Những bài học từ liệu pháp gen
Lịch sử và kinh nghiệm từ những
thành công trong việc cấy ghép tủy
xương đã đem đến cho liệu pháp tế
bào gốc nhiều bài học quý giá. Tuy
vậy, trong lĩnh vực công nghệ sinh
học cũng có những bài học vô cùng
đau xót. Một ví dụ rất đáng sợ mà
chúng ta bắt buộc phải nhắc lại để
cảnh giác, đó là sự kiện xảy ra vào
đầu những năm 1990. Khi đó, liệu
pháp gen được coi là một phương
pháp y khoa quyền năng đã đi chệch
hướng một cách thảm khốc, ít nhất
chỉ vì sự phát triển quá nhanh. Sự
hấp tấp cùng với việc thiếu kiến thức,
khi mà liệu pháp gen là quá mới đã
làm cho một số bệnh nhân tử vong,
trong đó điển hình nhất là trường hợp
của Jesse Gelsinger. Sau khi nguyên
nhân tử vong được xác định là do liệu
pháp gen, một cơn bão truyền thông
đã nổi lên. Bài báo với tiêu đề “Chết
vì công nghệ sinh học, trường hợp
của Jesse Gelsinger” đăng trên New
York Times là một trong vô vàn bài
báo liên quan. Do dư luận phản ứng
quá dữ dội đã làm lĩnh vực này đóng
băng một thời gian dài sau đó mới từ
từ phục hồi.
Cũng như rất nhiều vấn đề trong
cuộc sống, không phải cứ có bệnh là
chúng ta ra nước ngoài để sử dụng
tế bào gốc. Câu chuyện này không
hề đơn giản: có nhiều rào cản khiến
cho việc điều trị bằng tế bào gốc một
cách an toàn và hiệu quả khó thành
hiện thực. Những tác dụng phụ và
nguy cơ nghiêm trọng từ liệu pháp
tế bào gốc đã được lưu ý. Việc nhận
định và hiểu đúng những thách thức
và rào cản đó là vô cùng quan trọng.
Việc lờ đi những rào cản chính là
nguyên nhân của những thảm họa.
Để trở thành một chuyên gia về tế
bào gốc thực thụ, chúng ta nên biết
cả những mặt mạnh và yếu của liệu
pháp này. Chúng ta cần xem xét mọi
yếu tố then chốt của tế bào gốc, cả
tốt lẫn xấu để thực hiện được mục
tiêu chính là hiệu quả và an toàn.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ứng dụng tế bào gốc và một số vấn đề liên quan, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
15
Diễn đàn khoa học và công nghệ
Số 3 năm 2020
tế bào gốc là gì?
Tế bào gốc (stem cell) là các tế
bào sinh học có khả năng biệt hoá
thành các tế bào khác, từ đó phân
bào để tạo ra nhiều tế bào gốc hơn.
Đây là thuật ngữ dùng để chỉ các tế
bào chưa biệt hoá đảm nhiệm chức
năng, vai trò cụ thể mà chúng vốn
có “số phận” phải phát triển thành.
Chẳng hạn, một tế bào xương chỉ có
thể sinh ra từ tế bào gốc chứ không
thể được sinh ra từ tế bào xương khác.
Tế bào gốc có tiềm năng hình thành
nên bất kỳ loại tế bào nào mà mình
mong muốn. Trong cơ thể, có thể lấy
tế bào gốc từ hai nguồn chính, đó là
mô cơ thể trưởng thành và phôi giai
đoạn sớm. Ngoài ra, các nhà khoa
học cũng đã nghiên cứu ra phương
thức phát triển tế bào gốc từ các tế
bào khác bằng kỹ thuật “lập trình lại
gen”. Có hai loại tế bào gốc: tế bào
gốc phôi (embryonic stem cell) -
phân lập từ phôi nang giai đoạn sớm,
và tế bào gốc trưởng thành (adult
stem cell) - có trong các mô khác
nhau. Trong cơ thể trưởng thành, tế
bào gốc và các tế bào tiền thân đóng
vai trò như một hệ thống sửa chữa,
chúng thay thế và bổ sung các tế bào
đã bị lão hoá hoặc hư hỏng ở người
trưởng thành. Trong giai đoạn phôi,
tế bào gốc có thể biệt hoá thành các
tế bào chuyên biệt nhưng cũng duy
trì số lượng tế bào của các cơ quan
tái tạo, chẳng hạn như máu, da, hoặc
các mô đường tiêu hóa.
