau. Lỗ khoan nhỏ hơn đường kính
của đinh 0,1mm. Tiến hành nắn xương cho thẳng
trục cơ thể học bình thường của chó. Sau đó gắn
đinh vào hai thanh nối bên ngoài để làm trục và
dùng hỗn hợp acrylic để cố định các mối nối.
- Tạo ổ gãy thực nghiệm: Sau khi chuẩn bị
thú, xác định vị trí cần tạo ổ gãy. Tiến hành
rạch một vết mổ trên da, mổ tách lớp cơ để
lộ ra phần xương cần tạo ổ gãy. Dùng khoan
máy khoan đường vuông góc vào thân xương
để tạo ổ gãy ngang. Sau đó thực hiện các bước
nắn xương, xác định vị trí đặt đinh cố định,
khoan đinh như ở ổ gãy tự nhiên.
7KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
2.2.2. Phương pháp bó bột
Sau khi tiến hành bước chuẩn bị thú, tiến
hành nắn xương thẳng trục, lưu ý thực hiện nhẹ
nhàng để không làm xương rạn nứt thêm. Sử
dụng 2 mảnh băng keo để dán lên hai bên bàn
chân và sẽ quay ngược dán lên sau khi hoàn
tất băng gòn lót đệm. Băng một lớp gạc mỏng
từ ngón chân đến giữa xương đùi hoặc xương
cánh tay (vẫn thấy ngón chân số III và IV) theo
nguyên tắc từ ngón chân lên trên và các lớp gối
lên nhau 2/3. Tiếp theo băng lớp gòn không
thấm nước lót đệm (lưu ý băng dầy ở các khớp
xương), cũng nguyên tắc gối đầu 2/3. Sau đó,
nhúng cuộn băng thạch cao vào nước từ 30 – 60
giây, vớt ra, vắt cho ráo nước. Quấn bột cũng từ
ngón chân lên trên, chừa lại hai ngón chân số 3
và 4 không quấn kín. Có thể đặt thêm nẹp trong
quá trình bó bột. Vuốt dọc theo chân chó để ép
các lớp thạch cao và tạo dáng bình thường cho
chân. Nhưng tránh quấn bột quá chặt sẽ làm bó
chặt chân chó và gây chèn ép hệ thống mạch
máu, teo cơ một thời gian sau. Sau 3 – 10 phút
lớp thạch cao khô.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thời gian thực hiện
Phương pháp bó bột có thời gian thực hiện
nhanh do đơn giản, dễ thao tác. Trong khi đó,
thời gian cố định xương bằng phương pháp cố
định ngoài mất nhiều thời gian là do quá trình
nắn xương và các thao tác xác định vị trí đặt
đinh, khoan lỗ bắt xương, khoan đinh, đo chiều
dài lỗ khoan, thay mũi khoan dò và đinh, cắt
đinh và thanh nối, gắn nhựa cố định cũng làm
kéo dài thời gian cố định xương. Những vết rách
da để tạo lỗ khoan to phải may lớp cơ và lớp da.
Hơn nữa chúng tôi tiến hành trên nhiều vết gãy
khác nhau (gãy ngang, gãy xiên) khác với bó
bột (gãy ngang) nên mất thời gian khoan đinh
và nắn xương. Nhưng nhờ như vậy mà sau khi
cố định, xương được giữ chắc hơn và không cần
phải tháo khung do di lệch xương như phương
pháp bó bột.
3.2. Đánh giá tình trạng đau bằng phương
pháp Glasgow
Biểu đồ 1. Biểu đồ đánh giá tình trạng đau
theo phương pháp Glasgow
Qua thời gian khảo sát 15 ngày sau khi cố
Hình 1. Tạo ổ gãy và cố định ngoài
Ghi chú: Rạch qua da (A); Tách cơ (B); Bộc lộ xương (C); Khoan xương tạo ổ gãy (D); Bộc lộ ổ gãy (E);
Khoan đường dẫn (F); Khoan đinh (G); Xác định vị trí đặt đinh kế tiếp (H); Khoan đường dẫn và đinh tiếp
theo (I); May da (J); Cố định bằng thanh nối và nhựa acrylic (K)
J K
8KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
định xương bằng phương pháp Glasgow, nhận
thấy tình trạng đau của thú cao nhất ở ngày thứ 1
với cả hai phương pháp. Ở phương pháp bó bột,
từ ngày thứ 3 trở đi, thú đã có thể chạm chân đau
xuống đất và đi khập khiễng. Ở phương pháp
cố định ngoài, đến ngày thứ 15, do vết thương
vẫn sưng và tích dịch nên thú vẫn đau khi đụng
vào. Theo Drygas (2011), khi đánh giá thú đau
bằng phương pháp Glasgow, nếu điểm Glasgow
hằng ngày của thú lớn hơn 10 điểm thì phải tiêm
thuốc giảm đau. Kết quả cho thấy thú thứ nhất
và thứ hai có điểm Glasgow lớn hơn 10 nên phải
dùng thêm thuốc giảm đau ketoprofen.