Ở người, có ba nguồn tế bào
gốc trưởng thành có khả năng sinh
ra thế hệ tế bào sau giống như nó
(autologous), đó là: tủy xương, mô
mỡ và máu. Tế bào gốc cũng có thể
được lấy từ máu dây rốn ngay sau
khi sinh hay từ răng sữa hoặc một
số mô khác nữa. Trong tất cả các
loại tế bào gốc, việc sử dụng tế bào
gốc tự thân có ít nguy cơ rủi ro nhất
nên được áp dụng rộng rãi nhất. Tế
bào gốc trưởng thành thường được
sử dụng trong các liệu pháp y khoa
khác nhau, chẳng hạn như ghép tủy.
Tế bào gốc có thể được phát triển
nhân tạo và biệt hoá thành các tế bào
chuyên biệt với các đặc tính phù hợp
với các tế bào của các mô khác nhau.
Các dòng tế bào phôi và các tế bào
gốc cảm ứng được tạo ra thông qua
việc chuyển gen trong nhân (somatic
cell nuclear transfer) hoặc biệt hoá
ngược (dedifferentiation) - đó là
những phương pháp trị liệu rất tiềm
năng trong tương lai.
Những nghiên cứu đầu tiên về
tế bào gốc được tiến hành từ những
phát hiện của Ernest A. McCulloch
và James E. Till tại Đại học Toronto,
Canada từ những năm 1960. Cho tới
nay, việc nghiên cứu tế bào gốc đã
được phát triển rầm rộ ở khắp các
quốc gia trên thế giới và những thành
quả về ứng dụng tế bào gốc trong
điều trị bệnh luôn được cập nhật với
những thành quả bất ngờ. Vậy tại sao
tế bào gốc lại đảm nhiệm được các
nhiệm vụ này? Chúng ta hãy lướt qua
các tính chất của tế bào gốc. Theo
định nghĩa kinh điển, một tế bào gốc
phải có đầy đủ 2 yếu tố sau: một là
tự làm mới (self-renewal) - khả năng
này xuyên suốt các chu kỳ sinh sản
tế bào, nhưng vẫn giữ được tình trạng
không biệt hoá; hai là tiềm năng biệt
hoá thành các dạng tế bào chuyên
biệt - khả năng này đòi hỏi tế bào
gốc phải là totipotent (toàn năng)
hay pluripotent (vạn năng) để có
khả năng tạo ra bất kỳ dạng tế bào
trưởng thành nào. Tế bào tiền thân
multipotent (đa năng) hay unipotent
thỉnh thoảng cũng được xem như là
Ứng dụng tế bào gốc
và một số vấn đề liên quan
PGS.TS Nguyễn Văn Kình
Cố vấn cao cấp Trung tâm Gen trị liệu, Bệnh viện Bạch Mai
Bài báo điểm lại những tiềm năng và ứng dụng không thể phủ nhận của tế bào gốc trong y học. Cùng
với sự phát triển của khoa học, con người ngày càng khám phá ra những tác dụng tuyệt vời của tế
bào gốc để ứng dụng trong các liệu pháp điều trị bệnh, mang lại sự sống và cải thiện chất lượng
sống cho con người. Tuy nhiên, một vấn đề đang nổi lên hiện nay là vai trò của nhà quản lý. Sự lơ là
trong quản lý sẽ gây ra những thảm họa khôn lường, nhưng nếu quá chặt chẽ, khắt khe lại bóp chết
một ngành khoa học đầy tiềm năng mà chưa được khai phá.