Ở nhóm chó dùng cố định ngoài có điểm số
đau trung bình cao hơn so với nhóm chó bó bột
(5,4 so với 4,8 điểm). Tuy nhiên, theo quan sát,
2 thú không tạo ổ gãy không có biểu hiện sưng,
tích dịch hay đau khi đụng vào vết thương. Vết
thương lành tốt hơn hẳn nhóm thú bị tạo ổ gãy.
Như vậy có thể vì quá trình tạo ổ gãy đã tổn
thương mạch máu nhiều nên thú bị đau nhiều hơn
nên đã ảnh hưởng đến kết quả đánh giá chung.
3.3. Thời gian chân thú có thể chạm đất
Bảng 1. Thời gian chân thú có thể chạm đất
Chó
Thời gian chân thú có thể chạm đất (ngày)
Bó bột Cố định ngoài
1 3 7
2 3 11
3 3 5
4 4 4
5 4 5
6 4 6
7 5 5
8 3
9 4
10 3
Trung bình 3,6a ± 0,7 6,4b ± 2,79
Ghi chú: a, b: sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê với P < 0,05
Tất cả thú đều cần được hạn chế đi lại khoảng
7 ngày đầu sau phẫu thuật để giúp ổn định vết gãy,
hệ thống mạch máu và mô bị tổn thương được hồi
phục. Tuy nhiên, ở nhóm thú bó bột chỉ lưu giữ 3
ngày, sau đó trả lại cho khách nên việc vận động
của thú không kiểm soát được. Các ghi nhận về
thời gian chân thú có thể chạm đất được quan sát
lúc thú di chuyển trong chuồng và khi thả ra sân.
Ở nhóm thú cố định ngoài, với 2 ca không tạo ổ
gãy, ghi nhận đôi lúc thú có thể đứng được bằng
bốn chân trong chuồng, nhưng khi di chuyển thì
đi bằng ba chân. Qua thời gian theo dõi cho thấy,
đối với thú sử dụng phương pháp bó bột thì thú
có thể chạm chân xuống đất với băng bột là 3,6
ngày, nhanh hơn phương pháp cố định ngoài là 6,4
ngày. Phương pháp bó bột không làm tổn thương
mạch máu nuôi xương, thú không đau nhiều nên
thú có thể đi lại sớm, nhưng bù lại sức chịu đựng
của xương yếu hơn dẫn đến nguy cơ di lệch ổ gãy
nếu vận động mạnh. Ngoài ra, thú càng hoạt động
nhiều sẽ tăng tiết bã nhờn dẫn đến nhiễm trùng da
ở chỗ bó bột và phải tháo bột sớm.
Khi sử dụng phương pháp cố định ngoài,
xương được giữ chắc chắn hơn, đinh được đặt
vuông góc với thân xương cùng với sự hỗ trợ
của các thanh nối tạo thành bộ khung làm giảm
lực tác động đến hai đoạn xương không bị nén
lại, kéo ra, xoay vòng và gấp khúc lại với nhau.
Vì vậy chân thú có thể chạm đất sau khi phẫu
9KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
thuật. Sau đó sẽ có tình trạng nhiễm trùng chân
đinh, vết may da không lành, chân thú sưng to
nên thú ít vận động hơn. Tuy nhiên có thể xử lý
bằng việc vệ sinh sát trùng và dùng kháng sinh,
kháng viêm 1-2 ngày là thú có thể đi lại được.
Như vậy, dù thời gian đi lại chậm nhưng phương
pháp cố định ngoài vẫn đảm bảo được sự an toàn
cho xương và sự vững chắc của khung.