16
Diễn đàn Khoa học và Công nghệ
Số 3 năm 2020
tế bào gốc. Việc tự làm mới được
thực hiện bởi cơ chế sao chép bất
đối bắt buộc (Obligatory asymmetric
replication) và cơ chế biệt hóa ngẫu
nhiên (Stochastic differentiation).
tiềm năng và ứng dụng của tế bào gốc
Tiềm năng (potency) là khả năng
biệt hoá tế bào của tế bào gốc. Trong
đó, các tế bào totipotent (toàn năng)
có khả năng biệt hoá thành các dạng
tế bào phôi và ngoài phôi. Các tế
bào gốc pruripotent (vạn năng) là
hậu duệ của tế bào gốc totipotent
và có khả năng biệt hoá thành các
tế bào xuất phát từ bất kỳ lớp mầm
nào trong 3 lớp mầm Endoderm
(nội bì), Mesoderm (trung bì) và
Ectoderm (ngoại bì). Các tế bào gốc
multipotent (đa năng) có khả năng
tạo ra duy nhất các tế bào cùng họ
với tế bào đó (như tế bào gốc tạo
máu thì có khả năng biệt hoá thành
hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu). Các
tế bào gốc oligopotent (đơn năng)
có thể biệt hóa thành một số loại tế
bào, chẳng hạn như các tế bào gốc
lymphoid hoặc tủy xương. Các tế bào
gốc unipotent có khả năng tạo ra
duy nhất một loại tế bào nhưng vẫn
có tính chất tự làm mới, đây là điểm
phân biệt với tế bào không phải tế
bào gốc (chẳng hạn như tế bào gốc
cơ).
Ứng dụng tế bào gốc trong điều
trị bệnh
Cấy ghép tủy xương là một liệu
pháp tế bào gốc đã được sử dụng
trong nhiều năm mà không có bất kỳ
tranh cãi nào. Không có liệu pháp tế
bào gốc nào ngoài ghép tủy xương
được sử dụng rộng rãi như vậy. ưu
điểm của liệu pháp này là làm giảm
các triệu chứng có thể cho phép bệnh
nhân giảm lượng thuốc trong điều trị
bệnh. Việc điều trị bằng tế bào gốc
cũng góp phần cung cấp kiến thức
và hiểu biết về tế bào, đồng thời mở
ra các hướng điều trị mới trong tương
lai. Nhược điểm của liệu pháp là: việc
điều trị tế bào gốc có thể cần đến sự
ức chế miễn dịch
do cần chiếu xạ
trước khi cấy ghép
để loại bỏ các tế
bào trước đó của
bệnh nhân, hoặc do
hệ thống miễn dịch
của bệnh nhân có
thể tấn công các tế
bào gốc. Một cách
tiếp cận để tránh
thải loại cấy ghép là
sử dụng các tế bào
gốc từ chính bệnh
nhân đang được
điều trị. Ngoài ra,
tính đa năng trong
các tế bào gốc cũng
gây khó khăn trong
việc biệt hoá thành
một loại tế bào cụ
thể. Rất khó để thu
được chính xác loại
tế bào cần thiết sau
quá trình biệt hoá,
bởi không phải tất
cả các tế bào trong
một quần thể đều biệt hoá một cách
thống nhất. Các tế bào không biệt
hoá có thể tạo các mô nhưng không
tạo thành các loại tế bào mong muốn.
Một số tế bào gốc hình thành các khối
u sau khi nuôi cấy (sự đa năng có liên
quan đến sự hình thành khối u); đặc
biệt trong tế bào gốc phôi thai, tế bào
gốc cảm ứng iPSC.
Cho tới nay, tế bào gốc đã được
ứng dụng trong việc điều trị các
bệnh sau: tiểu đường, viêm đa khớp,
Parkinson, Alzheimer, viêm xương
khớp, tai biến mạch máu não và chấn
thương sọ não, khuyết tật do rối loạn
bẩm sinh, tổn thương tủy sống, nhồi
máu cơ tim, trị liệu ung thư, hói, thay
thế răng bị mất, hạn chế thính giác,
phục hồi thị lực và sửa chữa hư hỏng
cho giác mạc, xơ cứng động mạch,
bệnh Crohn, chữa lành vết thương,
chữa vô sinh do thiếu tế bào gốc tinh
trùng. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu
đang được tiến hành nhằm phát triển
các nguồn tế bào gốc khác nhau,
cũng như áp dụng các phương pháp
điều trị cho các bệnh thoái hoá thần
kinh, tiểu đường, tim mạch và các
bệnh lý khác. Một số nghiên cứu
thì đang tạo ra các tổ chức siêu nhỏ
(organoids) nhờ sử dụng các tế bào
gốc, điều này giúp chúng ta hiểu rõ
hơn về sự phát triển của con người,
sự hình thành cơ thể và mô hình hóa
các bệnh trên người.
Nhiễm độc gan và tổn thương
gan gây ra do thuốc là nguyên nhân
chiếm tỷ lệ đáng kể trong các thất bại
của việc thử nghiệm thuốc mới. Điều
này làm nổi bật sự cần thiết của việc
sử dụng tế bào gốc để biệt hoá thành
các tế bào gan có khả năng phát hiện
độc tính sớm trong quá trình phát
triển thuốc.
Tế bào gốc cảm ứng iPSC
Trong những năm gần đây, sự
phát triển của khoa học đã mang lại
thành công trong việc phân lập và
tạo ra các tế bào gốc phôi thai, cũng
Ghép tế bào gốc cho bệnh nhân xơ gan.
17
Diễn đàn khoa học và công nghệ
Số 3 năm 2020
như tạo ra các tế bào gốc bằng cách
chuyển nhân tế bào soma hay các
kỹ thuật tạo ra các tế bào gốc cảm
ứng iPSC. Khi nghĩ về tế bào gốc và
y học, hầu hết mọi người ngay lập tức
hình dung rằng tế bào gốc và các tế
bào được biệt hóa từ chúng sẽ được
dùng cho cấy ghép. Tuy nhiên, tầm
ảnh hưởng của iPSC còn vượt xa hơn
liệu pháp tế bào hay các ứng dụng
khác, vì iPSC hiện nay lại có thêm
một ứng dụng y sinh học tuyệt vời là
mô hình hóa bệnh lý. Với tính năng
này, các nhà khoa học có thể thử
nghiệm nhiều phương thức trị liệu
khác nhau trong phòng thí nghiệm mà
không cần phải tiến hành thử nghiệm
trên cơ thể con người. Đây là một ưu
điểm cực kỳ quan trọng vì nếu làm
thực nghiệm trên người thì bắt buộc
phải tuân thủ những quy định rất khắt
khe và thường liên lụy tới các vấn đề
thuộc đạo đức hết sức phức tạp và
khó vượt qua. Khi sử dụng iPSC thì
những vướng mắc này dễ dàng vượt
qua được, điều đó giúp cho các nhà
khoa học có những khám phá nhanh
chóng hơn rất nhiều so với việc thực
hiện trực tiếp trên bệnh nhân. Theo
cách này, các nhà nghiên cứu có mô
hình sống cho các loại bệnh trong
đĩa nuôi cấy để nghiên cứu chúng
một cách trực tiếp và hoàn toàn mới,
vốn chưa từng được thực hiện trước
đó. Chẳng hạn, từ các tế bào iPSC,
các nhà khoa học có thể tạo ra được
nhiều tế bào cơ tim với việc bắt đầu
từ tế bào da của bệnh nhân bị bệnh
tim. Đó chỉ là một ví dụ đơn giản về
iPSC. Với những ứng dụng này, tế
bào iPSC sẽ có những ảnh hưởng lớn
trong y học, cho dù chúng chưa được
chấp thuận chính thức ứng dụng
trong lâm sàng.
hiện trạng ứng dụng tế bào gốc tại việt
nam
Việc ứng dụng tế bào gốc trong
điều trị bệnh tại Việt Nam rất đa
dạng. Trước hết, phải thừa nhận rằng
việc ghép tế bào gốc tạo máu (ghép
tủy) đã cứu sống được rất nhiều bệnh
nhân. Hàng nghìn người bị ung thư
máu - căn bệnh hiểm nghèo xưa nay
thì hiện tại đã được tế bào gốc cứu
sống. Hàng ngày có hàng chục, thậm
chí hàng trăm bệnh nhân ung thư
máu đã được ghép tế bào gốc ở khắp
các viện huyết học truyền máu, các
bệnh viện quân và dân y trên toàn
quốc, điều đó cũng có nghĩa là từng
ấy người đã được cứu sống hàng
ngày. Ứng dụng rộng rãi thứ hai về tế
bào gốc là sử dụng tế bào gốc mô mỡ
tự thân chữa thoái hóa khớp gối. Cho
tới nay đã có hàng trăm bệnh nhân
được chữa khỏi thoái hóa khớp gối,
chất lượng cuộc sống được nâng cao
rõ rệt.