Hình 2. Thú tạo ổ gãy đau khi vận động vào ngày thứ 10 (trái)
và thú có ổ gãy tự nhiên chạm chân xuống đất vào ngày thứ 4 (phải)
3.4. Đánh giá lành xương dựa vào X-quang
Hình 3. X-quang vào ngày 0 (trái) và ngày 25
(phải) bằng phương pháp cố định ngoài
Đánh giá tình trạng lành xương dựa vào phim
X-quang theo phương pháp đã được mô tả bởi
Muhlbauer và Kneller (2013) vào các thời điểm 7,
14, 30, 60 và 90 ngày sau khi cố định. Ở nhóm thú
bó bột, 9/10 thú không quay lại chụp X-quang. Còn
1 thú chụp X-quang vào ngày thứ 7, sau đó tháo bột
ngay do có biến chứng. Chúng tôi ghi nhận tại thời
điểm đó, da thú bắt đầu loét, nhiễm trùng. X-quang
cho thấy hai bờ vết gãy không còn sắc nét, xương
không thẳng trục. Chúng tôi đã liên hệ với chủ nuôi
được biết tất cả thú đều tháo bột vào ngày thứ 6-10
do thú bị ngứa và cắn bột. Chúng tôi không thể đánh
giá tình trạng lành xương của thú bó bột. Ở nhóm
thú cố định ngoài, 6/7 ca đều có sự canxi hóa, hình
thành sẹo xương bao quanh vị trí gãy, quá trình
lành xương diễn ra khá tốt. Có 1/7 ca bị biến chứng
do bể nhựa acrylic nên ổ gãy không được cố định.
Tiến hành nắn xương, cố định lại và ghi nhận thú đã
đứng được bằng bốn chân vào ngày thứ 18.
3.5. Biến chứng
Trong quá trình thực hiện, các biến chứng xảy
ra bao gồm khoan đinh không đúng vị trí, xuất
huyết, nắn xương bị di lệch, nhưng tất cả đều đã
được xử lý. Tất cả là lỗi kỹ thuật, tỷ lệ biến chứng
sẽ giảm khi có nhiều kinh nghiệm hơn. Trong quá
trình chăm sóc hậu phẫu, các thú bị bó bột có biến
chứng chung là ngứa, trầy xước da ở các điểm tỳ.
Tất cả thú đều không giữ được bột đến 30 ngày. Đối
với nhóm thú cố định ngoài, các biến chứng chung
có thể nhìn thấy là rỉ dịch, sưng, đứt chỉ, bề mặt
xuyên đinh tổn thương nhiều hơn nên lâu lành hơn
phía còn lại, không bị lỏng đinh nhưng đều nhiễm
10
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
trùng chân đinh trong khoảng 15 ngày đầu tiên sau
phẫu thuật. Chăm sóc hậu phẫu với nhóm thú cố
định ngoài sẽ mất nhiều thời gian, nhưng bù lại
chúng ta có thể xử lý vết thương trực tiếp khi có các
biến chứng. Còn phương pháp bó bột, nếu có biến
chứng thì chỉ có thể tháo bột. Như vậy sẽ phải gây
mê thú, nắn xương lại. Chưa kể trường hợp nhiễm
trùng nặng sẽ không thể bó bột lại mà sử dụng một
phương pháp khác dẫn đến tốn kém hơn và có thể
ảnh hưởng đến tiến trình lành xương của thú.
Bảng 2. Biến chứng sau cố định
Biến chứng
Bó bột Cố định ngoài
n = 10 Tỷ lệ (%) n = 7 Tỷ lệ (%)
Sưng 0 0 7 100
Rỉ dịch 0 0 7 100
Viêm da/ngứa 10 100 0 0
Cắn bột 10 100 1 14,28
Đứt chỉ 0 0 2 28,57
Teo cơ cứng khớp
Di lệch ổ gãy
Tháo khung trước 15 ngày 10 100 0 0
Hình 4. Không lành da (trái) và vết thương rỉ dịch (phải) của phương pháp cố định ngoài
3.6. Chi phí phẫu thuật (chỉ tính tại thời điểm phẫu thuật và dụng cụ)
Hình 5. Chân thú sau khi tháo khung cố định ngoài và đi lại bình thường
11
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
Chi phí ca phẫu thuật cho thú nặng trung
bình 6 kg với phương pháp bó bột rẻ hơn so
với phương pháp dùng cố định ngoài cho thú
tương đồng về trọng lượng. Nguyên nhân do
giá thành thuốc mê, dụng cụ dùng cho cố định
ngoài tương đối mắc và khó mua hơn bó bột.