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
(COPD) cũng đang được thử nghiệm
lâm sàng với cấp độ nhà nước, kết
quả ban đầu khá khả quan. Đây là
một bệnh khó, nếu trị liệu thành công
sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho người
bệnh và xã hội nói chung.
Bệnh bại não gần đây cũng được
báo cáo là chữa được bằng tế bào
gốc tự thân. Đây cũng là bệnh khó,
rất khó. Nếu thành công sẽ mang lại
hạnh phúc cho nhiều người.
Tế bào gốc cũng được sử dụng
để chữa bệnh liệt tủy do tai nạn giao
thông. Những kết quả ban đầu cũng
rất đáng khích lệ.
Tự kỷ là một bệnh vô cùng khó,
thế nhưng những kết quả ban đầu
điều trị bằng tế bào gốc đã đem đến
cho chúng ta những kỳ vọng to lớn
trong việc điều trị căn bệnh này.
Bệnh đái tháo đường giờ đây cũng
được điều trị bằng tế bào gốc và theo
số liệu ban đầu cũng đầy triển vọng.
Có những bệnh rất hiếm như
bệnh ly thượng bì ở trẻ em, thường
gây tử vong rất lớn do nhiễm trùng,
thế mà chính Việt Nam lại là nơi chữa
trị thành công và nhiều nước bạn
đang muốn học hỏi, chia sẻ
Nhìn chung, tuy còn nghèo về cơ
sở vật chất, cán bộ chuyên sâu còn
ít nhưng chúng ta đã làm được những
việc mà thế giới cũng phải thán phục.
Đó là những ưu điểm của việc sử
dụng tế bào gốc. Vậy việc sử dụng
tế bào gốc có thực sự là tốt lành hết
không? Chúng ta hãy điểm qua vài
nét trong phân tích dưới đây.
Tế bào gốc cảm ứng iPSC có tiềm năng ứng dụng trong mô hình hóa bệnh nhân.
18
Diễn đàn Khoa học và Công nghệ
Số 3 năm 2020
Một số vấn đề trong ứng dụng tế bào gốc
Bên cạnh những tiềm năng to lớn
và kết quả tuyệt vời trong việc ứng
dụng tế bào gốc điều trị bệnh, vẫn
còn có những cuộc tranh luận xung
quanh các vấn đề về đạo đức và
chính trị. Hiện nay, việc sử dụng tế
bào gốc dây rốn đang nhận được sự
quan tâm rất lớn của cộng đồng. Vậy
thực hư vấn đề này thế nào?
Ngày 20/2/2010, phát biểu tại Hội
nghị thường niên Hiệp hội vì sự tiến
bộ của khoa học Hoa Kỳ (AAAS),
Irving Weissman, Giám đốc Viện Y
học phục hồi và tế bào gốc sinh học,
thuộc Đại học Stanford - California,
Hoa Kỳ cho biết: dây rốn chứa các
tế bào gốc có thể duy trì khả năng
tạo máu ở mức độ chỉ cho trẻ nhỏ.
Mặc dù "khả năng chữa bệnh của tế
bào gốc dây rốn chưa hề được chứng
minh" nhưng hiện tại nó lại rất thịnh
hành ở nhiều nước có quy định lỏng
lẻo trong ngành y tế. Weissman cho
rằng, các bệnh viện tư đang "kiếm
tiền" từ những người tin vào khả năng
kỳ kiệu của tế bào gốc lấy từ dây rốn.
Mối liên quan giữa tế bào gốc và
ung thư
Điều mà chúng ta nên thận trọng
là khi cơ thể có quá ít tế bào gốc thì
sẽ dẫn tới lão hóa và bệnh tật. Tuy
nhiên, dù có tuyệt vời như thế nào đi
nữa thì nhiều tế bào gốc quá đôi khi
cũng không tốt. Tế bào gốc có thể
gây ra ung thư và trong một số trường
hợp, chúng còn tạo ra dạng ung thư
đặc biệt khó chữa. Khi bị tổn hại, tế
bào gốc của chúng ta có thể biến
đổi thành một dạng tế bào gốc rất
nguy hiểm, đó là “tế bào gốc ung thư”
(cancer stem cell) mà sau đó biết
đâu sẽ hình thành nên khối u. Một tế
bào gốc ung thư là một tế bào đơn lẻ
có khả năng đặc biệt để hình thành
một khối u hoàn toàn mới. Một tế bào
gốc ung thư mang nhiều quyền năng
của tế bào gốc nhưng lại không nằm
dưới sự điều khiển của các nhân tố
thông thường vốn giúp chúng định
hướng và kiểm soát những quyền
năng đó. Chúng chẳng khác gì một
chiếc xe đua không phanh kiểu đua
Công thức 1. Mối liên hệ giữa tế bào
gốc và ung thư là đặc biệt quan trọng
ở nhiều khía cạnh. Điều mà chúng ta
cần phải xem xét đó là những điểm
giống nhau và khác nhau giữa tế bào
gốc bình thường và tế bào gốc ung
thư.
Những nguyên nhân dẫn đến
ung thư có thể giúp chúng ta kiểm
soát được tế bào gốc cũng như ứng
dụng những tiềm năng của chúng
trong lâm sàng. Chẳng hạn, ở tế bào
gốc nội sinh thì thời gian để một tổn
thương xảy ra là nhiều năm hay nhiều
thập kỷ, nhưng ở tế bào gốc nuôi cấy
trong phòng thí nghiệm thì thời gian
diễn ra rút ngắn hơn rất nhiều, có
thể chỉ vài tuần. Bởi một nguyên do
là khi một tế bào gốc được nuôi cấy
và chuẩn bị cho cấy ghép thì nhiều
sai hỏng nghiêm trọng thỉnh thoảng
xảy ra trong hệ gen (do đột biến) làm
chúng có khuynh hướng hoạt động
như tế bào ung thư. Tế bào gốc mang
nhiều sai hỏng từ phòng thí nghiệm là
những rào cản lớn khiến cho việc cấy
ghép tế bào gốc chưa thể thành một
công cụ thông dụng của các bác sĩ.
Ngược lại, các tế bào gốc nội sinh
được lưu giữ trong chính cơ thể nên
chúng được bảo vệ an toàn hơn. Đặc
biệt, lối sống của mỗi người có thể
giúp giảm thiểu những ảnh hưởng
của môi trường bên ngoài lên tế bào
gốc. Tế bào gốc nội sinh còn được
kiểm soát chặt chẽ bởi các tế bào
khác và môi trường cơ thể. Chính
những tương tác này sẽ định hướng
cho chúng biết chính xác việc gì cần
phải làm.
Những bài học từ liệu pháp gen
Lịch sử và kinh nghiệm từ những
thành công trong việc cấy ghép tủy
xương đã đem đến cho liệu pháp tế
bào gốc nhiều bài học quý giá. Tuy
vậy, trong lĩnh vực công nghệ sinh
học cũng có những bài học vô cùng
đau xót. Một ví dụ rất đáng sợ mà
chúng ta bắt buộc phải nhắc lại để
cảnh giác, đó là sự kiện xảy ra vào
đầu những năm 1990. Khi đó, liệu
pháp gen được coi là một phương
pháp y khoa quyền năng đã đi chệch
hướng một cách thảm khốc, ít nhất
chỉ vì sự phát triển quá nhanh. Sự
hấp tấp cùng với việc thiếu kiến thức,
khi mà liệu pháp gen là quá mới đã
làm cho một số bệnh nhân tử vong,
trong đó điển hình nhất là trường hợp
của Jesse Gelsinger. Sau khi nguyên
nhân tử vong được xác định là do liệu
pháp gen, một cơn bão truyền thông
đã nổi lên. Bài báo với tiêu đề “Chết
vì công nghệ sinh học, trường hợp
của Jesse Gelsinger” đăng trên New
York Times là một trong vô vàn bài
báo liên quan. Do dư luận phản ứng
quá dữ dội đã làm lĩnh vực này đóng
băng một thời gian dài sau đó mới từ
từ phục hồi.