Tuy nhiên, nếu xem xét tổng thể về mặt ổn định
và tính an toàn sau phẫu thuật thì phương pháp
cố định ngoài nổi trội hơn.
IV. KẾT LUẬN
Phương pháp cố định ngoài có chi phí cao,
phức tạp hơn nhưng tính ổn định cao, khung được
giữ chắc chắn, vết gãy được cố định tốt hơn, quá
trình lành xương nhanh, thú có thể đi lại sớm và
phục hồi nhanh hơn, không bị di lệch xương, quá
trình chăm sóc hậu phẫu dễ dàng hơn và có thể
sử dụng với những trường hợp gãy xương hở, vết
gãy phức tạp và áp dụng được trên cả thú có tầm
vóc nhỏ và trung bình. Đối với phương pháp bó
bột, qua quá trình điều trị thực tế, mặc dù có chi
phí thấp, đơn giản, không xâm lấn ổ gãy nhưng
chỉ áp dụng cho các trường hợp gãy kín với vết
gãy ngang đơn giản (ở vị trí xương chày, quay,
trụ hay mác), chỉ áp dụng trên thú có tầm vóc
trung bình và không có tính ổn định (100% tháo
khung) dẫn đến chậm hoặc không lành xương.
Vì thế để lựa chọn phương pháp cố định xương
còn phụ thuộc nhiều yếu tố như mức độ gãy xương,
vị trí gãy, tuổi thú, trọng lượng, kinh nghiệm của
kỹ thuật viên, khả năng kinh tế của chủ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chudnofsky CR, Byers S. Splinting
techniques, 2004. In Roberts JR, Hedges JR,
Chanmugam AS, eds. Clinical procedures in
emergency medicine. 4th ed. Philadelphia,
PA.: Saunders :989.
2. Drygas KA., 2011. Effect of cold
compression therapy on postoperative pain,
swelling, range of motion, and lameness
after tibial plateau leveling osteotomy in
dogs. Journal of the American Veterinary
Medical Association, 238(10): 1284-1291.
3. Egger E.L., 1998. External skeletal fixation.
In: Bojrab M.J. (ed.): Current Techniques in
Small Animal Surgery. 4th ed. Philadelphia.
941-950.
4. Eiff MP, Hatch R, Calmbach WL, 2003.
Fracture management for primary care. 2nd
ed. Philadelphia, PA.: saunders :1–39.
5. Johnson A.L., Decamp C.E, 1992. External
skeletal fixation – Linear fixations. Vet. Clin.
North Am. Small Anim. Pract., 29, 1135-1143.
6. Lê Quang Thông và Bùi Ngọc Hà, 2015. Gãy
xương và một số bệnh lý về khớp trên chó:
Khảo sát trên 281 ca bệnh. Tạp chí KHKT
Nông Lâm nghiệp 2015, số 1 tr.22-27
7. Lewis D.D., Cross A.R., Carmichael S.,
Anderson M.A., 2001. Recent advances
in external skeletal fixation. J.Small Anim.
Pract., 42, 103-112
8. Lewis DD, Boomberg MS, 1994. External
skeletal fixation. Waltham focus; 4(4):9-18.
9. Meredith K và David D, 2015. A Practitioner’s
Guide to Fracture Management Part 3:
Selection of Internal Fixation Technique.
<
com/6690-2/>.
10. Muhlbauer M.C, Kneller S.K, 2013.
Radiography of the Dog and Cat: Guide
to Making and Interpreting Radiographs,
Wiley-Blackwell, USA
11. Phillips I.R, 1979. A survey of bone fractures
in the dog and cat. J. Small Anim. Pract. 20,
661-674.
12. Radasch RM, Lewis DD, Mcdonald DE, et
al, 2008. Pes varus correction in dachshunds
using a hybrid external fixator. Vet surg;
37(1):71-81
13. Slatter Douglas H, 2002. Textbook of small
animal surgery, 3rd ed. W.B. Saunder. USA
Ngày nhận 20-10-2017
Ngày phản biện 15-1-2018
Ngày đăng 1-6-2018
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ung_dung_phuong_phap_phau_thuat_co_dinh_ngoai_de_dieu_tri_ga.pdf