Cũng như rất nhiều vấn đề trong
cuộc sống, không phải cứ có bệnh là
chúng ta ra nước ngoài để sử dụng
tế bào gốc. Câu chuyện này không
hề đơn giản: có nhiều rào cản khiến
cho việc điều trị bằng tế bào gốc một
cách an toàn và hiệu quả khó thành
hiện thực. Những tác dụng phụ và
nguy cơ nghiêm trọng từ liệu pháp
tế bào gốc đã được lưu ý. Việc nhận
định và hiểu đúng những thách thức
và rào cản đó là vô cùng quan trọng.
Việc lờ đi những rào cản chính là
nguyên nhân của những thảm họa.
Để trở thành một chuyên gia về tế
bào gốc thực thụ, chúng ta nên biết
cả những mặt mạnh và yếu của liệu
pháp này. Chúng ta cần xem xét mọi
yếu tố then chốt của tế bào gốc, cả
tốt lẫn xấu để thực hiện được mục
tiêu chính là hiệu quả và an toàn.
Có một điều rất quan trọng là, khi
cấy ghép tế bào gốc tự thân vẫn có
thể nảy sinh các vấn đề về miễn dịch.
Do đó, kể cả khi bệnh nhân được
ghép bằng chính tế bào của mình thì
cơ thể người này vẫn coi những tế
bào đó là ngoại lai và tiêu diệt chúng.
19
Diễn đàn khoa học và công nghệ
Số 3 năm 2020
Tại sao vậy? Đó chính là phản ứng tự
miễn. Vậy thì đừng bao giờ chủ quan
khi cấy ghép tự thân, đặc biệt là sốc
phản vệ có thể gây chết người. Bài
học này sẽ còn lưu truyền mãi mãi.
*
* *
Mặc dù tế bào gốc có nhiều triển
vọng trong ứng dụng y học và theo lý
thuyết là giải pháp mới trong tương
lai. Nhưng nhìn chung, chúng ta mới
chỉ loanh quanh ở giai đoạn khởi đầu
của cuộc cách mạng tế bào gốc. Dĩ
nhiên, liệu pháp này cũng gặp không
ít các vấn đề liên quan đến pháp lý.
Hơn nữa, mọi thứ đều có thể bị thổi
phồng và con người có thể bị lợi dụng
hoặc bị tổn thương về thể xác. Vậy
làm thế nào để vấn đề này đi đúng
hướng? Hoa Kỳ là nước tiên phong
đưa ra các luật định về tế bào gốc mà
cơ quan có thẩm quyền là FDA. Một
câu hỏi được đặt ra là, ở Việt Nam
chúng ta theo đạo luật nào? Tiếc
rằng câu hỏi này vẫn còn bỏ ngỏ.
Đó cũng là nguyên nhân của việc
các trung tâm chữa trị bằng tế bào
gốc đang phát triển một cách tự phát,
thiếu kiểm soát.
Ở đây nổi lên một vấn đề là vai trò
của nhà quản lý. Sự lơ là trong quản
lý sẽ gây ra những thảm họa khôn
lường. Nhưng nếu quá chặt chẽ, khắt
khe lại bóp chết một ngành khoa học
đầy tiềm năng mà chưa được khai
phá ?
tài LiỆu thaM Khảo
1. A.J. Becker, E.A. McCulloch, J.E.
Till (1963), “Cytological demonstration
of the clonal nature of spleen colonies
derived from transplanted mouse marrow
cells”, Nature, 197, pp.452-454, Doi:
10.1038/197452a0.
2. I.L. Weissman, J.A. Shizuru (2008),
“The origins of the identification and
isolation of hematopoietic stem cells,
and their capability to induce donor-
specific transplantation tolerance and
treat autoimmune diseases”, Blood, 112,
pp.3543-3553, Doi: 10.1182/
blood-2008-08-078220.
3. I. Bisson, E. Green, M. Sharpe,
C. Herbert, J. Hyllner, N. Mount (2015),
“Landscape of current and emerging cell
therapy clinical trials in the UK: current
status, comparison to global trends and
future perspectives”, Regen. Med., 10,
pp.169-179, Doi: 10.2217/rme.14.71.
4. S.L. Maude, et al. (2014), “Chimeric
antigen receptor T cells for sustained
remissions in leukemia”, N. Engl. J.
Med., 371, pp.1507-1517, Doi: 10.1056/
NEJMoa1407222.
5. M. Cavazzana-Calvo, et al. (2000),
“Gene therapy of human severe
combined immunodeficiency (SCID)-X1
disease”, Science, 288, pp.669-672, Doi:
10.1126/science.288.5466.669.
6. M. Brittberg, A. Lindahl, A. Nilsson,
C. Ohlsson, O. Isaksson, L. Peterson
(1994), “Treatment of deep cartilage
defects in the knee with autologous
chondrocyte transplantation”, N. Engl.
J. Med., 331, pp.889-895, Doi: 10.1056/
NEJM199410063311401.
7. H. Green, O. Kehinde, J. Thomas
(1979), “Growth of cultured human
epidermal cells into multiple epithelia
suitable for grafting”, Proc. Natl. Acad.
Sci. USA, 76, pp.5665-5668, Doi: 10.1073/
pnas.76.11.5665.
8. I.L. Weissman (2000), “Translating
stem and progenitor cell biology to the clinic:
barriers and opportunities”, Science, 287,
pp.1442-1446, Doi: 10.1126/
science.287.5457.1442.
9. J.C. Garbern, R.T. Lee (2013),
“Cardiac stem cell therapy and the
promise of heart regeneration”, Cell Stem
Cell, 12, pp.689-698, Doi: 10.1016/j.
stem.2013.05.008.
10. L. Stevanato, R.L. Corteling,
P. Stroemer, A. Hope, J. Heward, E.A.
Miljan, J.D. Sinden (2009), “c-MycERTAM
transgene silencing in a genetically modified
human neural stem cell line implanted into
MCAo rodent brain”, BMC Neurosci., 10,
Doi: 10.1186/1471-2202-10-86.
11. Paul Knoepfler (2013), Stem
Cells: An Insider’s Guide, World Scientific
Publishing Co. Pte. Ltd., 368pp, Doi:
10.1142/8821.
12. K. Pollock, et al. (2006), “A
conditionally immortal clonal stem cell line
from human cortical neuroepithelium for
the treatment of ischemic stroke”, Exp.
Neurol., 199, pp.143-155, Doi: 10.1016/j.
expneurol.2005.12.011.
13. N. Cartier, et al. (2009),
“Hematopoietic stem cell gene therapy
with a lentiviral vector in X-linked
adrenoleukodystrophy”, Science, 326,
pp.818-823, Doi: 10.1126/
science.1171242.
14. A. Abrate, et al. (2014),
“Mesenchymal stem cells expressing
therapeutic genes induce autochthonous
prostate tumour regression”, Eur. J.
Cancer, 50, pp.2478-2488, Doi: 10.1016/j.
ejca.2014.06.014.
15. K. Takahashi, S. Yamanaka
(2006), “Induction of pluripotent stem
cells from mouse embryonic and adult
fibroblast cultures by defined factors”,
Cell, 126, pp.663-676, Doi: 10.1016/j.
cell.2006.07.024.
16. K. Takahashi, K. Tanabe, M. Ohnuki,
M. Narita, T. Ichisaka, K. Tomoda, S.
Yamanaka (2007), “Induction of pluripotent
stem cells from adult human fibroblasts by
defined factors”, Cell, 131, pp.861-872,
Doi: 10.1016/j.cell.2007.11.019.
17. J. Yu, et al. (2007), “Induced
pluripotent stem cell lines derived from
human somatic cells”, Science, 318,
pp.1917-1920, Doi: 10.1126/
science.1151526.
18. M. Turner, et al. (2013), “Toward
the development of a global induced
pluripotent stem cell library”, Cell Stem
Cell, 13, pp.382-384, Doi: 10.1016/j.
stem.2013.08.003.
19. P.A. Gourraud, L. Gilson, M.
Girard, M. Peschanski (2012), “The role of
human leukocyte antigen matching in the
development of multiethnic ‘haplobank’ of
induced pluripotent stem cell lines”, Stem
Cells, 30, pp.180-186, Doi: 10.1002/
stem.772.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ung_dung_te_bao_goc_va_mot_so_van_de_lien_quan.pdf